Thứ sáu 16/01/2026 10:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến đạo đức xã hội ở Việt Nam hiện nay

Giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến đạo đức xã hội ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Bài viết này đề cập đến giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến các giá trị đạo đức trong xã hội, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đạo đức xã hội ở Việt Nam.

Abstract: This article deals with the limitation of freedom of contract in commercial activities related to moral values in society, assesses the current situation and proposes solutions to improve the efficiency of law implementation on the limitation of freedom of contracts in commercial activities related to social ethics in Vietnam.

1. Quy định pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến đạo đức xã hội

Tự do hợp đồng là một trong các quyền kinh tế cơ bản của con người, cho phép các chủ thể được tự do lựa chọn đối tác hợp đồng, tự do thỏa thuận điều khoản trong hợp đồng, tự do lựa chọn hình thức hợp đồng… Tuy nhiên, tự do hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Pháp luật ở các giai đoạn khác nhau đều đặt ra những giới hạn tự do hợp đồng. Một trong những giới hạn tự do hợp đồng mà bất kỳ loại hợp đồng nào đều phải tuân thủ đó là không được vi phạm “điều cấm của luật” (quy định trước đây là không được trái pháp luật) và đạo đức xã hội. Đây cũng chính là một nguyên tắc cơ bản trong chế định hợp đồng ở Việt Nam qua các thời kỳ. So với “điều cấm của luật”, đạo đức xã hội có sự khác biệt. Pháp luật có thể dễ dàng quy định những điều cấm, yêu cầu các chủ thể hợp đồng nói chung và chủ thể hợp đồng trong hoạt động thương mại nói riêng không được thực hiện thì pháp luật lại không thể quy định cụ thể những giá trị đạo đức. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực cho việc hành xử các mối quan hệ trong xã hội đã được nhân dân công nhận và thực hiện qua nhiều thế hệ. Thỏa thuận nội dung hợp đồng trái với các chuẩn mực đó thì hợp đồng bị vô hiệu. Nhìn chung, đạo đức xã hội là một khuôn khổ chuẩn mực cho việc thực hiện tự do hợp đồng[1]. Pháp luật của một số quốc gia chính thức đặt ra giới hạn tự do hợp đồng nếu có sự vi phạm đạo đức xã hội. Pháp luật của Cộng hòa liên bang Đức gọi đó là “đạo đức xã hội”. Việc các chủ thể vi phạm các giá trị đạo đức sẽ là căn cứ để hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, cụ thể “hợp đồng bị vô hiệu nếu vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc đạo đức xã hội, trừ trường hợp quy định rằng điều cấm không nhằm làm vô hiệu các hợp đồng vi phạm điều này”[2]. Trong pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ, tính trái đạo đức xã hội cũng được xác định là một trong những trường hợp làm cho hợp đồng bất hợp pháp. Tính trái đạo đức xã hội trong pháp luật Hoa Kỳ được quy định khá cụ thể, thể hiện một quan hệ hợp đồng giữa hai hoặc nhiều bên không cân bằng hoặc có một bên yếu thế trong quá trình đàm phán hoặc mặc cả nên đã cam kết hợp đồng hoặc một số điều khoản không thỏa đáng, thiếu lương tâm[3].

Ở Việt Nam, trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, đạo đức xã hội luôn là một trong những căn cứ quan trọng giới hạn tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng của các chủ thể. Nhìn chung, giới hạn tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật và đạo đức xã hội được coi là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hợp đồng từ trước đến nay. Trước đây, “đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” (Điều 128 Bộ luật Dân sự năm 2005). Đến nay, khái niệm đạo đức xã hội theo Bộ luật Dân sự năm 2015 có sự thay đổi so với Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể là: “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” (Điều 123). Vấn đề này được quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”. Ngoài ra, điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định “mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.

Trong hoạt động thương mại, đạo đức xã hội cũng được đề cập với tư cách là nguyên tắc cơ bản, các bên có quyền tự do thỏa thuận nhưng cũng không được trái đạo đức xã hội, cụ thể như sau: “Các bên có quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên” (khoản 1 Điều 11 Luật Thương mại năm 2005). Như vậy, khi các bên giao kết và thực hiện hợp đồng trong hoạt động thương mại đều phải tuân thủ các quy định trên của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 liên quan đến đạo đức xã hội.

2. Thực trạng thực thi pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến đạo đức xã hội ở Việt Nam hiện nay

Đạo đức xã hội trong hoạt động thương mại có thể được thể hiện ở nhiều phương diện. Tuy nhiên, việc xác định thỏa thuận trái với đạo đức xã hội thì không thể tìm kiếm trong quy định của pháp luật giống như “điều cấm của luật” mà phải dựa vào “chuẩn mực ứng xử chung được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”. Điều này là một trong những khó khăn đối với Tòa án, bởi “không thể thống kê được đầy đủ một cách có hệ thống các nội dung, đặc tính của khái niệm đạo đức xã hội”[4]. Hơn nữa, quan điểm về giá trị đạo đức xã hội ở mỗi vùng miền, mỗi thời điểm, mỗi giai đoạn cũng khác nhau. Vì vậy, rất khó để xây dựng được những “chuẩn mực ứng xử chung” và thống nhất để có thể dựa vào đó giải quyết các vụ việc cụ thể. Điều này phụ thuộc vào quan điểm xét xử của các thẩm phán ở Tòa án.

Thực tiễn cho thấy, hợp đồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu do nội dung trái với đạo đức xã hội là không phổ biến. Tuy nhiên, giải quyết các tranh chấp liên quan đến đạo đức xã hội lại phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan, cũng như quan điểm xét xử của mỗi cấp Tòa án. Chính điều này đã tạo ra sự không thống nhất trong việc giải quyết các vụ việc phát sinh. Có thể nêu ra ví dụ sau: Công ty Chailease (bị đơn) ký hợp đồng cho thuê tài chính số B.0811228801 với Công ty Sao đỏ (nguyên đơn). Sau đó, hai bên có tranh chấp thương mại. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án nhận thấy, trước khi ký hợp đồng cho thuê tài chính, phía bị đơn hiểu rất rõ về hoàn cảnh của nguyên đơn là đang gặp khó khăn về tài chính. Điều này khiến nguyên đơn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán 5 rơ-mooc với công ty Chien You Việt Nam. Nguyên đơn đã tìm đến bị đơn để đàm phán, ký kết hợp đồng cho thuê tài chính nhằm giúp nguyên đơn giải quyết bế tắc về tài chính. Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử nhận định, mặc dù không có chứng cứ để khẳng định nguyên đơn ép buộc bị đơn ký kết hợp đồng cho thuê nhưng vì quá khó khăn về tài chính và không có cách nào khác nên nguyên đơn phải chấp nhận bất lợi từ việc ký kết hợp đồng nêu trên. Tòa án cho rằng có đủ cơ sở để xác định hợp đồng cho thuê tài chính giữa các bên là trái với đạo đức xã hội. Việc giao kết hợp đồng đã không bảo đảm sự tương thân, tương ái, không phát huy giá trị đạo đức cao đẹp của người Việt để hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong kinh doanh, cùng phát triển và cùng thu lợi nhuận. Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Bản án số 60/2014/KDTM - PT ngày 03/10/2014. Theo Bản án, hợp đồng cho thuê tài chính giữa các bên không những trái pháp luật mà còn trái với đạo đức xã hội[5]. Tuy nhiên, khi vụ việc được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm ngày 12/3/2018, Tòa án ở cấp giám đốc thẩm lại cho rằng, mục đích và nội dung của hợp đồng cho thuê tài chính B.0811228801 là không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội[6]. Vì vậy, Bản án số 60/2014/KDTM-PT ngày 03/10/2014 bị hủy, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử lại theo quy định của pháp luật. Như vậy, cùng nội dung một vụ việc xảy ra nhưng kết quả xét xử ở hai cấp (phúc thẩm và giám đốc thẩm) lại khác nhau. Việc xét xử của Tòa án ở cấp phúc thẩm cho thấy hợp đồng cho thuê tài chính của hai bên có vi phạm đạo đức xã hội; còn Tòa án xét xử ở cấp giám đốc thẩm thì cho rằng hợp đồng không có vi phạm đạo đức xã hội. Như vậy, thông qua vụ việc trên, có thể thấy rằng, để xác định một hợp đồng trong hoạt động thương mại vi phạm các giá trị đạo đức xã hội là một vấn đề khá phức tạp, hoàn toàn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan, sự nhìn nhận, đánh giá của chủ thể có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ việc. Đây là vấn đề tất yếu sẽ xảy ra bởi thực tế cho thấy, giá trị đạo đức xã hội không thể được quy định cụ thể giống như những “điều cấm của luật”. Qua thực tiễn xét xử của Tòa án có thể thấy, đạo đức xã hội không được quy định cụ thể, thực sự là một khó khăn và thách thức lớn cho công tác xét xử của Tòa án.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến đạo đức xã hội ở Việt Nam

Từ việc phân tích khía cạnh thực tiễn thi hành quy định pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến đạo đức xã hội, có thể nhận thấy rằng, thực tế thực hiện còn tồn tại hạn chế, bất cập. Nói cách khác, việc vận dụng đạo đức xã hội để giải quyết một số tranh chấp hợp đồng trong hoạt động thương mại còn chưa thống nhất. Điều này là tất yếu bởi các giá trị đạo đức xã hội không được pháp luật quy định cụ thể, nói đúng hơn là không thể quy định cụ thể giống như “điều cấm của luật”. Vì vậy, giải pháp phù hợp bảo đảm cho việc áp dụng thống nhất khía cạnh này khi giải quyết vụ việc phát sinh là Tòa án có thẩm quyền cần có văn bản hướng dẫn, có thể tập trung vào việc xác định một số giá trị đạo đức xã hội trong hoạt động thương mại như sau:

(i) Sự trung thực trong kinh doanh. Điều này thể hiện khía cạnh nhân cách đạo đức của các chủ thể, thể hiện sự ngay thẳng, thật thà, không dối trá, giả dối, gian lận của các chủ thể.

(ii) Thiện chí trong kinh doanh: Sự thiện chí thể hiện thái độ hợp tác, giúp đỡ nhau giữa các bên chủ thể trong quá trình xác lập và thực hiện hợp đồng trong hoạt động thương mại. Bên cạnh việc quan tâm đến quyền lợi ích hợp pháp của bản thân, còn phải quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác và Nhà nước, xã hội.

(iii) Có hay không việc hưởng lợi trên sự đau khổ của người khác: Các chủ thể khi hợp tác kinh doanh có thể gặp phải những rủi ro và những rủi ro này có thể gây ra thiệt hại ít hay nhiều cho mỗi chủ thể. Tuy nhiên, việc một bên lợi dụng điều này để hưởng lợi mà không quan tâm đến khó khăn, vất vả của chủ thể khác thì cũng là một vấn đề liên quan đến khía cạnh đạo đức.

So sánh với các khía cạnh khác của giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại, việc đưa ra một số giải pháp cho giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến đạo đức xã hội là một vấn đề khó khăn, pháp luật không thể đưa ra quy định cụ thể các giá trị đạo đức xã hội bởi đạo đức xã hội là chuẩn mực chung hình thành trong xã hội, được con người thừa nhận. Do vậy, hướng hoàn thiện mà tác giả đưa ra tập trung vào góc độ thực tiễn như đã phân tích ở trên, nhằm bảo đảm có sự áp dụng thống nhất giữa các Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến đạo đức xã hội.

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh

Khoa Luật, Trường Đại học Thương mại

[1]. Đỗ Văn Đại (2018), Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 606.

[2]. Vũ Thị Lan Anh, Chế định hợp đồng theo pháp luật của Cộng hòa liên bang Đức, Tạp chí Luật học - Đặc san tháng 9/2011.

[3]. Nguyễn Thị Mai Hương, So sánh chế định giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ, Luận văn Thạc sỹ Luật Kinh tế, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009.

[4]. Nguyễn Minh Tuấn (2014), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 176.

[5]. Bản án số 60/2014/KDTM-PT về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính của Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, được đăng tải trên sách chuyên khảo của Đỗ Văn Đại (2018), Luật hợp đồng Việt Nam, bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức, tr. 601 - 606.

[6]. Quyết định giám đốc thẩm số 01/2018/KDTM-GĐT về giải quyết tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 376), tháng 3/2023

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: