Thứ ba 25/08/2026 15:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp nâng cao hiệu quả hướng dẫn điều tra vụ án hình sự của cơ quan cảnh sát điều tra các cấp

Bài viết làm rõ quy định pháp luật về hướng dẫn điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.

1. Quy định pháp luật về hướng dẫn điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp

Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, một nguyên tắc được quán triệt đối với hoạt động của các Cơ quan điều tra đó là: “Cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của Cơ quan điều tra cấp trên”. Theo quy định pháp luật hiện hành, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) được tổ chức ở ba cấp đó là cấp trung ương (Cơ quan CSĐT Bộ Công an), cấp tỉnh và cấp huyện. Như vậy, có thể hiểu, Cơ quan CSĐT cấp trên trong hệ thống Cơ quan CSĐT là Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh và Cơ quan CSĐT Bộ Công an. Vấn đề này được xác định cụ thể tại khoản 3 Điều 19 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan CSĐT Bộ Công an như sau: “Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ điều tra và kiểm tra việc chấp hành pháp luật, nghiệp vụ trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và công tác điều tra, xử lý tội phạm đối với các cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, Công an cấp huyện; hướng dẫn các cơ quan của lực lượng Cảnh sát nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện hoạt động điều tra”; khoản 3 Điều 20 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh như sau: “Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ điều tra và kiểm tra việc chấp hành pháp luật, nghiệp vụ trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và công tác điều tra, xử lý tội phạm đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện; hướng dẫn các cơ quan của lực lượng Cảnh sát nhân dân thuộc Công an cấp tỉnh được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện hoạt động điều tra”.

Hướng dẫn điều tra vụ án hình sự là công tác rất quan trọng, đồng thời là một nguyên tắc được quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015: “Cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Cơ quan điều tra cấp trên; cá nhân chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình”. Cụ thể:

- Đối với Văn phòng Cơ quan CSĐT: Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an có nhiệm vụ tham mưu, giúp Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Bộ Công an hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ điều tra và kiểm tra việc chấp hành pháp luật, nghiệp vụ trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và công tác điều tra, xử lý tội phạm đối với Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh, Công an cấp huyện; hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ điều tra đối với các cơ quan của lực lượng Cảnh sát nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh có nhiệm vụ tham mưu, giúp Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ điều tra và kiểm tra việc chấp hành pháp luật, nghiệp vụ trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và công tác điều tra, xử lý tội phạm đối với Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện; hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ điều tra đối với các cơ quan của lực lượng Cảnh sát nhân dân thuộc Công an tỉnh được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

- Đối với hệ (lực lượng) Cảnh sát hình sự: Cục Cảnh sát hình sự có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết các chuyên án, vụ án hình sự do Phòng Cảnh sát hình sự Công an cấp tỉnh xin ý kiến. Phòng Cảnh sát hình sự có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết các chuyên án, vụ án hình sự do Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện xin ý kiến.

- Đối với hệ Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường: Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết các chuyên án, vụ án hình sự do Phòng Cảnh sát kinh tế Công an cấp tỉnh xin ý kiến. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết các chuyên án, vụ án hình sự do Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện xin ý kiến.

- Đối với hệ Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy: Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết các chuyên án, vụ án hình sự do Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an cấp tỉnh xin ý kiến. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết các chuyên án, vụ án về ma túy do Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện xin ý kiến.

Như vậy, hoạt động hướng dẫn điều tra được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật. Qua nghiên cứu cho thấy, công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện đúng pháp luật, chống oan, sai, bỏ lọt tội phạm và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra; góp phần tạo sự thống nhất trong điều tra, truy tố, xét xử; bảo đảm cho công tác điều tra đúng tiến độ, nhanh chóng, kịp thời. Hơn nữa, công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự là một nguồn để qua đó phát hiện những bất cập về pháp luật, nghiệp vụ và kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung kịp thời; việc phát hiện kịp thời những tồn tại, thiếu sót trong công tác điều tra của các đơn vị điều tra, cơ quan điều tra để báo cáo Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Cơ quan điều tra cấp trên chỉ đạo chấn chỉnh, khắc phục.

2. Một số khó khăn, vướng mắc trong hướng dẫn điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc thu thập, đánh giá chứng cứ để đưa ra những kết luận về vụ án và phục vụ cho công tác điều tra tiếp theo không phải bao giờ cũng thuận lợi, thống nhất, kịp thời; đánh giá chưa đầy đủ, kịp thời dẫn đến sai lầm trong định hướng điều tra, giải quyết vụ án, bỏ lỡ cơ hội thu thập các chứng cứ quan trọng khác hay việc xác đinh tội danh xuất phát từ tính chất phức tạp của vụ án, khả năng nhận thức của điều tra viên ở giai đoạn điều tra ban đầu còn hạn chế, có những tình tiết được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) chưa được hướng dẫn cụ thể. Về trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, trong hoạt động điều tra vẫn phát sinh những vấn đề vướng mắc do có một số quy định còn chưa cụ thể, bất cập… dẫn đến tình trạng các cơ quan tiến hành tố tụng có nhận thức khác nhau, nhất là các vấn đề về thẩm quyền điều tra, tách nhập vụ án hình sự, các vụ án có yếu tố nước ngoài, về áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bảo đảm quyền bào chữa, về vật chứng vẫn chưa có sự thống nhất. Cụ thể:

Một là, cho tới thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một khái niệm pháp lý hay một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định thế nào là “hướng dẫn điều tra”, cũng như chưa có văn bản quy định, hướng dẫn về nhiệm vụ, vị trí, nội dung, cách thức, các trường hợp, quy trình thực hiện công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự. Do vậy, trong quá trình thực hiện chưa có sự thống nhất mà mỗi đơn vị, địa phương lại có cách làm, nội dung hướng dẫn, quy trình hướng dẫn điều tra khác nhau dẫn đến hiệu quả công tác chưa tương xứng với tình hình, chưa phản ánh hết những khó khăn, vướng mắc trong điều tra vụ án hình sự của các đơn vị.

Bên cạnh đó, còn thiếu công trình nghiên cứu khoa học, hội thảo, tổng kết thực tiễn về vấn đề này để bổ sung lý luận về công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự. Thực tế cho thấy, công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức, chưa có các công trình nghiên cứu sâu, rộng về cơ sở lý luận về công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự, chưa có nhiều bài viết được đăng tải trên các tạp chí khoa học, tạp chí pháp luật về nội dung và vai trò của công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự.

Hai là, chưa có quy định về thời hạn, trách nhiệm của các bên có liên quan có ý kiến trả lời hoặc thực hiện hướng dẫn trong một số trường hợp cụ thể như: Sau khi nhận được văn bản thỉnh thị ý kiến của cơ quan điều tra cấp dưới thì trong thời hạn bao lâu, cơ quan điều tra cấp trên phải có ý kiến trả lời; khi cơ quan điều tra cấp trên hướng dẫn mà cơ quan điều tra cấp dưới không thực hiện theo hướng dẫn đó thì sẽ xử lý như thế nào. Ngược lại, cơ quan điều tra cấp dưới thực hiện theo hướng dẫn nhưng hoạt động điều tra vẫn không hiệu quả, hay vụ án kéo dài, bế tắc, thậm chí dẫn đến oan, sai thì xử lý ra sao, cá nhân, cơ quan nào phải chịu trách nhiệm?... Vì vậy, trong nhiều trường hợp, thời gian hướng dẫn còn kéo dài, nội dung hiệu quả hướng dẫn chưa cao.

Ba là, một số điều tra viên, thậm chí là cán bộ lãnh đạo nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác hướng dẫn điều tra. Bên cạnh đó, trình độ chuyên môn của một số điều tra viên của cơ quan điều tra cấp trên còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đề ra; hình thức và biện pháp hướng dẫn vẫn chưa thực sự đa dạng dẫn đến công tác hướng dẫn gặp khó khăn, vướng mắc, trong đó, chưa chú trọng đến vấn đề kiểm tra, đôn đốc của lãnh đạo đơn vị thực hiện công tác hướng dẫn, đa phần là sau khi đã chỉ đạo trực tiếp và phân công cho điều tra viên hoặc cán bộ điều tra phụ trách hướng dẫn về vụ án đó, vì khối lượng công việc nhiều, lớn nên không có nhiều thời gian để theo dõi xuyên suốt công tác hướng dẫn trên. Mặt khác, phương tiện kỹ thuật cần thiết cho công tác hướng dẫn để đánh giá chính xác, đầy đủ và toàn diện thông tin, tài liệu, chứng cứ trong vụ án vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được tình hình thực tế hiện nay.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp

Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc và nâng cao hiệu quả công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện hiệu quả một số giải pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết hơn về trình tự, thủ tục, thời hạn, quy trình tiến hành hướng dẫn điều tra để có cơ sở pháp lý thực hiện công tác này. Trước hết, cần rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để sửa đổi, bổ sung những vấn đề còn bất cập nêu trên. Tiếp theo, căn cứ vào quy định của pháp luật và tình hình thực tế, Cơ quan CSĐT Bộ Công an cần ban hành quy trình thực hiện công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự, trong đó, quy định rõ các bước tiến hành hướng dẫn, đồng thời, quy định rõ thời hạn và trách nhiệm của các bên có liên quan trong công tác này.

Thứ hai, thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, nhận thức về mọi mặt của cán bộ, lãnh đạo cơ quan CSĐT các cấp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, điều tra viên trực tiếp làm công tác hướng dẫn điều tra, qua đó nâng cao hiệu quả công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự.

Thứ ba, chú trọng công tác sơ kết, tổng kết, thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo khoa học, thực hiện những công trình nghiên cứu khoa học để đúc kết kinh nghiệm và hoàn thiện lý luận công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự. Công tác sơ kết, tổng kết cần được chú trọng thực hiện tại nhiều cấp, nhiều địa phương, có thể tiến hành định kỳ hoặc đột xuất theo các chủ đề, các loại tội phạm. Đồng thời, cần tổ chức các buổi hội thảo khoa học để trao đổi, thảo luận về hướng dẫn điều tra vụ án hình sự, trong đó, chú trọng đến những quan điểm của cá nhân cán bộ làm công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự, qua đó, có thể đánh giá, nhìn nhận một cách khách quan, thực tế về vai trò của công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự; thành phần tham gia hội thảo cần mở rộng đối với cả cơ quan điều tra cấp huyện để nâng cao nhận thức, tầm quan trọng của công tác này. Từ đó, đưa ra những vấn đề có tính lý luận chung về công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự, quán triệt được vai trò và tính hiệu quả của công tác hướng dẫn trên thực tế đến cán bộ làm công tác hướng dẫn, đồng thời đề xuất những giải pháp thực tế nhằm nâng cao hiệu quả công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự.

Thứ tư, đối với đơn vị đề nghị hướng dẫn điều tra vụ án hình sự, cần thực hiện tốt các quy định của pháp luật đối với công tác điều tra vụ án hình sự, tiến hành một cách nhanh chóng, có hiệu quả các hoạt động điều tra, chứng minh làm rõ vụ án; thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ trong điều tra vụ án hình sự, chủ động khắc phục các khó khăn, vướng mắc, tránh tư tưởng bị động, đùn đẩy các khó khăn, vướng mắc cho liên ngành tố tụng cùng cấp hoặc liên ngành tố tụng cấp trên. Đối với đơn vị hướng dẫn điều tra vụ án hình sự, sau khi tiếp nhận đề nghị hướng dẫn điều tra vụ án hình sự, cần nhanh chóng phân công cán bộ thụ lý có chuyên môn, năng lực phù hợp, kịp thời trao đổi thông tin với cán bộ thụ lý điều tra vụ án hình sự. Khi nghiên cứu hồ sơ, cần thể hiện tinh thần trách nhiệm, tránh việc gây khó khăn, phiền hà cho đơn vị thụ lý hồ sơ, nhanh chóng đề ra các quan điểm và tiến hành các hoạt động hướng dẫn nhằm bảo đảm thời hạn điều tra vụ án hình sự. Khi có những vấn đề phát sinh liên quan đến công tác hướng dẫn, cần nhanh chóng trao đổi với đơn vị thụ lý hồ sơ nhằm nắm thông tin và thống nhất phương hướng xử lý. Đối với các đơn vị chức năng khác có liên quan, cần thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp trong công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự, nhanh chóng thực hiện các chức năng, nhiệm vụ ngay khi có yêu cầu, đề nghị phối hợp trong công tác hướng dẫn điều tra vụ án hình sự.

Thượng tá, TS. Ngô Phan Nhân

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 397), tháng 1/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: