Thứ sáu 23/10/2026 23:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã

Bài viết trao đổi về vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch trong việc đưa pháp luật vào đời sống xã hội, đặc biệt là cho đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong phổ biến, giáo dục pháp luật.


1. Vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số

Hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) do công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là đã từng bước đưa người dân vùng dân tộc thiểu số tiếp cận với các văn bản pháp luật. Vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong PBGDPL được thể hiện như sau:

Thứ nhất, công chức tư pháp - hộ tịch tổ chức thực hiện đưa pháp luật đến với nhân dân tại thôn, ấp, bản, làng thông qua các hình thức tuyên truyền phong phú, thiết thực như: Sinh hoạt hội nông dân; câu lạc bộ nông dân với pháp luật; tổ chức tập huấn; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; qua hoạt động trợ giúp pháp lý; tư vấn pháp luật; hòa giải ở cơ sở; giải quyết khiếu nại tố cáo của người dân… Bên cạnh đó, việc PBGDPL còn được kết hợp với các hoạt động như: Xóa đói giảm nghèo ở nông thôn; phong trào toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng gia đình nông dân văn hóa, thôn ấp bản làng văn hóa, xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí… nên đã thu hút được đông đảo nông dân, tạo nên hiệu quả tuyên truyền cao. Nội dung PBGDPL được lựa chọn phù hợp với đối tượng người dân và nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương.

Mặc dù tại các xã vùng núi cao, vùng dân tộc thiểu số, các địa bàn dân cư có điều kiện kinh tế kém phát triển, cơ sở vật chất như đường giao thông, trường học, trạm y tế còn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân, công tác PBGDPL còn đang gặp rất nhiều khó khăn. Song công chức tư pháp - hộ tịch đã luôn nỗ lực, nhiệt tình để nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, họ đã phối hợp với các già làng, trưởng bản, những người có uy tín nhằm phổ biến các chính sách cũng như quy định pháp luật cho nhân dân. Vì vậy, những năm qua, tỷ lệ người dân biết chữ đã tăng lên, tỷ lệ tảo hôn giảm xuống đáng kể, các hủ tục lạc hậu đã được xóa bỏ, tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi, đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân được nâng lên. Hiện nay, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ có chuyên ngành luật là người dân tộc thiểu số, đào tạo cho họ những kiến thức cơ bản để họ tiến hành hoạt động tư pháp tại địa phương.

Thứ hai, công chức tư pháp - hộ tịch đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước tại địa phương, vận dụng kiến thức pháp luật để góp phần giúp cho các văn bản này không bị chồng chéo, có tính thực thi cao hoặc giúp ban hành những quyết định xử phạt hành chính đúng thẩm quyền, đúng hành vi, phòng tránh việc khiếu nại, khiếu kiện của các tổ chức, cá nhân, góp phần ổn định chính trị - xã hội ở địa phương. Trong cuộc sống hàng ngày, công chức tư pháp - hộ tịch luôn bám sát nhân dân, bám sát đồng bào dân tộc thiểu số, thấu hiểu những khó khăn, vướng mắc của họ nhằm tháo gỡ kịp thời. Họ chính là mắt xích quan trọng để kết nối người dân với chính quyền và các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương.

Thứ ba, công chức tư pháp - hộ tịch thông qua PBGDPL đã tác động trực tiếp đến các chủ thể trong xã hội nhằm tạo ra hiệu quả cuối cùng là tổ chức thi hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, củng cố và nâng cao chất lượng quản lý nhà nước bằng pháp luật trên các mặt, các lĩnh vực đời sống xã hội, phục vụ nhân dân. Ngoài ra, thông qua công tác PBGDPL, công chức tư pháp - hộ tịch đã góp phần nâng cao trình độ, hiểu biết, nhận thức pháp luật cho các đảng viên, các chi bộ, tổ chức Đảng về thực thi quyền hạn của mình tại địa phương, nâng cao uy tín của tổ chức Đảng và đảng viên ở cơ sở.

Thứ tư, công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật gắn với yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính. Thực hiện Đề án 30, công chức tư pháp - hộ tịch đã giúp ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc rà soát, thống kê, loại bỏ và kiến nghị các cấp có thẩm quyền loại bỏ các thủ tục và giấy tờ hành chính không cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong các giao dịch hành chính. Việc cải cách thủ tục hành chính được thực hiện theo đúng nguyên tắc: “Tiến hành các thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật; công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí và thời gian giải quyết công việc; nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; phối hợp với các bộ phận có liên quan nhằm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện, đúng thời gian”. Để làm được điều này, công chức tư pháp - hộ tịch, một mặt, tăng cường PBGDPL cho người dân để họ hiểu và thực hiện đúng, tự giác, đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình, mặt khác, lắng nghe ý kiến phản hồi của nhân dân về những vướng mắc, khó khăn mà họ đang gặp phải khi thực hiện các trình tự, thủ tục hành chính tư pháp. Các thông tin được công khai, niêm yết tại trụ sở làm việc, các thủ tục hành chính được giảm bớt, thu gọn. Công chức tư pháp - hộ tịch xã đã phối hợp với công chức văn hóa - thông tin thực hiện công khai các thông tin, chủ trương, chính sách thông qua mạng lưới đài phát thanh đến tận thôn, xóm.

Thứ năm, chủ trương xã hội hóa các hoạt động tư pháp, bổ trợ tư pháp như công chứng, trợ giúp pháp lý, hòa giải đã và đang đặt ra nhiều trách nhiệm cho chính quyền cơ sở, mà trực tiếp là công chức tư pháp - hộ tịch. Chẳng hạn như, công chức tư pháp - hộ tịch phải phối hợp rất chặt chẽ với các Trung tâm hoặc Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý để tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu động tại địa bàn cấp xã, duy trì sinh hoạt của câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, xây dựng và bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ công tác viên trợ giúp pháp lý tại cơ sở, qua đó, giúp người dân, đặc biệt là người nghèo, các đối tượng chính sách thuộc diện được hưởng trợ giúp pháp lý được tiếp cận thông tin pháp luật, đặc biệt là những thông tin liên quan trực tiếp đến những vấn đề vướng mắc về pháp luật trong cuộc sống của họ và sử dụng các dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí…

Thứ sáu, công chức tư pháp - hộ tịch góp phần xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Mục tiêu của quy chế dân chủ ở cơ sở là hướng tới mục tiêu đảm bảo để thực hiện phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với việc giải quyết các công việc tại địa phương. Khi chính quyền cơ sở đưa ra một chính sách, kế hoạch, dự án đầu tư cụ thể, thì thông thường, công chức tư pháp - hộ tịch có trách nhiệm phổ biến, giải thích cho từng người với mục đích giúp người dân hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu chính xác, từ đó, người dân xác định được vị trí, trách nhiệm của mình đối với các kế hoạch đó. Bên cạnh đó, công chức tư pháp - hộ tịch cũng cần công khai cho nhân dân biết các nội dung quan trọng để nhân dân đóng góp ý kiến, bàn bạc trao đổi và cùng giải quyết các công việc chung trên tinh thần tôn trọng quyền và nghĩa vụ của nhau.

2. Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Nhằm tiếp tục xây dựng đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã đủ mạnh, giúp chính quyền cấp xã trong việc triển khai các nhiệm vụ tư pháp trên địa bàn theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX: “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”, các cấp, các ngành cần có kế hoạch để nâng cao năng lực của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã, trong đó, quan tâm triển khai các giải pháp sau:

Một là, căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn, tính chất, đặc điểm, yêu cầu công việc; vị trí địa lý; tính chất, quy mô, cơ cấu dân số; tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa; chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và tình hình an ninh - trật tự của từng địa phương để bố trí công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã phù hợp, đảm bảo đủ số lượng, có chất lượng đủ sức tham mưu cho chính quyền cấp xã thực hiện tốt công tác tư pháp trên địa bàn. Không bố trí công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã kiêm nhiệm các công việc khác ngoài nhiệm vụ công tác tư pháp.

Hai là, tiến hành rà soát, đánh giá trình độ, năng lực, sở trường của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã hiện có để điều động, bố trí, chuyển đổi vị trí công tác phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời, phát huy tối đa năng lực, sở trường của mỗi người, phục vụ tốt hơn nhiệm vụ được giao.

Ba là, chú trọng quy hoạch, đề bạt, luân chuyển công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã có khả năng phát triển vào các vị trí chủ chốt của bộ máy chính quyền cấp xã; tránh đề bạt công chức khi không còn khả năng phát triển hoặc có biểu hiện cầm chừng. Kiên quyết không bố trí công chức bị kỷ luật hoặc không hoàn thành tốt nhiệm vụ ở địa phương, lĩnh vực công tác này, lại được bố trí sang đảm nhận nhiệm vụ công chức tư pháp - hộ tịch.

Bốn là, quan tâm thực hiện đúng và kịp thời các chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã như: Chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài; chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng; chính sách thu hút, bố trí, sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác tại xã; có chế độ phụ cấp đặc biệt đối với các xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi... Nhằm động viên, khuyến khích, thu hút cán bộ vào công tác trong lĩnh vực này.

Năm là, tiếp tục quan tâm tạo điều kiện cho đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch tham gia các lớp đào tạo tập trung, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật để không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ trong giải quyết các công việc hàng ngày.

Lê Văn Trí
Trường Trung cấp Luật Tây Bắc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: