Chủ nhật 25/10/2026 21:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến điều khoản thanh toán bằng ngoại tệ ở Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam, giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến điều khoản thanh toán bằng ngoại tệ có sự khác biệt trước và sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, ở bất kỳ giai đoạn nào, thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ đều có liên quan trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, sự phát triển chung của cộng đồng. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, từ đó, đưa ra những giải pháp phù hợp, góp phần hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay.


1. Sự cần thiết đưa ra giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến điều khoản thanh toán bằng ngoại tệ ở Việt Nam hiện nay

Thỏa thuận thanh toán trong hợp đồng là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với các bên chủ thể hợp đồng. Thông thường, các bên chủ thể đưa ra điều khoản thanh toán được thể hiện bằng tiền nội tệ, nhưng cũng có những trường hợp các bên thỏa thuận thanh toán bằng tiền ngoại tệ. Có thể hiểu ngoại tệ là đồng tiền của quốc gia, vùng lãnh thổ khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực. Trên thực tế giao thương, thường coi trọng ngoại tệ mạnh là những đồng tiền được sử dụng rộng rãi trong giao dịch quốc tế như USD (đô la Mỹ); EURO (đồng tiền chung châu Âu); GBP (Bảng Anh); CAD (đô la Canada); CHF (Phrăng Thụy Sỹ); YIP (Yên Nhật)[1]. Như vậy, việc thanh toán hợp đồng trong hoạt động thương mại có thể bằng tiền nội tệ hoặc ngoại tệ. Tuy nhiên, điều khoản thanh toán bằng ngoại tệ bị giới hạn ở nhiều quốc gia, chẳng hạn, Indonesia cấm sử dụng ngoại tệ thanh toán giao dịch trong nước[2], Zimbabwe (quốc gia ở Nam Phi) cấm sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch tại nước này ngoại trừ việc thanh toán vé máy bay cho các hãng hàng không nước ngoài[3], ở Nga, các hợp đồng có thể được ký kết liên quan đến ngoại tệ nhưng thanh toán thực tế phải được thực hiện bằng đồng Rúp (tiền nội tệ của nước này)[4]… Quy định giới hạn tự do hợp đồng liên quan điều khoản thanh toán bằng ngoại tệ ở mỗi một quốc gia được thể hiện ở các mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung, việc đưa ra giới hạn tự do hợp đồng ở khía cạnh này theo quan điểm của tác giả có ý nghĩa quan trọng bởi các lý do sau:

- Giảm sự phụ thuộc của các quốc gia vào đồng ngoại tệ của các quốc gia khác. Thừa nhận rộng rãi tiền ngoại tệ trong các giao dịch, đặc biệt là các giao dịch trong nước sẽ làm gia tăng sự suy thoái của đồng nội tệ, xuất hiện trường hợp các bên thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ mạnh, tỷ giá quy đổi giữa nội tệ và ngoại tệ có sự phân biệt cao thấp, đồng tiền nội tệ có thể bị mất giá. Vì vậy, việc hạn chế thanh toán bằng ngoại tệ phần nào giúp các quốc gia cải thiện đồng tiền nội tệ của mình.

- Bảo đảm sự ổn định cho nền kinh tế. Tiền nội tệ do Nhà nước ban hành, khi giá trị đồng nội tệ được bảo đảm hay nói cách khác được kiểm soát tốt trong mối quan hệ với đồng ngoại tệ sẽ là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm cho nền kinh tế ổn định phát triển, hạn chế được lạm phát cũng như sự suy thoái kinh tế.

- Tạo ra cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể, nhằm xử lý đối với các giao dịch vi phạm quy định về ngoại tệ. Xu hướng lựa chọn ngoại tệ làm phương tiện thanh toán trong các hợp đồng trong giai đoạn hiện nay ngày càng nhiều. Vì vậy, các quy định của pháp luật sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các vấn đề liên quan đến ngoại tệ, trong đó có cả những tranh chấp và xung đột phát sinh từ những giao dịch này. Trong một số trường hợp, các bên thỏa thuận dùng ngoại tệ để xác định tỷ giá quy đổi khi thanh toán, nếu pháp luật không có quy định cụ thể về vấn đề này thì thực tế cũng có khả năng phát sinh tranh chấp giữa các bên và cần phải được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu các bên không thể tự thỏa thuận.

2. Thực trạng pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hình thức hợp đồng ở Việt Nam hiện nay

Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối năm 2013 đã có những quy định cụ thể liên quan đến việc các bên chủ thể sử dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán. Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) quy định: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Bên cạnh đó, Điều 4 Thông tư số 32/2013/TT-NHNN ngày 26/12/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam (Thông tư số 32/2013/TT-NHNN) và Điều 1 Thông tư số 03/2019/TT-NHNN ngày 29/3/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 32/2013/TT-NHNN (Thông tư số 03/2019/TT-NHNN) cũng quy định cụ thể các trường hợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, nếu không thuộc các trường hợp được sử dụng ngoại hối theo quy định tại Thông tư số 32/2013/TT-NHNN và Thông tư số 03/2019/TT-NHNN thì việc các bên chủ thể trong hợp đồng thỏa thuận thanh toán bằng ngoại hối sẽ bị coi là vi phạm quy định của Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013). Sự vi phạm này được đặt trong mối liên hệ với Bộ luật Dân sự năm 2015 thì không bị coi là vô hiệu, bởi Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định rõ ràng: “Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”. Đối chiếu với quy định này thì quy định cấm giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ là quy định trong pháp lệnh mà không phải là quy định của luật. Nếu giao dịch vi phạm pháp lệnh về ngoại hối được các bên xác lập trước thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật, tức là được xác lập trước ngày 01/01/2017 thì căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết, đó là “giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này”. Hợp đồng do các bên xác lập trong trường hợp này không thể bị tuyên bố vô hiệu nữa. Tuy nhiên, nếu các bên vẫn thực hiện thì sẽ áp dụng hình thức xử phạt hành chính quy định tại Điều 23 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

Thực tế còn cho thấy, có một số trường hợp, các bên chủ thể trong hợp đồng sử dụng ngoại tệ khi giao dịch nhưng không dùng ngoại tệ để thanh toán, nghĩa là ngoại tệ được sử dụng làm phương tiện quy đổi sang tiền Việt Nam. Quy định pháp luật hiện hành và hướng giải quyết của Tòa án đều thừa nhận hợp đồng vẫn có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, tỷ giá để quy đổi thành tiền Việt Nam được xác định như thế nào thì pháp luật không quy định rõ. Vì vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp liên quan đến vấn đề này, Tòa án đã phải thực hiện theo một trong các phương hướng sau:

(i) Nếu các bên trong hợp đồng tự thỏa thuận với nhau về tỷ giá giữa ngoại tệ với tiền Việt Nam thì Tòa án ưu tiên áp dụng thỏa thuận đó. Ví dụ: Bản án số 09/2019/DS-PT của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang ngày 27/3/2019 về tranh chấp kiện đòi tài sản và yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu. Theo bản án này, anh Kim Ngọc T (nguyên đơn) cho chị Trần Thị H (bị đơn) vay một số tiền với nhiều lần như sau: Lần 01 vào ngày 22/8/2011 chị H nhận số tiền 12.000.000 đồng; lần 02 ngày 17/10/2011 chị H nhận số tiền 30.000.000 đồng; lần 03 ngày 25/10/2011 chị H nhận số tiền 38.000.000 đồng; lần 04 ngày 26/02/2011 chị H nhận số tiền 29.000.000 đồng; lần 05 ngày 10/12/2011 chị H nhận số tiền 8.000 USD (tám nghìn đô la Mỹ); lần 06 ngày 22/10/2011 chị H nhận số tiền 80.000.000 đồng; lần 07 ngày 20/2/2012 chị H nhận số tiền 59.000.000 đồng; lần 08 ngày 01/02/2012 chị H nhận số tiền 3.000 USD (ba nghìn đô la Mỹ). Tổng số tiền chị H đã nhận là 248.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi tám triệu đồng) tiền Việt Nam và 11.000 USD (mười một nghìn đô la Mỹ). Trong quá trình kinh doanh, anh T đã đòi chị H trả tiền rất nhiều lần, nhưng chị H không trả. Hai bên xảy ra tranh chấp và vụ việc được giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ vào nội dung vụ việc và các chứng cứ có liên quan, Tòa án khẳng định giao dịch bằng ngoại tệ với số tiền là 11.000 USD là giao dịch dân sự vô hiệu căn cứ vào Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 và Điều 29 Nghị định số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối. Tòa án yêu cầu chị H phải trả cho anh T số tiền 11.000 USD đổi sang tiền Việt Nam. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 27/3/2019, theo thông tin tỷ giá đồng đô la Mỹ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam niêm yết thì tỷ giá hối đoái giữa đồng đô la Mỹ sang tiền Việt Nam là 1 USD = 23.160 đồng Việt Nam. Do việc anh T tự nguyện thỏa thuận 1 USD = 20.000 đồng Việt Nam, không cao hơn so với giá hiện tại, lại có lợi cho chị H, nên Hội đồng xét xử đã chấp thuận sự thỏa thuận này. Vậy chị H có trách nhiệm trả lại cho anh T số tiền 248.000.000 đồng Việt Nam + 11.000 USD (= 220.000.000 đồng Việt Nam) = 468.000.000 đồng Việt Nam[5].

(ii) Trong trường hợp các bên không có sự thỏa thuận về tỷ giá ngoại tệ với tiền Việt Nam, Tòa án sẽ phải xác định thời điểm hợp lý để tính giá quy đổi giữa ngoại tệ với tiền Việt Nam. Ví dụ: Theo Quyết định số 06/2012/KDTM-GĐT ngày 30/5/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, giữa Công ty An Bình và Công ty Hà Anh ký hợp đồng mua bán hàng hóa là sắn khô, đơn giá và giá trị thanh toán được thể hiện trong hợp đồng là tiền đô la Mỹ và không đề cập đến tỷ giá USD. Quá trình giải quyết vụ việc này không có đầy đủ căn cứ để kết luận hợp đồng giữa các bên vô hiệu. Tuy nhiên, hợp đồng hai bên ký kết lại không thể hiện tỷ giá quy đổi giữa USD với tiền Việt Nam nhưng trong hóa đơn Công ty An Bình phát hành cho Công ty Hà Anh lại tính bằng USD trên cơ sở quy đổi tỷ giá giữa USD và tiền Việt Nam. Tỷ giá quy đổi được thể hiện trong hóa đơn là tỷ giá tại thời điểm viết hóa đơn, không phải tỷ giá tại thời điểm thanh toán mà các bên đã thừa nhận trong biên bản đối chất tại phiên tòa. Thực tế, tỷ giá tại thời điểm phát hành hóa đơn và tỷ giá tại thời điểm thanh toán thường khác nhau, có thể chênh lệch một khoản tiền lớn. Bên phải thanh toán muốn xác định tỷ giá ở thời điểm phát hành hóa đơn, còn bên nhận thanh toán lại muốn xác định tỷ giá ở thời điểm thanh toán. Vụ việc này được Tòa án giải quyết trên cơ sở tỷ giá tại thời điểm thanh toán nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên[6].

Tuy còn tồn tại một vài hạn chế, nhưng quy định pháp luật liên quan đến việc sử dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán đã có sự thay đổi tích cực, góp phần giảm bớt một số lượng đáng kể hợp đồng do các chủ thể xác lập bị tuyên bố vô hiệu, đặc biệt là sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành. Những quy định này cần tiếp tục được duy trì, bổ sung, hoàn thiện nhằm thúc đẩy hơn nữa sự ổn định và phát triển của giao lưu dân sự nói chung và hoạt động thương mại nói riêng trong thời gian tới.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hình thức hợp đồng trong hoạt động thương mại hiện nay

Xu hướng sử dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán quy đổi sang tiền Việt Nam được nhiều chủ thể hợp đồng lựa chọn. Pháp luật hiện hành không tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này, nhưng cũng chưa có quy định cụ thể để xác định tỷ giá ngoại tệ với tiền Việt Nam, gây ra không ít khó khăn trong thực tiễn xét xử của Tòa án. Vì vậy, tác giả xin đưa ra một vài kiến nghị để bổ sung các vấn đề có liên quan Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) như sau:

Thứ nhất, nếu các bên tranh chấp hợp đồng tự thỏa thuận được tỷ giá quy đổi giữa ngoại tệ với tiền Việt Nam thì pháp luật công nhận sự thỏa thuận đó. Trong quá trình giải quyết vụ việc cụ thể, một số Tòa án cũng đã giải quyết theo hướng công nhận sự tự thỏa thuận của các bên. Điều này là phù hợp với thực tiễn, tuy nhiên, việc công nhận sự tự thỏa thuận này cần phải dựa vào tỷ giá quy đổi ngoại tệ sang tiền Việt Nam mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố. Nếu các bên giao kết hợp đồng thỏa thuận mức quy đổi thấp hơn tỷ giá quy đổi của Ngân hàng Nhà nước thì các cơ quan tài phán nên chấp nhận sự tự thỏa thuận này. Trong trường hợp sự tự thỏa thuận giữa các bên về tỷ giá quy đổi cao hơn mức quy đổi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì các cơ quan tài phán cần ra phán quyết các bên phải tuân theo mức quy đổi mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã công bố tại thời điểm thanh toán. Quy định này có tác dụng tránh được sự nâng giá trong thỏa thuận quy đổi giữa các bên, gây ảnh hưởng xấu đến quyền, lợi ích của các bên, đặc biệt là đối với bên phải thực hiện nghĩa vụ phải thanh toán.

Thứ hai, nếu các bên tranh chấp không thỏa thuận được tỷ giá quy đổi ngoại tệ với tiền Việt Nam mà xảy ra tranh chấp, văn bản pháp lý về ngoại tệ cần được quy định theo hướng “việc quy đổi ngoại tệ thành tiền Việt Nam sẽ được thực hiện theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán”. Tác giả đã phân tích trường hợp các bên tranh chấp xác định giá quy đổi thanh toán được thực hiện vào thời điểm viết hóa đơn, nhưng Tòa án không thừa nhận bởi giá quy đổi tại thời điểm viết hóa đơn với thời điểm có tranh chấp là khác nhau, có sự chênh lệch một khoản tiền khá lớn. Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án đã theo hướng các bên phải thanh toán cho nhau giá quy đổi tại thời điểm thanh toán, dựa trên tỷ giá quy đổi ngoại tệ với tiền Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước công bố. Tác giả đồng tình với hướng giải quyết của Tòa án bởi đồng tiền có sự thay đổi giá trị theo thời gian; việc con nợ chậm trễ trong việc thanh toán thường dẫn đến thiệt hại cho chủ nợ vì giá trị đồng tiền bị giảm sút do lạm phát. Vì vậy, việc quy đổi ngoại tệ sang tiền Việt Nam được thực hiện theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán là hợp lý. Liên quan đến vấn đề này khoản 2 Điều 7:108 Bộ nguyên tắc châu Âu năm 1998 về hợp đồng cũng giải quyết trường hợp này theo hướng “sử dụng tỷ giá ở thời điểm nghĩa vụ thanh toán đến hạn” (tức đến thời điểm phải thanh toán). Như vậy hướng giải quyết tranh chấp liên quan đến việc thanh toán bằng ngoại tệ ở Việt Nam trong thời gian qua đã thể hiện sự tương thích với quy định của Bộ nguyên tắc Châu Âu năm 1998.

ThS. Nguyễn Thị Kim Thanh
Đại học Thương mại Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: