Thứ bảy 13/12/2025 14:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Luật Doanh nghiệp và Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày nay, do số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn chiếm tỷ lệ lớn nên các quốc gia thường có những quy định riêng để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa cạnh tranh trên thị trường. Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới[1], doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn từ 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động, nguồn vốn từ 20 đến 100 tỷ.

Mỗi quốc gia có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. ở Việt Nam, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 quy định:“Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí: (a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; (b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ” (Điều 4).

Về nguyên tắc, mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam và Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính (khoản 2, khoản 3 Điều 5 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Việc quy định địa vị pháp lý của doanh nghiệp theo hướng minh bạch hóa và công khai hóa có tác động lớn đến sự tồn tại, cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

Hiện nay, việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là cần thiết bởi các doanh nghiệp đang ở trong giai đoạn tự thân vận động, yếu thế, dễ bị tổn thương. Trong khi đó, nhóm doanh nghiệp này lại chưa nhận được sự hỗ trợ thích đáng từ nhiều phía. Các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn, thiếu thông tin, thiếu mặt bằng để sản xuất, kinh doanh, thiếu kinh nghiệm quản lý, vận hành doanh nghiệp… Việc hỗ trợ doanh nghiệp này cũng có tác động tích cực đến môi trường kinh doanh. Bởi suy cho cùng, mối liên hệ giữa doanh nghiệp và môi trường kinh doanh được xem là mối quan hệ hai chiều. Một mặt, môi trường kinh doanh tạo điều kiện cho doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp tận dụng các thuận lợi đó thì sẽ dễ dàng hoạt động hơn, ngược lại, nó cũng có những ràng buộc đè nặng lên doanh nghiệp kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp không có sự thích ứng với môi trường. Mặt khác, doanh nghiệp cũng có những tác động lên môi trường kinh doanh có thể gây dựng nên những phản ứng tích cực cho môi trường như tạo việc làm, đóng góp ngân sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, nó cũng có thể hủy hoại môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bằng sự ô nhiễm, gây ra nạn thất nghiệp, hoặc các tác động tiêu cực khác.

Quyền của doanh nghiệp là bộ phận cấu thành nên địa vị pháp lý của doanh nghiệp, các quy định về quyền ghi nhận các khả năng hành xử trên thị trường của doanh nghiệp. Từ lý thuyết, khi được thành lập hợp pháp, doanh nghiệp đựợc gọi là tổ chức kinh tế và được pháp luật định hình bởi cấu trúc quản lý, chức năng riêng biệt. Chức năng được xác định bởi các quyền mà pháp luật quy định, từ đó hình thành tư cách chủ thể cho doanh nghiệp trên thị trường[2].

Khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 được thông qua, các quy định về quyền cơ bản của doanh nghiệp cũng có những thay đổi và mở rộng hơn. Theo đó, một doanh nghiệp có các quyền cơ bản như sau:

Một là, tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm.

Hai là, tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh.

Ba là, lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn. Việc lựa chọn mô hình kinh doanh là một trong những điều kiện quyết định tới việc huy động vốn và phương thức sử dụng huy động vốn của công ty. Đồng thời, trong quá trình hoạt động của mình, việc phân bổ vốn cho những hạn mục nào do chính doanh nghiệp quyết định. Có thể nói, đây là hoạt động chính điển hình thể hiện quyền tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp, tức tiền của doanh nghiệp thì quyền quyết định thuộc về doanh nghiệp.

Bốn là, chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng. Đây là một quyền chủ động của công ty khi tiến hành hoạt động kinh doanh, làm cho việc kinh doanh của doanh nghiệp được hoạt động hiệu quả hơn. Theo quy định này, một doanh nghiệp để tồn tại và thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thì phải “tự thân vận động”.

Năm là, kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu. Không chỉ kinh doanh hoạt động trong nước mà doanh nghiệp còn có toàn quyền quyết định tới việc kinh doanh của mình ra nước ngoài. Đây là một thị trường tiềm năng, nơi mà các doanh nghiệp có thể thỏa sức tìm kiếm đối tác cho mình.

Tuy nhiên, hiện nay hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về số lượng cũng như về lĩnh vực hoạt động. Trong khi các doanh nghiệp trong nước đa phần là nhập khẩu hàng hóa từ ngoài nước, còn hoạt động xuất khẩu thu ngoại tệ chỉ tập trung ở mảng các mặt hàng nông sản.

Sáu là, tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh.

Bảy là, chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh.

Tám là, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp.

Chín là, từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật.

Mười là, khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Khi mà có những hành vi xâm hại tới lợi ích của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có toàn quyền trong việc khiếu nại, tố cáo các hành vi đó theo quy định của pháp luật có liên quan.



Mười một là, tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngoài những quyền cơ bản vừa đề cập ở trên thì doanh nghiệp còn có những quyền khác theo quy định của pháp luật doanh nghiệp và những ngành luật khác có liên quan.

Quy định chung về quyền của doanh nghiệp nêu trên khi làm cơ sở để tham chiếu cho các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, chúng ta nhận thấy quyền được hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được mô phỏng theo hướng cụ thể hóa. Cụ thể, các lĩnh vực doanh nghiệp được hỗ trợ theo nguyên tắc tại Điều 5 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 như sau:

“1. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tôn trọng quy luật thị trường, phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Bảo đảm công khai, minh bạch về nội dung, đối tượng, trình tự, thủ tục, nguồn lực, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện.

3. Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có trọng tâm, có thời hạn, phù hợp với mục tiêu hỗ trợ và khả năng cân đối nguồn lực.

4. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nguồn lực ngoài Nhà nước do các tổ chức, cá nhân tài trợ được thực hiện theo quy định của tổ chức, cá nhân đó nhưng không được trái quy định của pháp luật.

5. Trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa đồng thời đáp ứng điều kiện của các mức hỗ trợ khác nhau trong cùng một nội dung hỗ trợ theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan thì doanh nghiệp được lựa chọn mức hỗ trợ có lợi nhất.

Trường hợp nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng đáp ứng điều kiện hỗ trợ theo quy định của Luật này thì ưu tiên lựa chọn doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động nữ hơn.

6. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được nhận hỗ trợ khi đã thực hiện đầy đủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Theo đó, các lĩnh vực được hỗ trợ bao gồm: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng, quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ thuế, kế toán; hỗ trợ mặt bằng sản xuất; hỗ trợ công nghệ; hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung; hỗ trợ mở rộng thị trường; hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh, khởi nghiệp sáng tạo, tham gia cụm liên kết ngành.

Có thể nói, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được thông qua năm 2017 và có hiệu lực thi hành từ đầu năm 2018 là văn bản pháp luật đầu tiên ở Việt Nam chuyên về vấn đề hỗ trợ loại hình doanh nghiệp này, tạo khung pháp lý có hiệu lực cao nhất hiện nay, làm căn cứ cho triển khai hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên toàn quốc. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã thể hiện một cách có hệ thống, theo nhu cầu của doanh nghiệp về tám nội dung hỗ trợ chung, xác định ba trọng tâm hỗ trợ có mục tiêu, đồng thời giao nhiệm vụ rõ ràng cho các cơ quan Trung ương cũng như địa phương; tạo sự đồng bộ, thống nhất, có định hướng trọng tâm trong hỗ trợ doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 được xây dựng không chỉ nhằm đến đối tượng sử dụng ngân sách nhà nước mà còn nhằm mục đích tạo khung pháp lý để khuyến khích các tổ chức ngoài nhà nước tham gia tài trợ, hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển, hình thành quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Luật cũng thể hiện quan điểm thị trường trong hỗ trợ doanh nghiệp, tức là “chỉ hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng và có tiềm năng phát triển tốt nhất trong điều kiện nguồn lực hạn chế” bởi các doanh nghiệp Việt Nam có đến trên 97% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó gần 60% doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ, vốn cũng như điều kiện kỹ thuật rất lạc hậu nên hiệu quả kinh doanh chưa cao đã ảnh hưởng đến lợi nhuận.

Xét về mặt thời gian, chúng ta phải mất một khoảng thời gian dài thì quyền tự do kinh doanh của công dân mới được hiến định. Đến Hiến pháp năm 2013, quyền tự do kinh doanh lại có thêm một bước tiến mới, dịch chuyển từ “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà luật cho phép” sang “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà luật không cấm”. Quy định này hàm chứa hai nội dung quan trọng là “mọi người có quyền tự do kinh doanh” và quyền tự do đó chỉ bị hạn chế khi “bị cấm, bị liệt kê cấm” bằng một văn bản pháp quy. Để hiện thực hóa quyền đó, hai đạo luật liên quan đến doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014) đã được xây dựng với cách tiếp cận về quyền tự do kinh doanh theo hướng đơn giản hóa điều kiện, thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp. Đồng thời dỡ bỏ hàng loạt hạn chế, bất cập của quy định mà cản trở doanh nghiệp, pháp luật đã mở rộng các nhóm quyền tự quyết của doanh nghiệp.

Tóm lại, việc hỗ trợ và cụ thể hóa quy định hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa mà thực ra là một “phiên bản mở rộng” và cụ thể hóa tinh thần khởi tạo, hỗ trợ và coi trọng doanh nghiệp từ Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014. Theo tác giả, đây là một hành động thiết thực, quan trọng và cần thiết cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay. Bởi cho dù thế nào, dưới góc độ cạnh tranh và phát triển thì “doanh nghiệp nhỏ và vừa bao giờ cũng được xem là những cánh chim cuối đàn. Tốc độ bay của đàn chim không phải phụ thuộc vào những con chim đầu đàn khỏe nhất (doanh nghiệp lớn) mà thực ra lại phụ thuộc vào chính những con chim yếu nhất ở cuối đàn”.

ThS. Lê Văn Tranh

Đại học Đà Lạt

Tài liệu tham khảo:

[1]. Tham khảo tại Wikipedia.org, truy cập ngày 11/12/2017.

[2]. Phan Ánh Hòe (2015), Giáo trình chính sách bảo vệ doanh nghiệp trong thương mại quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr.136.

[3]. Fernand Braudel (1995), Cơ năng kinh tế tư bản chủ nghĩa, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

[4]. Học viện Chính trị Quốc gia (1997), Kinh tế Chính trị, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội.

[5]. Leonard S.Silk (1993), Kinh tế học hiện đại: Những nguyên tắc và những vấn đề. Nxb. Trẻ - Tp. Hồ Chí Minh.

[6]. Lê Văn Tranh (2017), Luận giải về công ty cổ phần, Nxb. Tư Pháp.

[7]. Lester R. Broun & nnk (1995), Tín hiệu sống còn, Nxb. Khoa học & Kỹ thuật Hà Nội.

[8]. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

[9]. Alan Phan (2011), 42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc, Nxb. Lao động - Xã hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: