Thứ bảy 07/02/2026 20:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã

Bài viết trao đổi về vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch trong việc đưa pháp luật vào đời sống xã hội, đặc biệt là cho đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong phổ biến, giáo dục pháp luật.


1. Vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số

Hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) do công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là đã từng bước đưa người dân vùng dân tộc thiểu số tiếp cận với các văn bản pháp luật. Vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong PBGDPL được thể hiện như sau:

Thứ nhất, công chức tư pháp - hộ tịch tổ chức thực hiện đưa pháp luật đến với nhân dân tại thôn, ấp, bản, làng thông qua các hình thức tuyên truyền phong phú, thiết thực như: Sinh hoạt hội nông dân; câu lạc bộ nông dân với pháp luật; tổ chức tập huấn; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; qua hoạt động trợ giúp pháp lý; tư vấn pháp luật; hòa giải ở cơ sở; giải quyết khiếu nại tố cáo của người dân… Bên cạnh đó, việc PBGDPL còn được kết hợp với các hoạt động như: Xóa đói giảm nghèo ở nông thôn; phong trào toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng gia đình nông dân văn hóa, thôn ấp bản làng văn hóa, xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí… nên đã thu hút được đông đảo nông dân, tạo nên hiệu quả tuyên truyền cao. Nội dung PBGDPL được lựa chọn phù hợp với đối tượng người dân và nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương.

Mặc dù tại các xã vùng núi cao, vùng dân tộc thiểu số, các địa bàn dân cư có điều kiện kinh tế kém phát triển, cơ sở vật chất như đường giao thông, trường học, trạm y tế còn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân, công tác PBGDPL còn đang gặp rất nhiều khó khăn. Song công chức tư pháp - hộ tịch đã luôn nỗ lực, nhiệt tình để nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, họ đã phối hợp với các già làng, trưởng bản, những người có uy tín nhằm phổ biến các chính sách cũng như quy định pháp luật cho nhân dân. Vì vậy, những năm qua, tỷ lệ người dân biết chữ đã tăng lên, tỷ lệ tảo hôn giảm xuống đáng kể, các hủ tục lạc hậu đã được xóa bỏ, tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi, đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân được nâng lên. Hiện nay, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ có chuyên ngành luật là người dân tộc thiểu số, đào tạo cho họ những kiến thức cơ bản để họ tiến hành hoạt động tư pháp tại địa phương.

Thứ hai, công chức tư pháp - hộ tịch đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước tại địa phương, vận dụng kiến thức pháp luật để góp phần giúp cho các văn bản này không bị chồng chéo, có tính thực thi cao hoặc giúp ban hành những quyết định xử phạt hành chính đúng thẩm quyền, đúng hành vi, phòng tránh việc khiếu nại, khiếu kiện của các tổ chức, cá nhân, góp phần ổn định chính trị - xã hội ở địa phương. Trong cuộc sống hàng ngày, công chức tư pháp - hộ tịch luôn bám sát nhân dân, bám sát đồng bào dân tộc thiểu số, thấu hiểu những khó khăn, vướng mắc của họ nhằm tháo gỡ kịp thời. Họ chính là mắt xích quan trọng để kết nối người dân với chính quyền và các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương.

Thứ ba, công chức tư pháp - hộ tịch thông qua PBGDPL đã tác động trực tiếp đến các chủ thể trong xã hội nhằm tạo ra hiệu quả cuối cùng là tổ chức thi hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, củng cố và nâng cao chất lượng quản lý nhà nước bằng pháp luật trên các mặt, các lĩnh vực đời sống xã hội, phục vụ nhân dân. Ngoài ra, thông qua công tác PBGDPL, công chức tư pháp - hộ tịch đã góp phần nâng cao trình độ, hiểu biết, nhận thức pháp luật cho các đảng viên, các chi bộ, tổ chức Đảng về thực thi quyền hạn của mình tại địa phương, nâng cao uy tín của tổ chức Đảng và đảng viên ở cơ sở.

Thứ tư, công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật gắn với yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính. Thực hiện Đề án 30, công chức tư pháp - hộ tịch đã giúp ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc rà soát, thống kê, loại bỏ và kiến nghị các cấp có thẩm quyền loại bỏ các thủ tục và giấy tờ hành chính không cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong các giao dịch hành chính. Việc cải cách thủ tục hành chính được thực hiện theo đúng nguyên tắc: “Tiến hành các thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật; công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí và thời gian giải quyết công việc; nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; phối hợp với các bộ phận có liên quan nhằm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện, đúng thời gian”. Để làm được điều này, công chức tư pháp - hộ tịch, một mặt, tăng cường PBGDPL cho người dân để họ hiểu và thực hiện đúng, tự giác, đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình, mặt khác, lắng nghe ý kiến phản hồi của nhân dân về những vướng mắc, khó khăn mà họ đang gặp phải khi thực hiện các trình tự, thủ tục hành chính tư pháp. Các thông tin được công khai, niêm yết tại trụ sở làm việc, các thủ tục hành chính được giảm bớt, thu gọn. Công chức tư pháp - hộ tịch xã đã phối hợp với công chức văn hóa - thông tin thực hiện công khai các thông tin, chủ trương, chính sách thông qua mạng lưới đài phát thanh đến tận thôn, xóm.

Thứ năm, chủ trương xã hội hóa các hoạt động tư pháp, bổ trợ tư pháp như công chứng, trợ giúp pháp lý, hòa giải đã và đang đặt ra nhiều trách nhiệm cho chính quyền cơ sở, mà trực tiếp là công chức tư pháp - hộ tịch. Chẳng hạn như, công chức tư pháp - hộ tịch phải phối hợp rất chặt chẽ với các Trung tâm hoặc Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý để tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu động tại địa bàn cấp xã, duy trì sinh hoạt của câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, xây dựng và bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ công tác viên trợ giúp pháp lý tại cơ sở, qua đó, giúp người dân, đặc biệt là người nghèo, các đối tượng chính sách thuộc diện được hưởng trợ giúp pháp lý được tiếp cận thông tin pháp luật, đặc biệt là những thông tin liên quan trực tiếp đến những vấn đề vướng mắc về pháp luật trong cuộc sống của họ và sử dụng các dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí…

Thứ sáu, công chức tư pháp - hộ tịch góp phần xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Mục tiêu của quy chế dân chủ ở cơ sở là hướng tới mục tiêu đảm bảo để thực hiện phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với việc giải quyết các công việc tại địa phương. Khi chính quyền cơ sở đưa ra một chính sách, kế hoạch, dự án đầu tư cụ thể, thì thông thường, công chức tư pháp - hộ tịch có trách nhiệm phổ biến, giải thích cho từng người với mục đích giúp người dân hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu chính xác, từ đó, người dân xác định được vị trí, trách nhiệm của mình đối với các kế hoạch đó. Bên cạnh đó, công chức tư pháp - hộ tịch cũng cần công khai cho nhân dân biết các nội dung quan trọng để nhân dân đóng góp ý kiến, bàn bạc trao đổi và cùng giải quyết các công việc chung trên tinh thần tôn trọng quyền và nghĩa vụ của nhau.

2. Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Nhằm tiếp tục xây dựng đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã đủ mạnh, giúp chính quyền cấp xã trong việc triển khai các nhiệm vụ tư pháp trên địa bàn theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX: “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”, các cấp, các ngành cần có kế hoạch để nâng cao năng lực của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã, trong đó, quan tâm triển khai các giải pháp sau:

Một là, căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn, tính chất, đặc điểm, yêu cầu công việc; vị trí địa lý; tính chất, quy mô, cơ cấu dân số; tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa; chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và tình hình an ninh - trật tự của từng địa phương để bố trí công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã phù hợp, đảm bảo đủ số lượng, có chất lượng đủ sức tham mưu cho chính quyền cấp xã thực hiện tốt công tác tư pháp trên địa bàn. Không bố trí công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã kiêm nhiệm các công việc khác ngoài nhiệm vụ công tác tư pháp.

Hai là, tiến hành rà soát, đánh giá trình độ, năng lực, sở trường của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã hiện có để điều động, bố trí, chuyển đổi vị trí công tác phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời, phát huy tối đa năng lực, sở trường của mỗi người, phục vụ tốt hơn nhiệm vụ được giao.

Ba là, chú trọng quy hoạch, đề bạt, luân chuyển công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã có khả năng phát triển vào các vị trí chủ chốt của bộ máy chính quyền cấp xã; tránh đề bạt công chức khi không còn khả năng phát triển hoặc có biểu hiện cầm chừng. Kiên quyết không bố trí công chức bị kỷ luật hoặc không hoàn thành tốt nhiệm vụ ở địa phương, lĩnh vực công tác này, lại được bố trí sang đảm nhận nhiệm vụ công chức tư pháp - hộ tịch.

Bốn là, quan tâm thực hiện đúng và kịp thời các chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã như: Chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài; chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng; chính sách thu hút, bố trí, sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác tại xã; có chế độ phụ cấp đặc biệt đối với các xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi... Nhằm động viên, khuyến khích, thu hút cán bộ vào công tác trong lĩnh vực này.

Năm là, tiếp tục quan tâm tạo điều kiện cho đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch tham gia các lớp đào tạo tập trung, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật để không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ trong giải quyết các công việc hàng ngày.

Lê Văn Trí
Trường Trung cấp Luật Tây Bắc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: