Thứ ba 03/03/2026 13:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Luật Doanh nghiệp và Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày nay, do số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn chiếm tỷ lệ lớn nên các quốc gia thường có những quy định riêng để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa cạnh tranh trên thị trường. Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới[1], doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn từ 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động, nguồn vốn từ 20 đến 100 tỷ.

Mỗi quốc gia có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. ở Việt Nam, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 quy định:“Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí: (a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; (b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ” (Điều 4).

Về nguyên tắc, mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam và Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính (khoản 2, khoản 3 Điều 5 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Việc quy định địa vị pháp lý của doanh nghiệp theo hướng minh bạch hóa và công khai hóa có tác động lớn đến sự tồn tại, cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

Hiện nay, việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là cần thiết bởi các doanh nghiệp đang ở trong giai đoạn tự thân vận động, yếu thế, dễ bị tổn thương. Trong khi đó, nhóm doanh nghiệp này lại chưa nhận được sự hỗ trợ thích đáng từ nhiều phía. Các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn, thiếu thông tin, thiếu mặt bằng để sản xuất, kinh doanh, thiếu kinh nghiệm quản lý, vận hành doanh nghiệp… Việc hỗ trợ doanh nghiệp này cũng có tác động tích cực đến môi trường kinh doanh. Bởi suy cho cùng, mối liên hệ giữa doanh nghiệp và môi trường kinh doanh được xem là mối quan hệ hai chiều. Một mặt, môi trường kinh doanh tạo điều kiện cho doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp tận dụng các thuận lợi đó thì sẽ dễ dàng hoạt động hơn, ngược lại, nó cũng có những ràng buộc đè nặng lên doanh nghiệp kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp không có sự thích ứng với môi trường. Mặt khác, doanh nghiệp cũng có những tác động lên môi trường kinh doanh có thể gây dựng nên những phản ứng tích cực cho môi trường như tạo việc làm, đóng góp ngân sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, nó cũng có thể hủy hoại môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bằng sự ô nhiễm, gây ra nạn thất nghiệp, hoặc các tác động tiêu cực khác.

Quyền của doanh nghiệp là bộ phận cấu thành nên địa vị pháp lý của doanh nghiệp, các quy định về quyền ghi nhận các khả năng hành xử trên thị trường của doanh nghiệp. Từ lý thuyết, khi được thành lập hợp pháp, doanh nghiệp đựợc gọi là tổ chức kinh tế và được pháp luật định hình bởi cấu trúc quản lý, chức năng riêng biệt. Chức năng được xác định bởi các quyền mà pháp luật quy định, từ đó hình thành tư cách chủ thể cho doanh nghiệp trên thị trường[2].

Khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 được thông qua, các quy định về quyền cơ bản của doanh nghiệp cũng có những thay đổi và mở rộng hơn. Theo đó, một doanh nghiệp có các quyền cơ bản như sau:

Một là, tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm.

Hai là, tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh.

Ba là, lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn. Việc lựa chọn mô hình kinh doanh là một trong những điều kiện quyết định tới việc huy động vốn và phương thức sử dụng huy động vốn của công ty. Đồng thời, trong quá trình hoạt động của mình, việc phân bổ vốn cho những hạn mục nào do chính doanh nghiệp quyết định. Có thể nói, đây là hoạt động chính điển hình thể hiện quyền tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp, tức tiền của doanh nghiệp thì quyền quyết định thuộc về doanh nghiệp.

Bốn là, chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng. Đây là một quyền chủ động của công ty khi tiến hành hoạt động kinh doanh, làm cho việc kinh doanh của doanh nghiệp được hoạt động hiệu quả hơn. Theo quy định này, một doanh nghiệp để tồn tại và thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thì phải “tự thân vận động”.

Năm là, kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu. Không chỉ kinh doanh hoạt động trong nước mà doanh nghiệp còn có toàn quyền quyết định tới việc kinh doanh của mình ra nước ngoài. Đây là một thị trường tiềm năng, nơi mà các doanh nghiệp có thể thỏa sức tìm kiếm đối tác cho mình.

Tuy nhiên, hiện nay hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về số lượng cũng như về lĩnh vực hoạt động. Trong khi các doanh nghiệp trong nước đa phần là nhập khẩu hàng hóa từ ngoài nước, còn hoạt động xuất khẩu thu ngoại tệ chỉ tập trung ở mảng các mặt hàng nông sản.

Sáu là, tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh.

Bảy là, chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh.

Tám là, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp.

Chín là, từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật.

Mười là, khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Khi mà có những hành vi xâm hại tới lợi ích của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có toàn quyền trong việc khiếu nại, tố cáo các hành vi đó theo quy định của pháp luật có liên quan.



Mười một là, tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngoài những quyền cơ bản vừa đề cập ở trên thì doanh nghiệp còn có những quyền khác theo quy định của pháp luật doanh nghiệp và những ngành luật khác có liên quan.

Quy định chung về quyền của doanh nghiệp nêu trên khi làm cơ sở để tham chiếu cho các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, chúng ta nhận thấy quyền được hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được mô phỏng theo hướng cụ thể hóa. Cụ thể, các lĩnh vực doanh nghiệp được hỗ trợ theo nguyên tắc tại Điều 5 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 như sau:

“1. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tôn trọng quy luật thị trường, phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Bảo đảm công khai, minh bạch về nội dung, đối tượng, trình tự, thủ tục, nguồn lực, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện.

3. Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có trọng tâm, có thời hạn, phù hợp với mục tiêu hỗ trợ và khả năng cân đối nguồn lực.

4. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nguồn lực ngoài Nhà nước do các tổ chức, cá nhân tài trợ được thực hiện theo quy định của tổ chức, cá nhân đó nhưng không được trái quy định của pháp luật.

5. Trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa đồng thời đáp ứng điều kiện của các mức hỗ trợ khác nhau trong cùng một nội dung hỗ trợ theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan thì doanh nghiệp được lựa chọn mức hỗ trợ có lợi nhất.

Trường hợp nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng đáp ứng điều kiện hỗ trợ theo quy định của Luật này thì ưu tiên lựa chọn doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động nữ hơn.

6. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được nhận hỗ trợ khi đã thực hiện đầy đủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Theo đó, các lĩnh vực được hỗ trợ bao gồm: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng, quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ thuế, kế toán; hỗ trợ mặt bằng sản xuất; hỗ trợ công nghệ; hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung; hỗ trợ mở rộng thị trường; hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh, khởi nghiệp sáng tạo, tham gia cụm liên kết ngành.

Có thể nói, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được thông qua năm 2017 và có hiệu lực thi hành từ đầu năm 2018 là văn bản pháp luật đầu tiên ở Việt Nam chuyên về vấn đề hỗ trợ loại hình doanh nghiệp này, tạo khung pháp lý có hiệu lực cao nhất hiện nay, làm căn cứ cho triển khai hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên toàn quốc. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã thể hiện một cách có hệ thống, theo nhu cầu của doanh nghiệp về tám nội dung hỗ trợ chung, xác định ba trọng tâm hỗ trợ có mục tiêu, đồng thời giao nhiệm vụ rõ ràng cho các cơ quan Trung ương cũng như địa phương; tạo sự đồng bộ, thống nhất, có định hướng trọng tâm trong hỗ trợ doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 được xây dựng không chỉ nhằm đến đối tượng sử dụng ngân sách nhà nước mà còn nhằm mục đích tạo khung pháp lý để khuyến khích các tổ chức ngoài nhà nước tham gia tài trợ, hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển, hình thành quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Luật cũng thể hiện quan điểm thị trường trong hỗ trợ doanh nghiệp, tức là “chỉ hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng và có tiềm năng phát triển tốt nhất trong điều kiện nguồn lực hạn chế” bởi các doanh nghiệp Việt Nam có đến trên 97% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó gần 60% doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ, vốn cũng như điều kiện kỹ thuật rất lạc hậu nên hiệu quả kinh doanh chưa cao đã ảnh hưởng đến lợi nhuận.

Xét về mặt thời gian, chúng ta phải mất một khoảng thời gian dài thì quyền tự do kinh doanh của công dân mới được hiến định. Đến Hiến pháp năm 2013, quyền tự do kinh doanh lại có thêm một bước tiến mới, dịch chuyển từ “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà luật cho phép” sang “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà luật không cấm”. Quy định này hàm chứa hai nội dung quan trọng là “mọi người có quyền tự do kinh doanh” và quyền tự do đó chỉ bị hạn chế khi “bị cấm, bị liệt kê cấm” bằng một văn bản pháp quy. Để hiện thực hóa quyền đó, hai đạo luật liên quan đến doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014) đã được xây dựng với cách tiếp cận về quyền tự do kinh doanh theo hướng đơn giản hóa điều kiện, thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp. Đồng thời dỡ bỏ hàng loạt hạn chế, bất cập của quy định mà cản trở doanh nghiệp, pháp luật đã mở rộng các nhóm quyền tự quyết của doanh nghiệp.

Tóm lại, việc hỗ trợ và cụ thể hóa quy định hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa mà thực ra là một “phiên bản mở rộng” và cụ thể hóa tinh thần khởi tạo, hỗ trợ và coi trọng doanh nghiệp từ Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014. Theo tác giả, đây là một hành động thiết thực, quan trọng và cần thiết cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay. Bởi cho dù thế nào, dưới góc độ cạnh tranh và phát triển thì “doanh nghiệp nhỏ và vừa bao giờ cũng được xem là những cánh chim cuối đàn. Tốc độ bay của đàn chim không phải phụ thuộc vào những con chim đầu đàn khỏe nhất (doanh nghiệp lớn) mà thực ra lại phụ thuộc vào chính những con chim yếu nhất ở cuối đàn”.

ThS. Lê Văn Tranh

Đại học Đà Lạt

Tài liệu tham khảo:

[1]. Tham khảo tại Wikipedia.org, truy cập ngày 11/12/2017.

[2]. Phan Ánh Hòe (2015), Giáo trình chính sách bảo vệ doanh nghiệp trong thương mại quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr.136.

[3]. Fernand Braudel (1995), Cơ năng kinh tế tư bản chủ nghĩa, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

[4]. Học viện Chính trị Quốc gia (1997), Kinh tế Chính trị, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội.

[5]. Leonard S.Silk (1993), Kinh tế học hiện đại: Những nguyên tắc và những vấn đề. Nxb. Trẻ - Tp. Hồ Chí Minh.

[6]. Lê Văn Tranh (2017), Luận giải về công ty cổ phần, Nxb. Tư Pháp.

[7]. Lester R. Broun & nnk (1995), Tín hiệu sống còn, Nxb. Khoa học & Kỹ thuật Hà Nội.

[8]. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

[9]. Alan Phan (2011), 42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc, Nxb. Lao động - Xã hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: