Thứ hai 11/05/2026 19:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã

Bài viết trao đổi về vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch trong việc đưa pháp luật vào đời sống xã hội, đặc biệt là cho đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong phổ biến, giáo dục pháp luật.


1. Vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số

Hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) do công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là đã từng bước đưa người dân vùng dân tộc thiểu số tiếp cận với các văn bản pháp luật. Vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong PBGDPL được thể hiện như sau:

Thứ nhất, công chức tư pháp - hộ tịch tổ chức thực hiện đưa pháp luật đến với nhân dân tại thôn, ấp, bản, làng thông qua các hình thức tuyên truyền phong phú, thiết thực như: Sinh hoạt hội nông dân; câu lạc bộ nông dân với pháp luật; tổ chức tập huấn; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; qua hoạt động trợ giúp pháp lý; tư vấn pháp luật; hòa giải ở cơ sở; giải quyết khiếu nại tố cáo của người dân… Bên cạnh đó, việc PBGDPL còn được kết hợp với các hoạt động như: Xóa đói giảm nghèo ở nông thôn; phong trào toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng gia đình nông dân văn hóa, thôn ấp bản làng văn hóa, xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí… nên đã thu hút được đông đảo nông dân, tạo nên hiệu quả tuyên truyền cao. Nội dung PBGDPL được lựa chọn phù hợp với đối tượng người dân và nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương.

Mặc dù tại các xã vùng núi cao, vùng dân tộc thiểu số, các địa bàn dân cư có điều kiện kinh tế kém phát triển, cơ sở vật chất như đường giao thông, trường học, trạm y tế còn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân, công tác PBGDPL còn đang gặp rất nhiều khó khăn. Song công chức tư pháp - hộ tịch đã luôn nỗ lực, nhiệt tình để nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, họ đã phối hợp với các già làng, trưởng bản, những người có uy tín nhằm phổ biến các chính sách cũng như quy định pháp luật cho nhân dân. Vì vậy, những năm qua, tỷ lệ người dân biết chữ đã tăng lên, tỷ lệ tảo hôn giảm xuống đáng kể, các hủ tục lạc hậu đã được xóa bỏ, tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi, đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân được nâng lên. Hiện nay, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ có chuyên ngành luật là người dân tộc thiểu số, đào tạo cho họ những kiến thức cơ bản để họ tiến hành hoạt động tư pháp tại địa phương.

Thứ hai, công chức tư pháp - hộ tịch đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước tại địa phương, vận dụng kiến thức pháp luật để góp phần giúp cho các văn bản này không bị chồng chéo, có tính thực thi cao hoặc giúp ban hành những quyết định xử phạt hành chính đúng thẩm quyền, đúng hành vi, phòng tránh việc khiếu nại, khiếu kiện của các tổ chức, cá nhân, góp phần ổn định chính trị - xã hội ở địa phương. Trong cuộc sống hàng ngày, công chức tư pháp - hộ tịch luôn bám sát nhân dân, bám sát đồng bào dân tộc thiểu số, thấu hiểu những khó khăn, vướng mắc của họ nhằm tháo gỡ kịp thời. Họ chính là mắt xích quan trọng để kết nối người dân với chính quyền và các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương.

Thứ ba, công chức tư pháp - hộ tịch thông qua PBGDPL đã tác động trực tiếp đến các chủ thể trong xã hội nhằm tạo ra hiệu quả cuối cùng là tổ chức thi hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, củng cố và nâng cao chất lượng quản lý nhà nước bằng pháp luật trên các mặt, các lĩnh vực đời sống xã hội, phục vụ nhân dân. Ngoài ra, thông qua công tác PBGDPL, công chức tư pháp - hộ tịch đã góp phần nâng cao trình độ, hiểu biết, nhận thức pháp luật cho các đảng viên, các chi bộ, tổ chức Đảng về thực thi quyền hạn của mình tại địa phương, nâng cao uy tín của tổ chức Đảng và đảng viên ở cơ sở.

Thứ tư, công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật gắn với yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính. Thực hiện Đề án 30, công chức tư pháp - hộ tịch đã giúp ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc rà soát, thống kê, loại bỏ và kiến nghị các cấp có thẩm quyền loại bỏ các thủ tục và giấy tờ hành chính không cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong các giao dịch hành chính. Việc cải cách thủ tục hành chính được thực hiện theo đúng nguyên tắc: “Tiến hành các thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật; công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí và thời gian giải quyết công việc; nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; phối hợp với các bộ phận có liên quan nhằm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện, đúng thời gian”. Để làm được điều này, công chức tư pháp - hộ tịch, một mặt, tăng cường PBGDPL cho người dân để họ hiểu và thực hiện đúng, tự giác, đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình, mặt khác, lắng nghe ý kiến phản hồi của nhân dân về những vướng mắc, khó khăn mà họ đang gặp phải khi thực hiện các trình tự, thủ tục hành chính tư pháp. Các thông tin được công khai, niêm yết tại trụ sở làm việc, các thủ tục hành chính được giảm bớt, thu gọn. Công chức tư pháp - hộ tịch xã đã phối hợp với công chức văn hóa - thông tin thực hiện công khai các thông tin, chủ trương, chính sách thông qua mạng lưới đài phát thanh đến tận thôn, xóm.

Thứ năm, chủ trương xã hội hóa các hoạt động tư pháp, bổ trợ tư pháp như công chứng, trợ giúp pháp lý, hòa giải đã và đang đặt ra nhiều trách nhiệm cho chính quyền cơ sở, mà trực tiếp là công chức tư pháp - hộ tịch. Chẳng hạn như, công chức tư pháp - hộ tịch phải phối hợp rất chặt chẽ với các Trung tâm hoặc Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý để tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu động tại địa bàn cấp xã, duy trì sinh hoạt của câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, xây dựng và bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ công tác viên trợ giúp pháp lý tại cơ sở, qua đó, giúp người dân, đặc biệt là người nghèo, các đối tượng chính sách thuộc diện được hưởng trợ giúp pháp lý được tiếp cận thông tin pháp luật, đặc biệt là những thông tin liên quan trực tiếp đến những vấn đề vướng mắc về pháp luật trong cuộc sống của họ và sử dụng các dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí…

Thứ sáu, công chức tư pháp - hộ tịch góp phần xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Mục tiêu của quy chế dân chủ ở cơ sở là hướng tới mục tiêu đảm bảo để thực hiện phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với việc giải quyết các công việc tại địa phương. Khi chính quyền cơ sở đưa ra một chính sách, kế hoạch, dự án đầu tư cụ thể, thì thông thường, công chức tư pháp - hộ tịch có trách nhiệm phổ biến, giải thích cho từng người với mục đích giúp người dân hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu chính xác, từ đó, người dân xác định được vị trí, trách nhiệm của mình đối với các kế hoạch đó. Bên cạnh đó, công chức tư pháp - hộ tịch cũng cần công khai cho nhân dân biết các nội dung quan trọng để nhân dân đóng góp ý kiến, bàn bạc trao đổi và cùng giải quyết các công việc chung trên tinh thần tôn trọng quyền và nghĩa vụ của nhau.

2. Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Nhằm tiếp tục xây dựng đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã đủ mạnh, giúp chính quyền cấp xã trong việc triển khai các nhiệm vụ tư pháp trên địa bàn theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX: “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”, các cấp, các ngành cần có kế hoạch để nâng cao năng lực của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã, trong đó, quan tâm triển khai các giải pháp sau:

Một là, căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn, tính chất, đặc điểm, yêu cầu công việc; vị trí địa lý; tính chất, quy mô, cơ cấu dân số; tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa; chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và tình hình an ninh - trật tự của từng địa phương để bố trí công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã phù hợp, đảm bảo đủ số lượng, có chất lượng đủ sức tham mưu cho chính quyền cấp xã thực hiện tốt công tác tư pháp trên địa bàn. Không bố trí công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã kiêm nhiệm các công việc khác ngoài nhiệm vụ công tác tư pháp.

Hai là, tiến hành rà soát, đánh giá trình độ, năng lực, sở trường của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã hiện có để điều động, bố trí, chuyển đổi vị trí công tác phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời, phát huy tối đa năng lực, sở trường của mỗi người, phục vụ tốt hơn nhiệm vụ được giao.

Ba là, chú trọng quy hoạch, đề bạt, luân chuyển công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã có khả năng phát triển vào các vị trí chủ chốt của bộ máy chính quyền cấp xã; tránh đề bạt công chức khi không còn khả năng phát triển hoặc có biểu hiện cầm chừng. Kiên quyết không bố trí công chức bị kỷ luật hoặc không hoàn thành tốt nhiệm vụ ở địa phương, lĩnh vực công tác này, lại được bố trí sang đảm nhận nhiệm vụ công chức tư pháp - hộ tịch.

Bốn là, quan tâm thực hiện đúng và kịp thời các chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã như: Chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài; chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng; chính sách thu hút, bố trí, sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác tại xã; có chế độ phụ cấp đặc biệt đối với các xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi... Nhằm động viên, khuyến khích, thu hút cán bộ vào công tác trong lĩnh vực này.

Năm là, tiếp tục quan tâm tạo điều kiện cho đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch tham gia các lớp đào tạo tập trung, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật để không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ trong giải quyết các công việc hàng ngày.

Lê Văn Trí
Trường Trung cấp Luật Tây Bắc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: