Thứ sáu 07/08/2026 18:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Luật Doanh nghiệp và Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày nay, do số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn chiếm tỷ lệ lớn nên các quốc gia thường có những quy định riêng để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa cạnh tranh trên thị trường. Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới[1], doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn từ 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động, nguồn vốn từ 20 đến 100 tỷ.

Mỗi quốc gia có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. ở Việt Nam, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 quy định:“Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí: (a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; (b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ” (Điều 4).

Về nguyên tắc, mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam và Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính (khoản 2, khoản 3 Điều 5 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Việc quy định địa vị pháp lý của doanh nghiệp theo hướng minh bạch hóa và công khai hóa có tác động lớn đến sự tồn tại, cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

Hiện nay, việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là cần thiết bởi các doanh nghiệp đang ở trong giai đoạn tự thân vận động, yếu thế, dễ bị tổn thương. Trong khi đó, nhóm doanh nghiệp này lại chưa nhận được sự hỗ trợ thích đáng từ nhiều phía. Các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn, thiếu thông tin, thiếu mặt bằng để sản xuất, kinh doanh, thiếu kinh nghiệm quản lý, vận hành doanh nghiệp… Việc hỗ trợ doanh nghiệp này cũng có tác động tích cực đến môi trường kinh doanh. Bởi suy cho cùng, mối liên hệ giữa doanh nghiệp và môi trường kinh doanh được xem là mối quan hệ hai chiều. Một mặt, môi trường kinh doanh tạo điều kiện cho doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp tận dụng các thuận lợi đó thì sẽ dễ dàng hoạt động hơn, ngược lại, nó cũng có những ràng buộc đè nặng lên doanh nghiệp kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp không có sự thích ứng với môi trường. Mặt khác, doanh nghiệp cũng có những tác động lên môi trường kinh doanh có thể gây dựng nên những phản ứng tích cực cho môi trường như tạo việc làm, đóng góp ngân sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, nó cũng có thể hủy hoại môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bằng sự ô nhiễm, gây ra nạn thất nghiệp, hoặc các tác động tiêu cực khác.

Quyền của doanh nghiệp là bộ phận cấu thành nên địa vị pháp lý của doanh nghiệp, các quy định về quyền ghi nhận các khả năng hành xử trên thị trường của doanh nghiệp. Từ lý thuyết, khi được thành lập hợp pháp, doanh nghiệp đựợc gọi là tổ chức kinh tế và được pháp luật định hình bởi cấu trúc quản lý, chức năng riêng biệt. Chức năng được xác định bởi các quyền mà pháp luật quy định, từ đó hình thành tư cách chủ thể cho doanh nghiệp trên thị trường[2].

Khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 được thông qua, các quy định về quyền cơ bản của doanh nghiệp cũng có những thay đổi và mở rộng hơn. Theo đó, một doanh nghiệp có các quyền cơ bản như sau:

Một là, tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm.

Hai là, tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh.

Ba là, lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn. Việc lựa chọn mô hình kinh doanh là một trong những điều kiện quyết định tới việc huy động vốn và phương thức sử dụng huy động vốn của công ty. Đồng thời, trong quá trình hoạt động của mình, việc phân bổ vốn cho những hạn mục nào do chính doanh nghiệp quyết định. Có thể nói, đây là hoạt động chính điển hình thể hiện quyền tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp, tức tiền của doanh nghiệp thì quyền quyết định thuộc về doanh nghiệp.

Bốn là, chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng. Đây là một quyền chủ động của công ty khi tiến hành hoạt động kinh doanh, làm cho việc kinh doanh của doanh nghiệp được hoạt động hiệu quả hơn. Theo quy định này, một doanh nghiệp để tồn tại và thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thì phải “tự thân vận động”.

Năm là, kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu. Không chỉ kinh doanh hoạt động trong nước mà doanh nghiệp còn có toàn quyền quyết định tới việc kinh doanh của mình ra nước ngoài. Đây là một thị trường tiềm năng, nơi mà các doanh nghiệp có thể thỏa sức tìm kiếm đối tác cho mình.

Tuy nhiên, hiện nay hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về số lượng cũng như về lĩnh vực hoạt động. Trong khi các doanh nghiệp trong nước đa phần là nhập khẩu hàng hóa từ ngoài nước, còn hoạt động xuất khẩu thu ngoại tệ chỉ tập trung ở mảng các mặt hàng nông sản.

Sáu là, tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh.

Bảy là, chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh.

Tám là, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp.

Chín là, từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật.

Mười là, khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Khi mà có những hành vi xâm hại tới lợi ích của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có toàn quyền trong việc khiếu nại, tố cáo các hành vi đó theo quy định của pháp luật có liên quan.



Mười một là, tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngoài những quyền cơ bản vừa đề cập ở trên thì doanh nghiệp còn có những quyền khác theo quy định của pháp luật doanh nghiệp và những ngành luật khác có liên quan.

Quy định chung về quyền của doanh nghiệp nêu trên khi làm cơ sở để tham chiếu cho các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, chúng ta nhận thấy quyền được hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được mô phỏng theo hướng cụ thể hóa. Cụ thể, các lĩnh vực doanh nghiệp được hỗ trợ theo nguyên tắc tại Điều 5 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 như sau:

“1. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tôn trọng quy luật thị trường, phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Bảo đảm công khai, minh bạch về nội dung, đối tượng, trình tự, thủ tục, nguồn lực, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện.

3. Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có trọng tâm, có thời hạn, phù hợp với mục tiêu hỗ trợ và khả năng cân đối nguồn lực.

4. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nguồn lực ngoài Nhà nước do các tổ chức, cá nhân tài trợ được thực hiện theo quy định của tổ chức, cá nhân đó nhưng không được trái quy định của pháp luật.

5. Trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa đồng thời đáp ứng điều kiện của các mức hỗ trợ khác nhau trong cùng một nội dung hỗ trợ theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan thì doanh nghiệp được lựa chọn mức hỗ trợ có lợi nhất.

Trường hợp nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng đáp ứng điều kiện hỗ trợ theo quy định của Luật này thì ưu tiên lựa chọn doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động nữ hơn.

6. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được nhận hỗ trợ khi đã thực hiện đầy đủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Theo đó, các lĩnh vực được hỗ trợ bao gồm: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng, quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ thuế, kế toán; hỗ trợ mặt bằng sản xuất; hỗ trợ công nghệ; hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung; hỗ trợ mở rộng thị trường; hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh, khởi nghiệp sáng tạo, tham gia cụm liên kết ngành.

Có thể nói, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được thông qua năm 2017 và có hiệu lực thi hành từ đầu năm 2018 là văn bản pháp luật đầu tiên ở Việt Nam chuyên về vấn đề hỗ trợ loại hình doanh nghiệp này, tạo khung pháp lý có hiệu lực cao nhất hiện nay, làm căn cứ cho triển khai hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên toàn quốc. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã thể hiện một cách có hệ thống, theo nhu cầu của doanh nghiệp về tám nội dung hỗ trợ chung, xác định ba trọng tâm hỗ trợ có mục tiêu, đồng thời giao nhiệm vụ rõ ràng cho các cơ quan Trung ương cũng như địa phương; tạo sự đồng bộ, thống nhất, có định hướng trọng tâm trong hỗ trợ doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 được xây dựng không chỉ nhằm đến đối tượng sử dụng ngân sách nhà nước mà còn nhằm mục đích tạo khung pháp lý để khuyến khích các tổ chức ngoài nhà nước tham gia tài trợ, hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển, hình thành quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Luật cũng thể hiện quan điểm thị trường trong hỗ trợ doanh nghiệp, tức là “chỉ hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng và có tiềm năng phát triển tốt nhất trong điều kiện nguồn lực hạn chế” bởi các doanh nghiệp Việt Nam có đến trên 97% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó gần 60% doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ, vốn cũng như điều kiện kỹ thuật rất lạc hậu nên hiệu quả kinh doanh chưa cao đã ảnh hưởng đến lợi nhuận.

Xét về mặt thời gian, chúng ta phải mất một khoảng thời gian dài thì quyền tự do kinh doanh của công dân mới được hiến định. Đến Hiến pháp năm 2013, quyền tự do kinh doanh lại có thêm một bước tiến mới, dịch chuyển từ “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà luật cho phép” sang “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà luật không cấm”. Quy định này hàm chứa hai nội dung quan trọng là “mọi người có quyền tự do kinh doanh” và quyền tự do đó chỉ bị hạn chế khi “bị cấm, bị liệt kê cấm” bằng một văn bản pháp quy. Để hiện thực hóa quyền đó, hai đạo luật liên quan đến doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014) đã được xây dựng với cách tiếp cận về quyền tự do kinh doanh theo hướng đơn giản hóa điều kiện, thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp. Đồng thời dỡ bỏ hàng loạt hạn chế, bất cập của quy định mà cản trở doanh nghiệp, pháp luật đã mở rộng các nhóm quyền tự quyết của doanh nghiệp.

Tóm lại, việc hỗ trợ và cụ thể hóa quy định hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa mà thực ra là một “phiên bản mở rộng” và cụ thể hóa tinh thần khởi tạo, hỗ trợ và coi trọng doanh nghiệp từ Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014. Theo tác giả, đây là một hành động thiết thực, quan trọng và cần thiết cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay. Bởi cho dù thế nào, dưới góc độ cạnh tranh và phát triển thì “doanh nghiệp nhỏ và vừa bao giờ cũng được xem là những cánh chim cuối đàn. Tốc độ bay của đàn chim không phải phụ thuộc vào những con chim đầu đàn khỏe nhất (doanh nghiệp lớn) mà thực ra lại phụ thuộc vào chính những con chim yếu nhất ở cuối đàn”.

ThS. Lê Văn Tranh

Đại học Đà Lạt

Tài liệu tham khảo:

[1]. Tham khảo tại Wikipedia.org, truy cập ngày 11/12/2017.

[2]. Phan Ánh Hòe (2015), Giáo trình chính sách bảo vệ doanh nghiệp trong thương mại quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr.136.

[3]. Fernand Braudel (1995), Cơ năng kinh tế tư bản chủ nghĩa, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

[4]. Học viện Chính trị Quốc gia (1997), Kinh tế Chính trị, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội.

[5]. Leonard S.Silk (1993), Kinh tế học hiện đại: Những nguyên tắc và những vấn đề. Nxb. Trẻ - Tp. Hồ Chí Minh.

[6]. Lê Văn Tranh (2017), Luận giải về công ty cổ phần, Nxb. Tư Pháp.

[7]. Lester R. Broun & nnk (1995), Tín hiệu sống còn, Nxb. Khoa học & Kỹ thuật Hà Nội.

[8]. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

[9]. Alan Phan (2011), 42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc, Nxb. Lao động - Xã hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.

Theo dõi chúng tôi trên: