Thứ sáu 01/05/2026 08:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án - Một số vấn đề từ thực tiễn

Trường hợp có giao dịch về tài sản kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng đã hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì chấp hành viên không kê biên tài sản mà thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự và có văn bản thông báo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để phối hợp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.


1. Về việc xử lý khi phát sinh tranh chấp liên quan đến tài sản thi hành án

Về vấn đề này, trong thực tiễn áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) còn tồn tại một số bất cập, vướng mắc như sau:

Một là, về trách nhiệm thông báo quyền khởi kiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết của chấp hành viên

Theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự thì chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền khởi kiện khi thỏa mãn hai điều kiện: (i) Tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế; (ii) Có người khác tranh chấp. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định này vẫn còn có một số vướng mắc như:

- Việc thực hiện thông báo cho đương sự, người có tranh chấp hiện nay quy định còn chung chung, chưa cụ thể khi nào tranh chấp thì phải thông báo, giai đoạn trước khi kê biên, trong khi kê biên hay sau khi kê biên? Do đó, cần phải có thời hạn rõ ràng để tránh việc đương sự lợi dụng quy định của pháp luật, gây kéo dài thời gian tổ chức thi hành án.

- Nếu sau khi đã hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định. Tuy nhiên, trong quá trình chấp hành viên xử lý tài sản thì những người được thông báo trước đây lại khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, thì trong trường hợp này, chấp hành viên có phải dừng việc thi hành án để chờ kết quả giải quyết tranh chấp của cơ quan có thẩm quyền hay không? Hiện nay vẫn chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Do vậy, đa số cơ quan thi hành án đều phải dừng việc thi hành án, gây ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả của công tác thi hành án dân sự. Chúng tôi cho rằng, việc hiểu và áp dụng pháp luật như vậy là chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự về cách tính thời hạn và thời hiệu (khoản 1 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định).

Về nội hàm của khái niệm “tranh chấp” tại Điều 75 Luật Thi hành án dân sự, điều luật chỉ quy định chung là “trường hợp tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế để thi hành án mà có người khác tranh chấp”, nhưng không xác định cụ thể loại tranh chấp và nội dung tranh chấp là gì, dẫn đến còn có nhiều quan điểm và cách hiểu chưa thống nhất. Có quan điểm cho rằng, chỉ cần có tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế của người phải thi hành thì chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền khởi kiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Theo quan điểm khác, tranh chấp đó phải liên quan đến quyền sở hữu tài sản bị kê biên thì mới thông báo cho các bên quyền khởi kiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Do đó, cần có quy định hướng dẫn rõ những tranh chấp về nội dung gì đối với tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế thì mới được áp dụng thời hạn thực hiện quyền khởi kiện, hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định này. Có thể nói, hầu hết các tranh chấp dân sự liên quan đến tài sản đều được Tòa án thụ lý giải quyết và việc khởi kiện hay không là quyền của đương sự. Tuy nhiên, đối với tranh chấp về tài sản bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự thì cần phải có giới hạn về nội dung tranh chấp, nhằm hạn chế việc đương sự lợi dụng quyền khởi kiện này. Mặt khác, cũng cần quy định các điều kiện nhất định để chứng minh cho việc tranh chấp là có cơ sở để chấp nhận. Ví dụ như đương sự cần cung cấp các tài liệu gì để chứng minh là có tranh chấp, tính pháp lý của các tài liệu đó... để chấp hành viên xem xét, quyết định.

Hai là, về thời hạn để chấp hành viên xử lý tài sản

Cần có quy định hướng dẫn cụ thể về việc tranh chấp xảy ra ở giai đoạn nào trong quá trình tổ chức thi hành án thì được áp dụng quy định trên, nhằm hạn chế tối đa việc đương sự lợi dụng quyền khởi kiện tranh chấp tài sản để kéo dài thời gian tổ chức thi hành án. Theo quy định thì “trường hợp tài sản của người phải thi hành án “bị cưỡng chế” để thi hành án mà có người khác tranh chấp”, như vậy, rõ ràng đây là giai đoạn đã có đủ căn cứ pháp luật để xác định tài sản này là tài sản của người phải thi hành án nên đã bị chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế (ví dụ như đã ra quyết định kê biên). Vậy thì, khi tranh chấp xảy ra trước thời điểm có quyết định cưỡng chế của chấp hành viên thì giải quyết như thế nào? Trong thực tiễn, khi có người tranh chấp đối với tài sản đang xử lý để thi hành án trước thời điểm có quyết định cưỡng chế thì chấp hành viên có thể chia làm hai trường hợp để giải quyết:

- Trường hợp thứ nhất là tài sản đang xử lý chưa có căn cứ rõ ràng để xác định đó là tài sản thuộc sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, thì chấp hành viên hướng dẫn cho họ khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng không áp dụng cách tính thời hạn thực hiện quyền yêu cầu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự và chấp hành viên cũng chưa ra quyết định cưỡng chế xử lý tài sản vì chưa có đủ cơ sở pháp lý của tài sản.

- Trường hợp thứ hai là tài sản đang xử lý đã có đủ căn cứ pháp lý để xác định đó là tài sản thuộc sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, thì chấp hành viên vẫn tiến hành ra quyết định cưỡng chế theo quy định, đồng thời, thông báo cho đương sự và người có tranh chấp biết để thực hiện quyền khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự. Đối với trường hợp này thì cần phải xác định rõ trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Như vậy, khi đã hết thời hạn trên mà không có ai khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì coi như họ đã từ bỏ quyền lợi của mình liên quan đến tài sản (nếu có). Sau đó, cho dù họ có khởi kiện tại Tòa án hay đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì cũng không phải là căn cứ để hoãn thi hành án theo điểm d khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự.

Ba là, vấn đề hoãn thi hành án khi tài sản có tranh chấp

Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự, một trong những trường hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án đó là tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự thuộc trường hợp xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án và Điều 75 Luật Thi hành án dân sự thuộc trường hợp giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án. Do đó, việc xác định nội dung tranh chấp mà Tòa án thụ lý có thuộc trường hợp tranh chấp theo quy định tại Điều 75 Luật Thi hành án dân sự hay không là rất quan trọng, cần có quy định hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

Trước đây, để hướng dẫn vấn đề nội dung tranh chấp này tại Điều 48, Điều 75 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có được hiểu là tranh chấp về quyền sở hữu hay không, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 4967/BTP-TCTHADS ngày 03/12/2014 hướng dẫn như sau: Về nguyên tắc, theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, trước khi kê biên tài sản, chấp hành viên có trách nhiệm xác minh, làm rõ và chỉ kê biên tài sản để đảm bảo việc thi hành án khi có căn cứ xác định tài sản sẽ kê biên là của người phải thi hành án, vì vậy, “tranh chấp” ở đây được hiểu là tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu tài sản (quyền chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt theo quy định của Bộ luật Dân sự), các tranh chấp không liên quan đến quyền sở hữu tài sản thì không có căn cứ để hoãn thi hành án.

Hướng dẫn như trên là hoàn toàn hợp lý, nhằm hạn chế tối đa việc đương sự cố tình tạo ra các tranh chấp giả tạo để kéo dài, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Tuy nhiên, hiện nay, Điều 48 và Điều 75 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014. Do vậy, đa số quan điểm cho rằng, cần có một văn bản hướng dẫn mới về việc thực hiện khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự theo hướng thu hẹp nội dung tranh chấp như tinh thần của văn bản hướng dẫn nêu trên. Mặt khác, nên chăng cần xem xét đưa nội dung này vào trong một văn bản pháp lý cao hơn để thuận lợi hơn trong việc áp dụng pháp luật.

Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể tranh chấp ở giai đoạn nào thì hoãn thi hành án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự. Bởi vì, việc không khống chế thời điểm được khởi kiện dẫn đến rất nhiều hệ lụy khác nhau, phần nào gây khó khăn cho quá trình tổ chức thi hành án. Đa số quan điểm cho rằng, nếu hết giai đoạn được hưởng quyền khởi kiện (30 ngày kể từ ngày được thông báo mà đương sự không khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết) thì không được hoãn thi hành án cho dù có tranh chấp được tòa án thụ lý.

2. Yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án

Về vấn đề này, thực tiễn triển khai quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự còn có một số tồn tại như sau:

Thứ nhất, khi nào thì được cho là “có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án?

Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào hướng dẫn trường hợp nào là có căn cứ cho rằng giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án nên sẽ gây khó khăn cho chấp hành viên khi áp dụng quy định này trên thực tế.

Theo quy định tại mục 1 khoản 11 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự[1] thì:

“Trường hợp tài sản đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà phát sinh các giao dịch liên quan đến tài sản đó thì tài sản đó bị kê biên, xử lý để thi hành án. Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đối với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối với tài sản đó.

Trường hợp có giao dịch về tài sản mà người phải thi hành án không sử dụng toàn bộ khoản tiền thu được từ giao dịch đó để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc có tài sản khác nhưng không đủ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án thì xử lý như sau:

a) Trường hợp có giao dịch về tài sản nhưng chưa hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản theo quy định. Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì chấp hành viên thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp cần tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.

Trường hợp có giao dịch về tài sản kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng đã hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì chấp hành viên không kê biên tài sản mà thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự và có văn bản thông báo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để phối hợp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.

Việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền…”[2].

Về việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, Công văn số 1103/TCTHADS-NV1 ngày 30/3/2017 của Tổng cục Thi hành án dân sự về việc hướng dẫn một số vấn đề nghiệp vụ thi hành án dân sự trong đó có hướng dẫn thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để thực hiện việc kê biên đảm bảo việc thi hành án như sau:

“Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 đã có những thay đổi về xác định thời điểm chuyển giao quyền sử dụng đất, nên cần phân biệt hai thời điểm cụ thể như sau:

- Thời điểm trước khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực (trước ngày 01/7/2014): Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003 và điểm c tiết 2.13 Mục 2 Phần III Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính thì thời điểm chuyển giao quyền sử dụng đất được xác định tại thời điểm có hiệu lực của các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất (hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất) được thực hiện trước ngày 01/7/2014 là thời điểm thực hiện đăng ký biến động tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất được xác định theo thời điểm (giờ, phút, ngày, tháng, năm) tiếp nhận hồ sơ hợp lệ.

- Thời điểm Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực (từ ngày 01/7/2014 đến nay).

Theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 thì thời điểm thực hiện đăng ký biến động tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất được xác định kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính, cụ thể là: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”.

Như vậy, tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan THADS phải căn cứ quy định của pháp luật tại hai thời điểm trước, sau ngày 01/7/2014 để xác định thời điểm chuyển giao quyền sử dụng đất để làm căn cứ tổ chức thi hành án”.

Theo đó, khi xử lý tài sản là quyền sử dụng đất của người phải thi hành án đã chuyển nhượng cho người khác, chấp hành viên phải căn cứ vào thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để xử lý chứ không phải thời điểm ký hợp đồng.

Tuy nhiên, đối với quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự, vẫn cần có quy định hướng dẫn cụ thể về những trường hợp “có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án” để thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật.

Thứ hai, về việc khởi kiện của chấp hành viên, ngoài quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự về quyền khởi kiện của chấp hành viên, thì tại khoản 5 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về đương sự trong vụ việc dân sự là: “Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là người yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”. Tại khoản 1 Điều 362 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định: “Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền quy định tại Mục 2 Chương III của Bộ luật này. Trường hợp chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì có quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”.

Như vậy, có thể thấy, hiện nay, việc khởi kiện, yêu cầu giải quyết đối với tài sản thi hành án của đương sự và chấp hành viên đã được pháp luật về thi hành án dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định khá rõ ràng. Tuy nhiên, đa số quan điểm cho rằng, quy định “hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó” là chưa thực sự hợp lý, bởi vì:

- Việc yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch bị tranh chấp về bản chất là để đảm bảo quyền lợi cho người được thi hành án, do đó, người được thi hành án phải có trách nhiệm thực hiện việc yêu cầu khởi kiện này.

- Chấp hành viên là công chức, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức thi hành bản án, quyết định và các công việc phụ trợ khác nhằm mục đích tổ chức thi hành án (như tổ chức bán đấu giá tài sản, tư vấn cho đương sự để họ thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ thi hành án...). Việc thực hiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch bị tranh chấp theo thủ tục tố tụng dân sự có thể dẫn đến nhiều hệ lụy khác phát sinh liên quan như: Tư cách tham gia tố tụng; trách nhiệm có liên quan trong trường hợp bản án, quyết định giải quyết tiếp theo ở các giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; thời gian tham gia tố tụng…

Mặt khác, quy định ấn định “sau 15 ngày mà người được thi hành án không yêu cầu thì chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó” đã biến việc yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu trở thành nghĩa vụ của chấp hành viên; trong một số trường hợp có thể sẽ tạo ra tâm lý ỷ lại của người được thi hành án để dành việc yêu cầu, khởi kiện cho chấp hành viên thực hiện. Do đó, cần sửa đổi quy định trên theo hướng: Trong trường hợp thấy cần thiết, chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Hà Nội
Hồ Quân Chính
Học viện Tư pháp


[1] Điều khoản này sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.

[2] Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại mục 1 khoản 11 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/5/2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: