Thứ năm 02/04/2026 01:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm

Điều 203 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nêu lên tính chất của xét xử phúc thẩm vụ án hành chính, cụ thể là: “Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”.

1. Dẫn nhập

Thủ tục phúc thẩm là một thủ tục quan trọng trong việc giải quyết vụ án hành chính. Giai đoạn phúc thẩm có ý nghĩa khắc phục kịp thời sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm để từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, hiện nay, một số quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 phát sinh những bất cập, hạn chế nhất định cần được hoàn thiện để việc giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn.

2. Khái quát về xét xử phúc thẩm vụ án hành chính

Điều 11 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. Theo đó, chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm, trừ trường hợp xét xử vụ án hành chính đối với khiếu kiện danh sách cử tri; bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cũng đã dành hẳn Chương 13 để quy định về thủ tục phúc thẩm.

2.1. Tính chất của xét xử phúc thẩm

Điều 203 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nêu lên tính chất của xét xử phúc thẩm vụ án hành chính, cụ thể là: “Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”.

Như vậy, phúc thẩm không phải là xét xử lần đầu vụ án hành chính mà là xét xử lại vụ án hành chính khi bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị các chủ thể được pháp luật cho phép kháng cáo hoặc kháng nghị. Nói cách khác, khi có kháng cáo hoặc kháng nghị hợp lệ thì thủ tục phúc thẩm sẽ phát sinh và vụ án hành chính sẽ được giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Trường hợp bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định thì bản án hoặc quyết định sơ thẩm đó có hiệu lực pháp luật.

2.2. Đối tượng và chủ thể kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

Đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và chủ thể được quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã được Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định rõ ràng tại Điều 204 và Điều 211. Theo đó, đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, còn Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.

Đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bao gồm bản án, quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Như vậy, bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mới là đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

3. Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Mặc dù Chương 13 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã đưa ra rất nhiều quy định, phân thành các mục là quy định chung về thủ tục phúc thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, nhưng một số quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án hành chính vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, tạo ra sự lúng túng trong việc áp dụng pháp luật. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện các quy định này là cấp thiết.

3.1. Đơn kháng cáo

Khoản 4 Điều 54 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật.

Về quyền kháng cáo thì như trên đã trình bày, Điều 204 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 khẳng định đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Khi thực hiện quyền kháng cáo, người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo. Do đó, để bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất thì Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã quy định về các nội dung chính của đơn kháng cáo tại Điều 205.

Tại khoản 5 Điều 205 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về việc làm đơn kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Theo đó, người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Đồng thời, khoản này cũng cho phép người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự được ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo.

Như vậy, khoản 5 Điều 205 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chỉ đề cập đến đương sự là người chưa thành niên và đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự. Câu hỏi đặt ra, đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, đương sự là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì làm đơn kháng cáo như thế nào. Rõ ràng, Điều 205 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chưa thấy đề cập. Do đó, nhà làm luật cần bổ sung về việc làm đơn kháng cáo đối với hai chủ thể trên, bao gồm đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và đương sự là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Theo đó, khoản 5 Điều 205 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần được bổ sung như sau:

“5. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo, người kháng cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ.

Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền và văn bản ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; đồng thời, ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ”.

3.2. Gửi đơn kháng cáo đến Tòa án

Theo khoản 7 Điều 205 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo. Kèm theo đơn kháng cáo người kháng cáo gửi tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định.

Tiếp đó, khoản 3 Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giữ hoặc bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày làm đơn kháng cáo theo xác nhận của người có thẩm quyền của nhà tạm giữ, trại tạm giam”.

Như vậy, ngoài việc nộp đơn kháng cáo trực tiếp tại Tòa án thì người kháng cáo còn có thể nộp đơn kháng cáo qua dịch vụ bưu chính. Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Vấn đề đặt ra, trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày kháng cáo là ngày nào vẫn chưa được quy định.

Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin thì thiết nghĩ pháp luật cũng nên cho phép người kháng cáo được gửi đơn kháng cáo thông qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án tương tự như việc nộp đơn khởi kiện. Đồng thời, pháp luật tố tụng hành chính cũng nên quy định về việc xác định ngày kháng cáo vụ án hành chính trong trường hợp nộp đơn kháng cáo trực tiếp tại Tòa án. Trên tinh thần đó, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có thể kế thừa Điều 119 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (gửi đơn khởi kiện đến Tòa án) để quy định về phương thức gửi đơn kháng cáo đến Tòa án như sau:

“Người kháng cáo gửi đơn kháng cáo và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) đến Tòa án có thẩm quyền bằng một trong các phương thức sau đây:

1. Nộp trực tiếp tại Tòa án.

2. Gửi qua dịch vụ bưu chính.

3. Gửi trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)”.

Đồng thời, các cơ quan có thẩm quyền cần kế thừa Điều 120 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 để quy định về việc xác định ngày kháng cáo vụ án hành chính như sau:

“1. Trường hợp người kháng cáo trực tiếp nộp đơn tại Tòa án có thẩm quyền thì ngày kháng cáo là ngày nộp đơn.

2. Trường hợp người kháng cáo gửi đơn trực tuyến thì ngày kháng cáo là ngày gửi đơn.

3. Trường hợp người kháng cáo gửi đơn đến Tòa án qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo là ngày có dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi. Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày kháng cáo là ngày người kháng cáo gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính. Người kháng cáo phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính; trường hợp người kháng cáo không chứng minh được thì ngày kháng cáo là ngày Tòa án nhận được đơn kháng cáo do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.

4. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giữ hoặc bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày làm đơn kháng cáo theo xác nhận của người có thẩm quyền của nhà tạm giữ, trại tạm giam”.

3.3. Thời hạn kháng nghị

Theo quy định của Điều 213 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án. Trong khi đó, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.

Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp Viện kiểm sát nhân dân đều thực hiện đúng thời hạn kháng nghị như trên. Do đó, theo khoản 3 Điều 213 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định như trên thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Nhằm áp dụng thống nhất pháp luật, Điều 16 Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính đã hướng dẫn về việc gửi văn bản giải thích lý do kháng nghị quá hạn như sau: “Tòa án cấp sơ thẩm nhận được kháng nghị có văn bản yêu cầu Viện kiểm sát đã kháng nghị giải thích lý do kháng nghị quá hạn. Văn bản giải thích lý do kháng nghị quá hạn của Viện kiểm sát được gửi cho Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu”.

Vấn đề cần bàn là, có phải trong mọi trường hợp Tòa án đều phải chấp nhận lý do mà Viện kiểm sát giải thích hay không, nếu không thì Tòa án được từ chối việc kháng nghị của Viện kiểm sát trong trường hợp nào thì vẫn chưa được hướng dẫn rõ ràng. Dẫn chiếu đến điểm a khoản 1 Điều 226 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm không phải mở phiên tòa trong trường hợp: “Xét kháng cáo, kháng nghị quá hạn”. Như vậy, trường hợp quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát đã quá thời hạn quy định tại Điều 213 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có được gọi là kháng nghị quá hạn hay không.

Đối với kháng cáo quá hạn thì Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã quy định rất rõ ràng tại Điều 208: “Kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là kháng cáo quá hạn”. Trên cơ sở đó, Điều 208 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định chi tiết về thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn. Theo đó, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc kháng cáo quá hạn, ý kiến của đương sự kháng cáo quá hạn, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Thế nhưng, đối với kháng nghị quá hạn thì dường như Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chưa quy định rõ ràng, do đó, trong thời gian tới, nhà làm luật cần hoàn thiện vấn đề này để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

3.4. Phạm vi xét xử phúc thẩm

Điều 220 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị”.

Về nguyên tắc, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xem xét lại phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, nếu phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nhưng lại liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm vẫn được quyền xem xét. Có thể thấy, Điều 220 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã dự liệu luôn trường hợp mà phần bản án, quyết định đó có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án được xem xét lại để ra phán quyết cho toàn diện, chính xác. Thế nhưng, câu hỏi là phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm có được “xử” hay không, hay chỉ là “xem xét”. Trong khi Điều 220 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chỉ sử dụng thuật ngữ “xem xét lại” chứ không phải là “xét xử lại” như tính chất của thủ tục phúc thẩm tại Điều 203 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Thực tế cho thấy, quy định tại Điều 220 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về phạm vi xét xử phúc thẩm là chưa rõ ràng.

3.5. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Theo Điều 221 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, trừ vụ án xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được quy định như sau:

- Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định sau đây: a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; c) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

- Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử quy định như trên, nhưng không được quá 30 ngày.

Tiếp đó, khoản 3 Điều 221 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 60 ngày”.

Vậy, trường hợp nào là trường hợp có lý do chính đáng thì vẫn chưa đề cập. Đồng thời, khoản 4 Điều 221 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị”.

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không quy định thời hạn cụ thể mà Tòa án phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Điều này dễ dẫn đến sự tùy tiện, không thông báo kịp thời cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Từ đó, họ bị động, không kịp thời chuẩn bị những công việc cần thiết để tham gia phiên tòa cũng như chuẩn bị các căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Do đó, khoản 4 Điều 221 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần kế thừa khoản 2 Điều 146 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 để hoàn thiện như sau: “Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị ngay sau khi ra quyết định”.

3.6. Giao nộp tài liệu, chứng cứ tại Tòa án cấp phúc thẩm

Theo điểm a khoản 1 Điều 227 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đương sự được quyền giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm trong trường hợp: “Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng”.

Như vậy, nếu có lý do chính đáng làm cho đương sự không giao nộp được những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp thì đương sự được quyền giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ đó trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm. Vậy, trường hợp nào là có lý do chính đáng, trường hợp nào là không có lý do chính đáng thì rất cần sự hướng dẫn rõ ràng hơn của các chủ thể có thẩm quyền để hạn chế tình trạng “chây ỳ” như thực tế thời gian qua.

3.7. Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm

Khi bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì dẫn đến hệ quả như sau (Điều 215 Luật Tố tụng hành chính năm 2015):

- Phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định được thi hành ngay.

- Bản án, quyết định hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do đó, “số phận” của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là vấn đề quan trọng khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Một là, khoản 2 Điều 229 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; trong trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. Trong các trường hợp này, bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm”.

Với quy định này cho thấy, chỉ cần người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Tòa án ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. Trường hợp này, bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Quy định này chưa thật sự chính xác, nhất là khi so sánh với khoản 3 Điều 218 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Nếu trong trường hợp có cả kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát nhưng Viện kiểm sát không rút kháng nghị thì Tòa án vẫn phải giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát.

Chính vì vậy, mà điểm c khoản 3 Điều 7 Quyết định số 255/QĐ-VKSTC của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 16/08/2021 ban hành quy định về quy trình kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính của Tòa án đã yêu cầu đối với vụ án vừa có kháng cáo của đương sự, vừa có kháng nghị của Viện kiểm sát thì trường hợp đương sự rút kháng cáo nhưng nội dung đương sự rút kháng cáo có trong nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát thuộc trường hợp bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì phải xác định Hội đồng xét xử có xem xét, giải quyết những nội dung đó trong kháng nghị hay không. Như vậy, trong trường hợp này mặc dù người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, nhưng bản án, quyết định sơ thẩm chưa thể phát sinh hiệu lực.

Hai là, khoản 5 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: Hội đồng xét xử phúc thẩm có thẩm quyền: “Đình chỉ xét xử phúc thẩm, nếu việc xét xử phúc thẩm vụ án cần phải có mặt người kháng cáo và họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Trường hợp này bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật”. Như vậy, nếu người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm. Trường hợp này bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Quy định này chưa thật sự chính xác, “tỏ ra” bất cập trong trường hợp có nhiều người kháng cáo. Trường hợp có nhiều người kháng cáo, trong đó có người kháng cáo vắng mặt, có người kháng cáo có mặt tại phiên tòa thì Tòa án vẫn tiến hành giải quyết kháng cáo của những người kháng cáo có mặt. Trong trường hợp này, bản án sơ thẩm chưa thể có hiệu lực pháp luật. Hoặc trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì Tòa án phải giải quyết đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nên lúc này bản án sơ thẩm chưa thể có hiệu lực pháp luật. Hơn nữa, khoản 5 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chưa bao quát hết các trường hợp có thể xét xử vắng mặt người kháng cáo như họ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 225 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Do đó, nhà làm luật có thể kế thừa khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để sửa đổi khoản 5 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 như sau: “Đình chỉ xét xử phúc thẩm, nếu người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà không có mặt theo quy định tại Điều 225 của Luật này, trừ trường hợp vụ án có người khác kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị”.

Tố tụng hành chính là một lĩnh vực khá mới nên các quy định của pháp luật về tố tụng hành chính dường như chưa được hoàn thiện, trong đó có các quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án hành chính. Giai đoạn phúc thẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tố tụng hành chính. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm sẽ giúp kịp thời khắc phục các sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm, cũng như hạn chế tối đa các sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm./.

ThS. Dũng Thị Mỹ Thẩm
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.

Theo dõi chúng tôi trên: