Thứ bảy 14/03/2026 22:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án - Một số vấn đề từ thực tiễn

Trường hợp có giao dịch về tài sản kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng đã hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì chấp hành viên không kê biên tài sản mà thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự và có văn bản thông báo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để phối hợp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.


1. Về việc xử lý khi phát sinh tranh chấp liên quan đến tài sản thi hành án

Về vấn đề này, trong thực tiễn áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) còn tồn tại một số bất cập, vướng mắc như sau:

Một là, về trách nhiệm thông báo quyền khởi kiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết của chấp hành viên

Theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự thì chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền khởi kiện khi thỏa mãn hai điều kiện: (i) Tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế; (ii) Có người khác tranh chấp. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định này vẫn còn có một số vướng mắc như:

- Việc thực hiện thông báo cho đương sự, người có tranh chấp hiện nay quy định còn chung chung, chưa cụ thể khi nào tranh chấp thì phải thông báo, giai đoạn trước khi kê biên, trong khi kê biên hay sau khi kê biên? Do đó, cần phải có thời hạn rõ ràng để tránh việc đương sự lợi dụng quy định của pháp luật, gây kéo dài thời gian tổ chức thi hành án.

- Nếu sau khi đã hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định. Tuy nhiên, trong quá trình chấp hành viên xử lý tài sản thì những người được thông báo trước đây lại khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, thì trong trường hợp này, chấp hành viên có phải dừng việc thi hành án để chờ kết quả giải quyết tranh chấp của cơ quan có thẩm quyền hay không? Hiện nay vẫn chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Do vậy, đa số cơ quan thi hành án đều phải dừng việc thi hành án, gây ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả của công tác thi hành án dân sự. Chúng tôi cho rằng, việc hiểu và áp dụng pháp luật như vậy là chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự về cách tính thời hạn và thời hiệu (khoản 1 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định).

Về nội hàm của khái niệm “tranh chấp” tại Điều 75 Luật Thi hành án dân sự, điều luật chỉ quy định chung là “trường hợp tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế để thi hành án mà có người khác tranh chấp”, nhưng không xác định cụ thể loại tranh chấp và nội dung tranh chấp là gì, dẫn đến còn có nhiều quan điểm và cách hiểu chưa thống nhất. Có quan điểm cho rằng, chỉ cần có tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế của người phải thi hành thì chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền khởi kiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Theo quan điểm khác, tranh chấp đó phải liên quan đến quyền sở hữu tài sản bị kê biên thì mới thông báo cho các bên quyền khởi kiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Do đó, cần có quy định hướng dẫn rõ những tranh chấp về nội dung gì đối với tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế thì mới được áp dụng thời hạn thực hiện quyền khởi kiện, hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định này. Có thể nói, hầu hết các tranh chấp dân sự liên quan đến tài sản đều được Tòa án thụ lý giải quyết và việc khởi kiện hay không là quyền của đương sự. Tuy nhiên, đối với tranh chấp về tài sản bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự thì cần phải có giới hạn về nội dung tranh chấp, nhằm hạn chế việc đương sự lợi dụng quyền khởi kiện này. Mặt khác, cũng cần quy định các điều kiện nhất định để chứng minh cho việc tranh chấp là có cơ sở để chấp nhận. Ví dụ như đương sự cần cung cấp các tài liệu gì để chứng minh là có tranh chấp, tính pháp lý của các tài liệu đó... để chấp hành viên xem xét, quyết định.

Hai là, về thời hạn để chấp hành viên xử lý tài sản

Cần có quy định hướng dẫn cụ thể về việc tranh chấp xảy ra ở giai đoạn nào trong quá trình tổ chức thi hành án thì được áp dụng quy định trên, nhằm hạn chế tối đa việc đương sự lợi dụng quyền khởi kiện tranh chấp tài sản để kéo dài thời gian tổ chức thi hành án. Theo quy định thì “trường hợp tài sản của người phải thi hành án “bị cưỡng chế” để thi hành án mà có người khác tranh chấp”, như vậy, rõ ràng đây là giai đoạn đã có đủ căn cứ pháp luật để xác định tài sản này là tài sản của người phải thi hành án nên đã bị chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế (ví dụ như đã ra quyết định kê biên). Vậy thì, khi tranh chấp xảy ra trước thời điểm có quyết định cưỡng chế của chấp hành viên thì giải quyết như thế nào? Trong thực tiễn, khi có người tranh chấp đối với tài sản đang xử lý để thi hành án trước thời điểm có quyết định cưỡng chế thì chấp hành viên có thể chia làm hai trường hợp để giải quyết:

- Trường hợp thứ nhất là tài sản đang xử lý chưa có căn cứ rõ ràng để xác định đó là tài sản thuộc sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, thì chấp hành viên hướng dẫn cho họ khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng không áp dụng cách tính thời hạn thực hiện quyền yêu cầu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự và chấp hành viên cũng chưa ra quyết định cưỡng chế xử lý tài sản vì chưa có đủ cơ sở pháp lý của tài sản.

- Trường hợp thứ hai là tài sản đang xử lý đã có đủ căn cứ pháp lý để xác định đó là tài sản thuộc sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, thì chấp hành viên vẫn tiến hành ra quyết định cưỡng chế theo quy định, đồng thời, thông báo cho đương sự và người có tranh chấp biết để thực hiện quyền khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự. Đối với trường hợp này thì cần phải xác định rõ trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Như vậy, khi đã hết thời hạn trên mà không có ai khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì coi như họ đã từ bỏ quyền lợi của mình liên quan đến tài sản (nếu có). Sau đó, cho dù họ có khởi kiện tại Tòa án hay đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì cũng không phải là căn cứ để hoãn thi hành án theo điểm d khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự.

Ba là, vấn đề hoãn thi hành án khi tài sản có tranh chấp

Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự, một trong những trường hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án đó là tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự thuộc trường hợp xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án và Điều 75 Luật Thi hành án dân sự thuộc trường hợp giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án. Do đó, việc xác định nội dung tranh chấp mà Tòa án thụ lý có thuộc trường hợp tranh chấp theo quy định tại Điều 75 Luật Thi hành án dân sự hay không là rất quan trọng, cần có quy định hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

Trước đây, để hướng dẫn vấn đề nội dung tranh chấp này tại Điều 48, Điều 75 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có được hiểu là tranh chấp về quyền sở hữu hay không, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 4967/BTP-TCTHADS ngày 03/12/2014 hướng dẫn như sau: Về nguyên tắc, theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, trước khi kê biên tài sản, chấp hành viên có trách nhiệm xác minh, làm rõ và chỉ kê biên tài sản để đảm bảo việc thi hành án khi có căn cứ xác định tài sản sẽ kê biên là của người phải thi hành án, vì vậy, “tranh chấp” ở đây được hiểu là tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu tài sản (quyền chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt theo quy định của Bộ luật Dân sự), các tranh chấp không liên quan đến quyền sở hữu tài sản thì không có căn cứ để hoãn thi hành án.

Hướng dẫn như trên là hoàn toàn hợp lý, nhằm hạn chế tối đa việc đương sự cố tình tạo ra các tranh chấp giả tạo để kéo dài, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Tuy nhiên, hiện nay, Điều 48 và Điều 75 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014. Do vậy, đa số quan điểm cho rằng, cần có một văn bản hướng dẫn mới về việc thực hiện khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự theo hướng thu hẹp nội dung tranh chấp như tinh thần của văn bản hướng dẫn nêu trên. Mặt khác, nên chăng cần xem xét đưa nội dung này vào trong một văn bản pháp lý cao hơn để thuận lợi hơn trong việc áp dụng pháp luật.

Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể tranh chấp ở giai đoạn nào thì hoãn thi hành án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự. Bởi vì, việc không khống chế thời điểm được khởi kiện dẫn đến rất nhiều hệ lụy khác nhau, phần nào gây khó khăn cho quá trình tổ chức thi hành án. Đa số quan điểm cho rằng, nếu hết giai đoạn được hưởng quyền khởi kiện (30 ngày kể từ ngày được thông báo mà đương sự không khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết) thì không được hoãn thi hành án cho dù có tranh chấp được tòa án thụ lý.

2. Yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án

Về vấn đề này, thực tiễn triển khai quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự còn có một số tồn tại như sau:

Thứ nhất, khi nào thì được cho là “có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án?

Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào hướng dẫn trường hợp nào là có căn cứ cho rằng giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án nên sẽ gây khó khăn cho chấp hành viên khi áp dụng quy định này trên thực tế.

Theo quy định tại mục 1 khoản 11 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự[1] thì:

“Trường hợp tài sản đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà phát sinh các giao dịch liên quan đến tài sản đó thì tài sản đó bị kê biên, xử lý để thi hành án. Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đối với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối với tài sản đó.

Trường hợp có giao dịch về tài sản mà người phải thi hành án không sử dụng toàn bộ khoản tiền thu được từ giao dịch đó để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc có tài sản khác nhưng không đủ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án thì xử lý như sau:

a) Trường hợp có giao dịch về tài sản nhưng chưa hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản theo quy định. Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì chấp hành viên thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp cần tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.

Trường hợp có giao dịch về tài sản kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng đã hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì chấp hành viên không kê biên tài sản mà thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự và có văn bản thông báo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để phối hợp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.

Việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền…”[2].

Về việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, Công văn số 1103/TCTHADS-NV1 ngày 30/3/2017 của Tổng cục Thi hành án dân sự về việc hướng dẫn một số vấn đề nghiệp vụ thi hành án dân sự trong đó có hướng dẫn thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để thực hiện việc kê biên đảm bảo việc thi hành án như sau:

“Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 đã có những thay đổi về xác định thời điểm chuyển giao quyền sử dụng đất, nên cần phân biệt hai thời điểm cụ thể như sau:

- Thời điểm trước khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực (trước ngày 01/7/2014): Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003 và điểm c tiết 2.13 Mục 2 Phần III Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính thì thời điểm chuyển giao quyền sử dụng đất được xác định tại thời điểm có hiệu lực của các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất (hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất) được thực hiện trước ngày 01/7/2014 là thời điểm thực hiện đăng ký biến động tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất được xác định theo thời điểm (giờ, phút, ngày, tháng, năm) tiếp nhận hồ sơ hợp lệ.

- Thời điểm Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực (từ ngày 01/7/2014 đến nay).

Theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 thì thời điểm thực hiện đăng ký biến động tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất được xác định kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính, cụ thể là: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”.

Như vậy, tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan THADS phải căn cứ quy định của pháp luật tại hai thời điểm trước, sau ngày 01/7/2014 để xác định thời điểm chuyển giao quyền sử dụng đất để làm căn cứ tổ chức thi hành án”.

Theo đó, khi xử lý tài sản là quyền sử dụng đất của người phải thi hành án đã chuyển nhượng cho người khác, chấp hành viên phải căn cứ vào thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để xử lý chứ không phải thời điểm ký hợp đồng.

Tuy nhiên, đối với quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự, vẫn cần có quy định hướng dẫn cụ thể về những trường hợp “có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án” để thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật.

Thứ hai, về việc khởi kiện của chấp hành viên, ngoài quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự về quyền khởi kiện của chấp hành viên, thì tại khoản 5 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về đương sự trong vụ việc dân sự là: “Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là người yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”. Tại khoản 1 Điều 362 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định: “Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền quy định tại Mục 2 Chương III của Bộ luật này. Trường hợp chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì có quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”.

Như vậy, có thể thấy, hiện nay, việc khởi kiện, yêu cầu giải quyết đối với tài sản thi hành án của đương sự và chấp hành viên đã được pháp luật về thi hành án dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định khá rõ ràng. Tuy nhiên, đa số quan điểm cho rằng, quy định “hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó” là chưa thực sự hợp lý, bởi vì:

- Việc yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch bị tranh chấp về bản chất là để đảm bảo quyền lợi cho người được thi hành án, do đó, người được thi hành án phải có trách nhiệm thực hiện việc yêu cầu khởi kiện này.

- Chấp hành viên là công chức, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức thi hành bản án, quyết định và các công việc phụ trợ khác nhằm mục đích tổ chức thi hành án (như tổ chức bán đấu giá tài sản, tư vấn cho đương sự để họ thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ thi hành án...). Việc thực hiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch bị tranh chấp theo thủ tục tố tụng dân sự có thể dẫn đến nhiều hệ lụy khác phát sinh liên quan như: Tư cách tham gia tố tụng; trách nhiệm có liên quan trong trường hợp bản án, quyết định giải quyết tiếp theo ở các giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; thời gian tham gia tố tụng…

Mặt khác, quy định ấn định “sau 15 ngày mà người được thi hành án không yêu cầu thì chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó” đã biến việc yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu trở thành nghĩa vụ của chấp hành viên; trong một số trường hợp có thể sẽ tạo ra tâm lý ỷ lại của người được thi hành án để dành việc yêu cầu, khởi kiện cho chấp hành viên thực hiện. Do đó, cần sửa đổi quy định trên theo hướng: Trong trường hợp thấy cần thiết, chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Hà Nội
Hồ Quân Chính
Học viện Tư pháp


[1] Điều khoản này sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.

[2] Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại mục 1 khoản 11 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/5/2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: