Thứ bảy 08/08/2026 23:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến đạo đức xã hội ở Việt Nam hiện nay

Giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến đạo đức xã hội ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Bài viết này đề cập đến giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến các giá trị đạo đức trong xã hội, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đạo đức xã hội ở Việt Nam.

Abstract: This article deals with the limitation of freedom of contract in commercial activities related to moral values in society, assesses the current situation and proposes solutions to improve the efficiency of law implementation on the limitation of freedom of contracts in commercial activities related to social ethics in Vietnam.

1. Quy định pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến đạo đức xã hội

Tự do hợp đồng là một trong các quyền kinh tế cơ bản của con người, cho phép các chủ thể được tự do lựa chọn đối tác hợp đồng, tự do thỏa thuận điều khoản trong hợp đồng, tự do lựa chọn hình thức hợp đồng… Tuy nhiên, tự do hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Pháp luật ở các giai đoạn khác nhau đều đặt ra những giới hạn tự do hợp đồng. Một trong những giới hạn tự do hợp đồng mà bất kỳ loại hợp đồng nào đều phải tuân thủ đó là không được vi phạm “điều cấm của luật” (quy định trước đây là không được trái pháp luật) và đạo đức xã hội. Đây cũng chính là một nguyên tắc cơ bản trong chế định hợp đồng ở Việt Nam qua các thời kỳ. So với “điều cấm của luật”, đạo đức xã hội có sự khác biệt. Pháp luật có thể dễ dàng quy định những điều cấm, yêu cầu các chủ thể hợp đồng nói chung và chủ thể hợp đồng trong hoạt động thương mại nói riêng không được thực hiện thì pháp luật lại không thể quy định cụ thể những giá trị đạo đức. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực cho việc hành xử các mối quan hệ trong xã hội đã được nhân dân công nhận và thực hiện qua nhiều thế hệ. Thỏa thuận nội dung hợp đồng trái với các chuẩn mực đó thì hợp đồng bị vô hiệu. Nhìn chung, đạo đức xã hội là một khuôn khổ chuẩn mực cho việc thực hiện tự do hợp đồng[1]. Pháp luật của một số quốc gia chính thức đặt ra giới hạn tự do hợp đồng nếu có sự vi phạm đạo đức xã hội. Pháp luật của Cộng hòa liên bang Đức gọi đó là “đạo đức xã hội”. Việc các chủ thể vi phạm các giá trị đạo đức sẽ là căn cứ để hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, cụ thể “hợp đồng bị vô hiệu nếu vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc đạo đức xã hội, trừ trường hợp quy định rằng điều cấm không nhằm làm vô hiệu các hợp đồng vi phạm điều này”[2]. Trong pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ, tính trái đạo đức xã hội cũng được xác định là một trong những trường hợp làm cho hợp đồng bất hợp pháp. Tính trái đạo đức xã hội trong pháp luật Hoa Kỳ được quy định khá cụ thể, thể hiện một quan hệ hợp đồng giữa hai hoặc nhiều bên không cân bằng hoặc có một bên yếu thế trong quá trình đàm phán hoặc mặc cả nên đã cam kết hợp đồng hoặc một số điều khoản không thỏa đáng, thiếu lương tâm[3].

Ở Việt Nam, trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, đạo đức xã hội luôn là một trong những căn cứ quan trọng giới hạn tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng của các chủ thể. Nhìn chung, giới hạn tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật và đạo đức xã hội được coi là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hợp đồng từ trước đến nay. Trước đây, “đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” (Điều 128 Bộ luật Dân sự năm 2005). Đến nay, khái niệm đạo đức xã hội theo Bộ luật Dân sự năm 2015 có sự thay đổi so với Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể là: “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” (Điều 123). Vấn đề này được quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”. Ngoài ra, điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định “mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.

Trong hoạt động thương mại, đạo đức xã hội cũng được đề cập với tư cách là nguyên tắc cơ bản, các bên có quyền tự do thỏa thuận nhưng cũng không được trái đạo đức xã hội, cụ thể như sau: “Các bên có quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên” (khoản 1 Điều 11 Luật Thương mại năm 2005). Như vậy, khi các bên giao kết và thực hiện hợp đồng trong hoạt động thương mại đều phải tuân thủ các quy định trên của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 liên quan đến đạo đức xã hội.

2. Thực trạng thực thi pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến đạo đức xã hội ở Việt Nam hiện nay

Đạo đức xã hội trong hoạt động thương mại có thể được thể hiện ở nhiều phương diện. Tuy nhiên, việc xác định thỏa thuận trái với đạo đức xã hội thì không thể tìm kiếm trong quy định của pháp luật giống như “điều cấm của luật” mà phải dựa vào “chuẩn mực ứng xử chung được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”. Điều này là một trong những khó khăn đối với Tòa án, bởi “không thể thống kê được đầy đủ một cách có hệ thống các nội dung, đặc tính của khái niệm đạo đức xã hội”[4]. Hơn nữa, quan điểm về giá trị đạo đức xã hội ở mỗi vùng miền, mỗi thời điểm, mỗi giai đoạn cũng khác nhau. Vì vậy, rất khó để xây dựng được những “chuẩn mực ứng xử chung” và thống nhất để có thể dựa vào đó giải quyết các vụ việc cụ thể. Điều này phụ thuộc vào quan điểm xét xử của các thẩm phán ở Tòa án.

Thực tiễn cho thấy, hợp đồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu do nội dung trái với đạo đức xã hội là không phổ biến. Tuy nhiên, giải quyết các tranh chấp liên quan đến đạo đức xã hội lại phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan, cũng như quan điểm xét xử của mỗi cấp Tòa án. Chính điều này đã tạo ra sự không thống nhất trong việc giải quyết các vụ việc phát sinh. Có thể nêu ra ví dụ sau: Công ty Chailease (bị đơn) ký hợp đồng cho thuê tài chính số B.0811228801 với Công ty Sao đỏ (nguyên đơn). Sau đó, hai bên có tranh chấp thương mại. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án nhận thấy, trước khi ký hợp đồng cho thuê tài chính, phía bị đơn hiểu rất rõ về hoàn cảnh của nguyên đơn là đang gặp khó khăn về tài chính. Điều này khiến nguyên đơn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán 5 rơ-mooc với công ty Chien You Việt Nam. Nguyên đơn đã tìm đến bị đơn để đàm phán, ký kết hợp đồng cho thuê tài chính nhằm giúp nguyên đơn giải quyết bế tắc về tài chính. Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử nhận định, mặc dù không có chứng cứ để khẳng định nguyên đơn ép buộc bị đơn ký kết hợp đồng cho thuê nhưng vì quá khó khăn về tài chính và không có cách nào khác nên nguyên đơn phải chấp nhận bất lợi từ việc ký kết hợp đồng nêu trên. Tòa án cho rằng có đủ cơ sở để xác định hợp đồng cho thuê tài chính giữa các bên là trái với đạo đức xã hội. Việc giao kết hợp đồng đã không bảo đảm sự tương thân, tương ái, không phát huy giá trị đạo đức cao đẹp của người Việt để hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong kinh doanh, cùng phát triển và cùng thu lợi nhuận. Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Bản án số 60/2014/KDTM - PT ngày 03/10/2014. Theo Bản án, hợp đồng cho thuê tài chính giữa các bên không những trái pháp luật mà còn trái với đạo đức xã hội[5]. Tuy nhiên, khi vụ việc được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm ngày 12/3/2018, Tòa án ở cấp giám đốc thẩm lại cho rằng, mục đích và nội dung của hợp đồng cho thuê tài chính B.0811228801 là không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội[6]. Vì vậy, Bản án số 60/2014/KDTM-PT ngày 03/10/2014 bị hủy, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử lại theo quy định của pháp luật. Như vậy, cùng nội dung một vụ việc xảy ra nhưng kết quả xét xử ở hai cấp (phúc thẩm và giám đốc thẩm) lại khác nhau. Việc xét xử của Tòa án ở cấp phúc thẩm cho thấy hợp đồng cho thuê tài chính của hai bên có vi phạm đạo đức xã hội; còn Tòa án xét xử ở cấp giám đốc thẩm thì cho rằng hợp đồng không có vi phạm đạo đức xã hội. Như vậy, thông qua vụ việc trên, có thể thấy rằng, để xác định một hợp đồng trong hoạt động thương mại vi phạm các giá trị đạo đức xã hội là một vấn đề khá phức tạp, hoàn toàn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan, sự nhìn nhận, đánh giá của chủ thể có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ việc. Đây là vấn đề tất yếu sẽ xảy ra bởi thực tế cho thấy, giá trị đạo đức xã hội không thể được quy định cụ thể giống như những “điều cấm của luật”. Qua thực tiễn xét xử của Tòa án có thể thấy, đạo đức xã hội không được quy định cụ thể, thực sự là một khó khăn và thách thức lớn cho công tác xét xử của Tòa án.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến đạo đức xã hội ở Việt Nam

Từ việc phân tích khía cạnh thực tiễn thi hành quy định pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến đạo đức xã hội, có thể nhận thấy rằng, thực tế thực hiện còn tồn tại hạn chế, bất cập. Nói cách khác, việc vận dụng đạo đức xã hội để giải quyết một số tranh chấp hợp đồng trong hoạt động thương mại còn chưa thống nhất. Điều này là tất yếu bởi các giá trị đạo đức xã hội không được pháp luật quy định cụ thể, nói đúng hơn là không thể quy định cụ thể giống như “điều cấm của luật”. Vì vậy, giải pháp phù hợp bảo đảm cho việc áp dụng thống nhất khía cạnh này khi giải quyết vụ việc phát sinh là Tòa án có thẩm quyền cần có văn bản hướng dẫn, có thể tập trung vào việc xác định một số giá trị đạo đức xã hội trong hoạt động thương mại như sau:

(i) Sự trung thực trong kinh doanh. Điều này thể hiện khía cạnh nhân cách đạo đức của các chủ thể, thể hiện sự ngay thẳng, thật thà, không dối trá, giả dối, gian lận của các chủ thể.

(ii) Thiện chí trong kinh doanh: Sự thiện chí thể hiện thái độ hợp tác, giúp đỡ nhau giữa các bên chủ thể trong quá trình xác lập và thực hiện hợp đồng trong hoạt động thương mại. Bên cạnh việc quan tâm đến quyền lợi ích hợp pháp của bản thân, còn phải quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác và Nhà nước, xã hội.

(iii) Có hay không việc hưởng lợi trên sự đau khổ của người khác: Các chủ thể khi hợp tác kinh doanh có thể gặp phải những rủi ro và những rủi ro này có thể gây ra thiệt hại ít hay nhiều cho mỗi chủ thể. Tuy nhiên, việc một bên lợi dụng điều này để hưởng lợi mà không quan tâm đến khó khăn, vất vả của chủ thể khác thì cũng là một vấn đề liên quan đến khía cạnh đạo đức.

So sánh với các khía cạnh khác của giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại, việc đưa ra một số giải pháp cho giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến đạo đức xã hội là một vấn đề khó khăn, pháp luật không thể đưa ra quy định cụ thể các giá trị đạo đức xã hội bởi đạo đức xã hội là chuẩn mực chung hình thành trong xã hội, được con người thừa nhận. Do vậy, hướng hoàn thiện mà tác giả đưa ra tập trung vào góc độ thực tiễn như đã phân tích ở trên, nhằm bảo đảm có sự áp dụng thống nhất giữa các Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến đạo đức xã hội.

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh

Khoa Luật, Trường Đại học Thương mại

[1]. Đỗ Văn Đại (2018), Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 606.

[2]. Vũ Thị Lan Anh, Chế định hợp đồng theo pháp luật của Cộng hòa liên bang Đức, Tạp chí Luật học - Đặc san tháng 9/2011.

[3]. Nguyễn Thị Mai Hương, So sánh chế định giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ, Luận văn Thạc sỹ Luật Kinh tế, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009.

[4]. Nguyễn Minh Tuấn (2014), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 176.

[5]. Bản án số 60/2014/KDTM-PT về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính của Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, được đăng tải trên sách chuyên khảo của Đỗ Văn Đại (2018), Luật hợp đồng Việt Nam, bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức, tr. 601 - 606.

[6]. Quyết định giám đốc thẩm số 01/2018/KDTM-GĐT về giải quyết tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 376), tháng 3/2023

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: