Thứ bảy 07/03/2026 11:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp thúc đẩy xã hội hóa hoạt động công chứng trong giai đoạn hiện nay

Trong bài viết này, tác giả phân tích những vấn đề tồn tại, hạn chế trong hoạt động công chứng ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa hoạt động công chứng. Từ đó, tác giả cũng đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế và thúc đẩy xã hội hóa hoạt động công chứng trong giai đoạn hiện nay.

1. Thực trạng xã hội hóa hoạt động công chứng hiện nay

1.1. Việc phân bố các tổ chức hành nghề công chứng chưa khoa học

Trước khi chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng được luật hóa, tại Việt Nam chỉ tồn tại một hình thức tổ chức hành nghề công chứng là phòng công chứng. Thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng theo Luật Công chứng năm 2006, chúng ta có hình thức tổ chức hành nghề công chứng thứ hai là văn phòng công chứng. Kể từ thời điểm Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực cho đến nay, văn phòng công chứng được phát triển mạnh mẽ và đã trở thành hình thức tổ chức hành nghề công chứng chủ yếu. Ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều đã có văn phòng công chứng được thành lập nhằm đáp ứng giải quyết kịp thời nhu cầu công chứng của công dân, doanh nghiệp… Tuy nhiên, thực tế đang tồn tại, đó là việc phân bố các tổ chức hành nghề công chứng chưa khoa học ở nhiều địa phương, có thể kể tới như, khoảng cách đặt trụ sở giữa các tổ chức hành nghề công chứng rất ngắn, tập trung ở trung tâm[1]. Có những nơi, trong bán kính 01 km hoặc cùng một con đường nhưng đã có tới nhiều tổ chức hành nghề công chứng. Đơn cử như tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa, trên đường Hoàng Hoa Thám có tới 03 tổ chức hành nghề công chứng gồm: Văn phòng công chứng Hoàng Long, Phòng Công chứng số 1 và Văn phòng công chứng Hoàng Huệ - Phạm Tuấn; hoặc tại thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh (Chợ Thành), đã có tới 05 văn phòng công chứng gồm: Văn phòng công chứng Anh Khoa, Văn phòng công chứng Đỗ Hữu Trí, Văn phòng công chứng Phạm Văn Thông, Văn phòng công chứng Bùi Văn Phòng và Văn phòng công chứng Đào Thị Thanh Trang.

Việc văn phòng công chứng tập trung ở một chỗ, tập trung tại trung tâm dẫn đến những xã, huyện vùng sâu, vùng xa hầu như không có tổ chức hành nghề công chứng và người dân ở những xã, huyện vùng sâu, vùng xa khó tiếp cận tới dịch vụ công chứng. Hơn nữa, vị trí đặt gần nhau sẽ dẫn tới việc cạnh tranh không lành mạnh, có thể phát sinh những vi phạm pháp luật như “cắt” phần trăm cho ngân hàng, cho môi giới...

1.2. Việc quy định điều kiện thành lập văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên trở lên làm hạn chế quá trình xã hội hóa

Theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật Công chứng năm 2014: “Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh. Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên. Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn”.

Theo đó, văn phòng công chứng phải có ít nhất hai công chứng viên tham gia thành lập, theo mô hình công ty hợp danh. Quy định này dẫn đến những bất cập trong triển khai như:

Thứ nhất, các công chứng viên không lựa chọn vùng sâu, vùng xa, những địa bàn có sự giao thương, kinh tế không phát triển để thành lập văn phòng công chứng bởi lượng việc ít dẫn đến thu nhập ít không đủ để chi trả cho hai công chứng viên.

Thứ hai, theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Công chứng năm 2014, công chứng viên là người chịu trách nhiệm trước pháp luật và người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng; Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 quy định về trách nhiệm bồi hoàn của công chứng viên, như vậy, công chứng viên là người chịu trách nhiệm về bản công chứng. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, để được hành nghề lại phải hợp danh là không phù hợp, thể hiện ở những luận điểm sau: (i) Mỗi công chứng viên đã đủ điều kiện cung cấp dịch vụ công chứng theo quy định của pháp luật thì được hành nghề mà không cần bất kỳ ý kiến, trách nhiệm và sự ràng buộc nào bởi một công chứng viên khác; (ii) Việc quy định bắt buộc phải hợp danh để được hành nghề là mâu thuẫn với quy định của pháp luật nói trên; (iii) Việc bắt buộc phải hợp danh, thì công chứng viên mới được cung cấp dịch vụ công chứng là đang hạn chế quyền hành nghề công chứng của công chứng viên.

Thứ ba, quy định này đã dẫn đến một thực trạng vi phạm pháp luật đang nổi cộm trong thực tế hoạt động công chứng đó là việc công chứng viên cho thuê, “mượn” quyết định bổ nhiệm để thành lập văn phòng công chứng[2]. Vì vậy, để thu hút nguồn nhân lực công chứng viên tham gia thành lập và cung cấp dịch vụ công chứng nên công nhận, cho phép thành lập văn phòng công chứng hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân, do một công chứng viên thành lập, từ đó, có thể loại bỏ tình trạng cho thuê, “mượn” bằng, quyết định bổ nhiệm công chứng viên đang diễn ra phức tạp hiện nay.

Thứ tư, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, các nước theo mô hình công chứng nội dung đều cho phép một công chứng viên được thành lập và hạn chế việc hợp danh. Điển hình tại Cộng hòa Pháp thì “Công chứng viên là người hành nghề tự do, hoạt động bằng nguồn kinh phí tự chủ, thiết lập với khách hàng những quan hệ riêng và bảo đảm hoạt động của phòng công chứng có hiệu quả và sự đa dạng hóa hoạt động của mình. Theo quy chế hành nghề tự do, công chứng viên thực sự là chủ một doanh nghiệp, thu nhập của họ là tiền thù lao từ khách hàng; họ tổ chức văn phòng theo cách riêng của mình, tuyển dụng nhân viên, thuê trụ sở, lưu trữ tài liệu, sắp đặt trang thiết bị và tổ chức điều hành văn phòng theo cách riêng”[3]. Như vậy, theo mô hình công chứng tại Pháp, công chứng viên hành nghề tự do có thể một mình cung cấp dịch vụ công chứng mà không bắt buộc phải hợp danh với bất kỳ công chứng viên nào khác.

1.3. Về việc chuyển đổi từ phòng công chứng sang văn phòng công chứng

Hiện tại, chỉ số ít các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc chuyển đổi từ phòng công chứng sang văn phòng công chứng như thành phố Cần Thơ, thành phố Hải Phòng, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Lâm Đồng… Việc chưa/chậm chuyển đổi này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có rào cản tâm lý của công chứng viên tại phòng công chứng; hạn chế từ quy định của Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng như: Chưa có quy định về thời hạn chuyển đổi, giá chuyển đổi quy định không rõ ràng, cụ thể và mang tính định tính; nhiều tỉnh/thành phố chưa phát triển các tổ chức hành nghề công chứng nên việc giải thể phòng công chứng sẽ là không phù hợp với tình hình thực tiễn… Thêm vào đó, khi thực hiện việc chuyển đổi, nhiều công chứng viên, nhân viên lao động tại phòng công chứng sẽ có nguyện vọng chuyển công tác về Sở Tư pháp hoặc các cơ quan nhà nước, nếu như được bố trí. Tuy nhiên, việc phân bổ nguồn lực này không dễ dàng giải quyết, do sự hạn chế về biên chế lao động hàng năm tại địa phương hoặc Sở Tư pháp[4].

Vì vậy, cơ quan nhà nước cần ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm khắc phục những vấn đề này, thúc đẩy quá trình chuyển đổi được diễn ra một cách nhanh chóng, kịp thời.

1.4. Công tác quản lý nhà nước đối với việc xã hội hóa hoạt động công chứng

Những vấn đề thực tiễn đã và đang diễn ra dưới đây, cần sự chung tay, góp sức từ công tác quản lý của Nhà nước, cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với việc hợp danh để thành lập văn phòng công chứng, cần đặt ra vấn đề đó là: Kiểm tra và xác minh một cách chặt chẽ, kỹ lưỡng đối với việc công chứng viên tổ chức thành lập văn phòng công chứng, ví dụ như: Tại sao công chứng viên luân chuyển công tác từ văn phòng công chứng này sang văn phòng công chứng khác trong một khoảng thời gian ngắn nhất định, “nay làm văn phòng này, mai làm văn phòng khác”. Đồng thời, người điều hành hoạt động công chứng không phải là trưởng văn phòng công chứng hay công chứng viên hợp danh mà là một cá nhân khác.

Thứ hai, đối với việc hành nghề công chứng của công chứng viên, cần lý giải được tại sao công chứng viên hành nghề công chứng mà mỗi tháng, mỗi năm chỉ công chứng được một vài hợp đồng, giao dịch. Phải chăng, việc công chứng này đang “lách luật” để thỏa mãn điều kiện không được miễn nhiệm công chứng viên do không hành nghề liên tục từ 12 tháng trở lên (Điều 15 Luật Công chứng năm 2014).

2. Giải pháp thúc đẩy xã hội hóa hoạt động công chứng

2.1. Bố trí và sắp xếp các tổ chức hành nghề công chứng một cách khoa học; khuyến khích thành lập văn phòng công chứng tại các vùng sâu, vùng xa

Trong quá trình cấp phép thành lập văn phòng công chứng, các cơ quan có thẩm quyền cần lưu ý về cách phân bố, sắp xếp khoảng cách giữa các tổ chức hành nghề công chứng trong cùng một đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện hoặc cấp tỉnh, sao cho bảo đảm ít nhất mỗi quận/huyện có ít nhất 01 tổ chức hành nghề công chứng, khoảng cách về vị trí địa lý giữa các tổ chức hành nghề công chứng phải hợp lý, tránh tập trung, co cụm tại một nơi, một con đường, đặc biệt là tập trung tại quận/huyện hoặc xã/phường trung tâm các thành phố lớn. Tại các vùng sâu, vùng xa, ít đơn vị hành chính, dân cư thưa thớt, hoạt động kinh doanh bất động sản diễn ra không nhiều và nhu cầu sử dụng dịch vụ công chứng gặp nhiều khó khăn do cách trở về địa lý, đi lại, kinh tế khó khăn và trình độ dân trí thấp. Tất cả những nguyên nhân này ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu nhập từ việc công chứng của văn phòng công chứng nên tại hầu hết các địa phương này, công chứng viên thường không đưa ra lựa chọn thành lập và tổ chức hoạt động công chứng, ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng dịch vụ công chứng của người dân. Vì vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có nhiều cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện và hỗ trợ cho việc thành lập và hoạt động của văn phòng công chứng ở những nơi này như: (i) Cho phép một công chứng viên có thể thành lập văn phòng công chứng. Việc này giúp giảm tải gánh nặng tài chính cho văn phòng công chứng, thay vì phải chi trả nhiều tiền để đầu tư cho từ hai công chứng viên trở lên như quy định của pháp luật và như các tiêu chí xét duyệt thành lập văn phòng công chứng. (ii) Tạo các chính sách ưu đãi về thuế (giảm, miễn, nợ…) cho văn phòng công chứng tổ chức hoạt động tại các địa phương vùng sâu, vùng xa, kinh tế chưa phát triển. (iii) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến với người dân vùng sâu, vùng xa để họ ý thức và thượng tôn pháp luật, đặc biệt là pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng, giúp họ sử dụng dịch vụ công chứng một cách tốt nhất và hiệu quả.

2.2. Hoàn thiện thể chế về hoạt động công chứng để thúc đẩy xã hội hóa hoạt động công chứng

Đối với việc tổ chức và hoạt động của văn phòng công chứng, tác giả kiến nghị nên sửa khoản 1 Điều 22 Luật Công chứng năm 2014 theo hướng: “Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan về loại hình doanh nghiệp. Văn phòng công chứng có thể thành lập và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh hoặc loại hình doanh nghiệp khác phù hợp quy định của pháp luật”[5].

Đối với việc chuyển đổi từ phòng công chứng sang văn phòng công chứng, cần ban hành các chủ trương, chính sách về việc chuyển đổi từ phòng công chứng sang văn phòng công chứng gắn liền với những nội dung sau:

- Có nhiều chính sách pháp luật tốt cho công chứng viên nhận chuyển nhượng như: Công nhận các chế độ đãi ngộ về lương, hưu trí (những trường hợp gần tuổi hưu trí), thừa nhận công sức đóng góp của công chứng viên đối với uy tín, thương hiệu của phòng công chứng, giá cả ưu đãi đối với quyền nhận chuyển nhượng…

- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về việc chuyển đổi một cách rõ ràng, cụ thể như: Thời hạn chuyển đổi, hình thức chuyển đổi, giá quyền nhận chuyển đổi… để thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển đổi từ phòng công chứng sang văn phòng công chứng.

- Cần có chủ trương và dự liệu trước nhiều biên chế đối với công chứng viên và nhân viên lao động có nguyện vọng luân chuyển công tác tại các địa phương hoặc Sở Tư pháp.

2.3. Nâng cao vai trò của cơ quan quản lý các hoạt động về việc đăng ký thành lập, hoạt động, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng

Thường xuyên tổ chức kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động công chứng hàng năm, đặc biệt, cần xử lý nghiêm khắc những trường hợp công chứng viên vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức hành nghề công chứng như vi phạm pháp luật về trình tự, thủ tục công chứng các hợp đồng, giao dịch; vi phạm quy tắc đạo đức hành nghề công chứng như: Sự cạnh tranh không lành mạnh (trích phần trăm hoa hồng - phí công chứng cho người yêu cầu công chứng, nói xấu, gièm pha lẫn nhau làm suy giảm, xóa mòn uy tín, độ tin cậy của người dân vào công chứng viên…); đặc biệt, phải đưa ra phương án kiểm tra, điều tra, xác minh và có biện pháp xử lý, chế tài nghiêm khắc về việc góp vốn đầu tư thành lập văn phòng công chứng với tư cách là chủ đầu tư, đứng phía sau “giựt dây”, điều khiển công chứng viên, làm cho các công chứng viên hành nghề một cách không vô tư, khách quan.

Đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ hàng năm cho các công chứng viên để nâng cao kiến thức, nghiệp vụ và kinh nghiệm của công chứng viên trong quá trình hành nghề phải mang tính hướng dẫn, chứ không phải trao đổi kinh nghiệm, vụ việc, hồ sơ công chứng. Việc bồi dưỡng này, không nên chỉ qua loa, đại khái, tổ chức để chỉ gọi là “cho có lệ”. Việc công chứng viên không tham gia bồi dưỡng hoặc tham gia bồi dưỡng không đầy đủ còn diễn ra nhiều, không tổ chức viết bài thu hoạch hay kiểm tra sau khi kết thúc việc bồi dưỡng, điều này làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của việc bồi dưỡng công chứng viên hàng năm. Quan điểm cá nhân của tác giả, nên tổ chức kiểm tra hoặc làm bài thu hoạch và đánh giá sau khi có kết quả đợt bồi dưỡng đó, nhằm có sự đánh giá, phê bình hoặc khen thưởng cho những công chứng viên có chuyên môn, nghiệp vụ tốt và ngược lại.

Ngô Ngọc Trình

Công chứng viên Văn phòng công chứng Hoàng Long, tỉnh Khánh Hòa

[1]. Nguyễn Thảo, “Xã hội hóa hoạt động công chứng: Những kết quả đạt được và một số vướng mắc, tồn tại”, nguồn: https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201309/xa-hoi-hoa-hoat-dong-cong-chung-nhung-ket-qua-dat-duoc-va-mot-so-vuong-mac-ton-tai-292439/, truy cập ngày 24/12/2013.

[2]. Mỹ Phượng, “Số lượng công chứng viên được bổ nhiệm thấp dẫn đến tình trạng thuê bằng”, nguồn: https://quochoi.vn/uybanphapluat/giamsat/Pages/giam-sat.aspx?ItemID=425, truy cập ngày 12/12/2023.

[3]. Tài liệu tại buổi Hội thảo “Kinh nghiệm xã hội hóa công chứng ở một số nước”, Hà Nội, tháng 12/2005.

[4]. Thanh Hà, “Chuyển đổi phòng công chứng thành văn phòng công chứng theo Luật Công chứng năm 2014 và Nghị định số 29/2015/NĐ-CP - Những vấn đề thực tiễn”, nguồn: https://stp.thuathienhue.gov.vn/?gd=12&cn=82&tc=2796, truy cập ngày 15/10/2023.

[5]. Đặng Văn Dinh (2023), “Thành lập Văn phòng công chứng - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật”, nguồn: https://tapchitoaan.vn/thanh-lap-van-phong-cong-chung-thuc-trang-va-giai-phap-hoan-thien-quy-dinh-cua-phap-luat9304.html, truy cập ngày 19/12/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 399), tháng 2/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: