Thứ ba 13/01/2026 04:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến điều khoản thanh toán bằng ngoại tệ ở Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam, giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến điều khoản thanh toán bằng ngoại tệ có sự khác biệt trước và sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, ở bất kỳ giai đoạn nào, thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ đều có liên quan trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, sự phát triển chung của cộng đồng. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, từ đó, đưa ra những giải pháp phù hợp, góp phần hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay.


1. Sự cần thiết đưa ra giới hạn tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại liên quan đến điều khoản thanh toán bằng ngoại tệ ở Việt Nam hiện nay

Thỏa thuận thanh toán trong hợp đồng là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với các bên chủ thể hợp đồng. Thông thường, các bên chủ thể đưa ra điều khoản thanh toán được thể hiện bằng tiền nội tệ, nhưng cũng có những trường hợp các bên thỏa thuận thanh toán bằng tiền ngoại tệ. Có thể hiểu ngoại tệ là đồng tiền của quốc gia, vùng lãnh thổ khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực. Trên thực tế giao thương, thường coi trọng ngoại tệ mạnh là những đồng tiền được sử dụng rộng rãi trong giao dịch quốc tế như USD (đô la Mỹ); EURO (đồng tiền chung châu Âu); GBP (Bảng Anh); CAD (đô la Canada); CHF (Phrăng Thụy Sỹ); YIP (Yên Nhật)[1]. Như vậy, việc thanh toán hợp đồng trong hoạt động thương mại có thể bằng tiền nội tệ hoặc ngoại tệ. Tuy nhiên, điều khoản thanh toán bằng ngoại tệ bị giới hạn ở nhiều quốc gia, chẳng hạn, Indonesia cấm sử dụng ngoại tệ thanh toán giao dịch trong nước[2], Zimbabwe (quốc gia ở Nam Phi) cấm sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch tại nước này ngoại trừ việc thanh toán vé máy bay cho các hãng hàng không nước ngoài[3], ở Nga, các hợp đồng có thể được ký kết liên quan đến ngoại tệ nhưng thanh toán thực tế phải được thực hiện bằng đồng Rúp (tiền nội tệ của nước này)[4]… Quy định giới hạn tự do hợp đồng liên quan điều khoản thanh toán bằng ngoại tệ ở mỗi một quốc gia được thể hiện ở các mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung, việc đưa ra giới hạn tự do hợp đồng ở khía cạnh này theo quan điểm của tác giả có ý nghĩa quan trọng bởi các lý do sau:

- Giảm sự phụ thuộc của các quốc gia vào đồng ngoại tệ của các quốc gia khác. Thừa nhận rộng rãi tiền ngoại tệ trong các giao dịch, đặc biệt là các giao dịch trong nước sẽ làm gia tăng sự suy thoái của đồng nội tệ, xuất hiện trường hợp các bên thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ mạnh, tỷ giá quy đổi giữa nội tệ và ngoại tệ có sự phân biệt cao thấp, đồng tiền nội tệ có thể bị mất giá. Vì vậy, việc hạn chế thanh toán bằng ngoại tệ phần nào giúp các quốc gia cải thiện đồng tiền nội tệ của mình.

- Bảo đảm sự ổn định cho nền kinh tế. Tiền nội tệ do Nhà nước ban hành, khi giá trị đồng nội tệ được bảo đảm hay nói cách khác được kiểm soát tốt trong mối quan hệ với đồng ngoại tệ sẽ là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm cho nền kinh tế ổn định phát triển, hạn chế được lạm phát cũng như sự suy thoái kinh tế.

- Tạo ra cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể, nhằm xử lý đối với các giao dịch vi phạm quy định về ngoại tệ. Xu hướng lựa chọn ngoại tệ làm phương tiện thanh toán trong các hợp đồng trong giai đoạn hiện nay ngày càng nhiều. Vì vậy, các quy định của pháp luật sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các vấn đề liên quan đến ngoại tệ, trong đó có cả những tranh chấp và xung đột phát sinh từ những giao dịch này. Trong một số trường hợp, các bên thỏa thuận dùng ngoại tệ để xác định tỷ giá quy đổi khi thanh toán, nếu pháp luật không có quy định cụ thể về vấn đề này thì thực tế cũng có khả năng phát sinh tranh chấp giữa các bên và cần phải được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu các bên không thể tự thỏa thuận.

2. Thực trạng pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hình thức hợp đồng ở Việt Nam hiện nay

Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối năm 2013 đã có những quy định cụ thể liên quan đến việc các bên chủ thể sử dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán. Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) quy định: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Bên cạnh đó, Điều 4 Thông tư số 32/2013/TT-NHNN ngày 26/12/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam (Thông tư số 32/2013/TT-NHNN) và Điều 1 Thông tư số 03/2019/TT-NHNN ngày 29/3/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 32/2013/TT-NHNN (Thông tư số 03/2019/TT-NHNN) cũng quy định cụ thể các trường hợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, nếu không thuộc các trường hợp được sử dụng ngoại hối theo quy định tại Thông tư số 32/2013/TT-NHNN và Thông tư số 03/2019/TT-NHNN thì việc các bên chủ thể trong hợp đồng thỏa thuận thanh toán bằng ngoại hối sẽ bị coi là vi phạm quy định của Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013). Sự vi phạm này được đặt trong mối liên hệ với Bộ luật Dân sự năm 2015 thì không bị coi là vô hiệu, bởi Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định rõ ràng: “Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”. Đối chiếu với quy định này thì quy định cấm giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ là quy định trong pháp lệnh mà không phải là quy định của luật. Nếu giao dịch vi phạm pháp lệnh về ngoại hối được các bên xác lập trước thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật, tức là được xác lập trước ngày 01/01/2017 thì căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết, đó là “giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này”. Hợp đồng do các bên xác lập trong trường hợp này không thể bị tuyên bố vô hiệu nữa. Tuy nhiên, nếu các bên vẫn thực hiện thì sẽ áp dụng hình thức xử phạt hành chính quy định tại Điều 23 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

Thực tế còn cho thấy, có một số trường hợp, các bên chủ thể trong hợp đồng sử dụng ngoại tệ khi giao dịch nhưng không dùng ngoại tệ để thanh toán, nghĩa là ngoại tệ được sử dụng làm phương tiện quy đổi sang tiền Việt Nam. Quy định pháp luật hiện hành và hướng giải quyết của Tòa án đều thừa nhận hợp đồng vẫn có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, tỷ giá để quy đổi thành tiền Việt Nam được xác định như thế nào thì pháp luật không quy định rõ. Vì vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp liên quan đến vấn đề này, Tòa án đã phải thực hiện theo một trong các phương hướng sau:

(i) Nếu các bên trong hợp đồng tự thỏa thuận với nhau về tỷ giá giữa ngoại tệ với tiền Việt Nam thì Tòa án ưu tiên áp dụng thỏa thuận đó. Ví dụ: Bản án số 09/2019/DS-PT của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang ngày 27/3/2019 về tranh chấp kiện đòi tài sản và yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu. Theo bản án này, anh Kim Ngọc T (nguyên đơn) cho chị Trần Thị H (bị đơn) vay một số tiền với nhiều lần như sau: Lần 01 vào ngày 22/8/2011 chị H nhận số tiền 12.000.000 đồng; lần 02 ngày 17/10/2011 chị H nhận số tiền 30.000.000 đồng; lần 03 ngày 25/10/2011 chị H nhận số tiền 38.000.000 đồng; lần 04 ngày 26/02/2011 chị H nhận số tiền 29.000.000 đồng; lần 05 ngày 10/12/2011 chị H nhận số tiền 8.000 USD (tám nghìn đô la Mỹ); lần 06 ngày 22/10/2011 chị H nhận số tiền 80.000.000 đồng; lần 07 ngày 20/2/2012 chị H nhận số tiền 59.000.000 đồng; lần 08 ngày 01/02/2012 chị H nhận số tiền 3.000 USD (ba nghìn đô la Mỹ). Tổng số tiền chị H đã nhận là 248.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi tám triệu đồng) tiền Việt Nam và 11.000 USD (mười một nghìn đô la Mỹ). Trong quá trình kinh doanh, anh T đã đòi chị H trả tiền rất nhiều lần, nhưng chị H không trả. Hai bên xảy ra tranh chấp và vụ việc được giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ vào nội dung vụ việc và các chứng cứ có liên quan, Tòa án khẳng định giao dịch bằng ngoại tệ với số tiền là 11.000 USD là giao dịch dân sự vô hiệu căn cứ vào Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 và Điều 29 Nghị định số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối. Tòa án yêu cầu chị H phải trả cho anh T số tiền 11.000 USD đổi sang tiền Việt Nam. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 27/3/2019, theo thông tin tỷ giá đồng đô la Mỹ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam niêm yết thì tỷ giá hối đoái giữa đồng đô la Mỹ sang tiền Việt Nam là 1 USD = 23.160 đồng Việt Nam. Do việc anh T tự nguyện thỏa thuận 1 USD = 20.000 đồng Việt Nam, không cao hơn so với giá hiện tại, lại có lợi cho chị H, nên Hội đồng xét xử đã chấp thuận sự thỏa thuận này. Vậy chị H có trách nhiệm trả lại cho anh T số tiền 248.000.000 đồng Việt Nam + 11.000 USD (= 220.000.000 đồng Việt Nam) = 468.000.000 đồng Việt Nam[5].

(ii) Trong trường hợp các bên không có sự thỏa thuận về tỷ giá ngoại tệ với tiền Việt Nam, Tòa án sẽ phải xác định thời điểm hợp lý để tính giá quy đổi giữa ngoại tệ với tiền Việt Nam. Ví dụ: Theo Quyết định số 06/2012/KDTM-GĐT ngày 30/5/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, giữa Công ty An Bình và Công ty Hà Anh ký hợp đồng mua bán hàng hóa là sắn khô, đơn giá và giá trị thanh toán được thể hiện trong hợp đồng là tiền đô la Mỹ và không đề cập đến tỷ giá USD. Quá trình giải quyết vụ việc này không có đầy đủ căn cứ để kết luận hợp đồng giữa các bên vô hiệu. Tuy nhiên, hợp đồng hai bên ký kết lại không thể hiện tỷ giá quy đổi giữa USD với tiền Việt Nam nhưng trong hóa đơn Công ty An Bình phát hành cho Công ty Hà Anh lại tính bằng USD trên cơ sở quy đổi tỷ giá giữa USD và tiền Việt Nam. Tỷ giá quy đổi được thể hiện trong hóa đơn là tỷ giá tại thời điểm viết hóa đơn, không phải tỷ giá tại thời điểm thanh toán mà các bên đã thừa nhận trong biên bản đối chất tại phiên tòa. Thực tế, tỷ giá tại thời điểm phát hành hóa đơn và tỷ giá tại thời điểm thanh toán thường khác nhau, có thể chênh lệch một khoản tiền lớn. Bên phải thanh toán muốn xác định tỷ giá ở thời điểm phát hành hóa đơn, còn bên nhận thanh toán lại muốn xác định tỷ giá ở thời điểm thanh toán. Vụ việc này được Tòa án giải quyết trên cơ sở tỷ giá tại thời điểm thanh toán nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên[6].

Tuy còn tồn tại một vài hạn chế, nhưng quy định pháp luật liên quan đến việc sử dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán đã có sự thay đổi tích cực, góp phần giảm bớt một số lượng đáng kể hợp đồng do các chủ thể xác lập bị tuyên bố vô hiệu, đặc biệt là sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành. Những quy định này cần tiếp tục được duy trì, bổ sung, hoàn thiện nhằm thúc đẩy hơn nữa sự ổn định và phát triển của giao lưu dân sự nói chung và hoạt động thương mại nói riêng trong thời gian tới.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hình thức hợp đồng trong hoạt động thương mại hiện nay

Xu hướng sử dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán quy đổi sang tiền Việt Nam được nhiều chủ thể hợp đồng lựa chọn. Pháp luật hiện hành không tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này, nhưng cũng chưa có quy định cụ thể để xác định tỷ giá ngoại tệ với tiền Việt Nam, gây ra không ít khó khăn trong thực tiễn xét xử của Tòa án. Vì vậy, tác giả xin đưa ra một vài kiến nghị để bổ sung các vấn đề có liên quan Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) như sau:

Thứ nhất, nếu các bên tranh chấp hợp đồng tự thỏa thuận được tỷ giá quy đổi giữa ngoại tệ với tiền Việt Nam thì pháp luật công nhận sự thỏa thuận đó. Trong quá trình giải quyết vụ việc cụ thể, một số Tòa án cũng đã giải quyết theo hướng công nhận sự tự thỏa thuận của các bên. Điều này là phù hợp với thực tiễn, tuy nhiên, việc công nhận sự tự thỏa thuận này cần phải dựa vào tỷ giá quy đổi ngoại tệ sang tiền Việt Nam mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố. Nếu các bên giao kết hợp đồng thỏa thuận mức quy đổi thấp hơn tỷ giá quy đổi của Ngân hàng Nhà nước thì các cơ quan tài phán nên chấp nhận sự tự thỏa thuận này. Trong trường hợp sự tự thỏa thuận giữa các bên về tỷ giá quy đổi cao hơn mức quy đổi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì các cơ quan tài phán cần ra phán quyết các bên phải tuân theo mức quy đổi mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã công bố tại thời điểm thanh toán. Quy định này có tác dụng tránh được sự nâng giá trong thỏa thuận quy đổi giữa các bên, gây ảnh hưởng xấu đến quyền, lợi ích của các bên, đặc biệt là đối với bên phải thực hiện nghĩa vụ phải thanh toán.

Thứ hai, nếu các bên tranh chấp không thỏa thuận được tỷ giá quy đổi ngoại tệ với tiền Việt Nam mà xảy ra tranh chấp, văn bản pháp lý về ngoại tệ cần được quy định theo hướng “việc quy đổi ngoại tệ thành tiền Việt Nam sẽ được thực hiện theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán”. Tác giả đã phân tích trường hợp các bên tranh chấp xác định giá quy đổi thanh toán được thực hiện vào thời điểm viết hóa đơn, nhưng Tòa án không thừa nhận bởi giá quy đổi tại thời điểm viết hóa đơn với thời điểm có tranh chấp là khác nhau, có sự chênh lệch một khoản tiền khá lớn. Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án đã theo hướng các bên phải thanh toán cho nhau giá quy đổi tại thời điểm thanh toán, dựa trên tỷ giá quy đổi ngoại tệ với tiền Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước công bố. Tác giả đồng tình với hướng giải quyết của Tòa án bởi đồng tiền có sự thay đổi giá trị theo thời gian; việc con nợ chậm trễ trong việc thanh toán thường dẫn đến thiệt hại cho chủ nợ vì giá trị đồng tiền bị giảm sút do lạm phát. Vì vậy, việc quy đổi ngoại tệ sang tiền Việt Nam được thực hiện theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán là hợp lý. Liên quan đến vấn đề này khoản 2 Điều 7:108 Bộ nguyên tắc châu Âu năm 1998 về hợp đồng cũng giải quyết trường hợp này theo hướng “sử dụng tỷ giá ở thời điểm nghĩa vụ thanh toán đến hạn” (tức đến thời điểm phải thanh toán). Như vậy hướng giải quyết tranh chấp liên quan đến việc thanh toán bằng ngoại tệ ở Việt Nam trong thời gian qua đã thể hiện sự tương thích với quy định của Bộ nguyên tắc Châu Âu năm 1998.

ThS. Nguyễn Thị Kim Thanh
Đại học Thương mại Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.

Theo dõi chúng tôi trên: