Sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới đã được kiểm soát tương đối tốt, thì các mối quan hệ thương mại, kinh tế cũng dần phục hồi và có chiều hướng phát triển ổn định trở lại, kéo theo đó là tình trạng tranh chấp thương mại tiếp tục gia tăng. Pháp luật Việt Nam hiện nay đã ghi nhận nhiều phương thức giải quyết tranh chấp thương mại như thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và giải quyết bằng Tòa án. Mỗi phương thức đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Trong các hình thức nêu trên thì việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường hòa giải đang ngày càng được quan tâm và chiếm vị trí quan trọng. Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới ngày càng khuyến khích sử dụng phương thức này bởi tính hiệu quả trong việc giữ, khôi phục các mối quan hệ kinh tế, thủ tục đơn giản, thuận tiện, linh hoạt, ít chịu sự chi phối của các nguyên tắc hay hoạt động của các cơ quan công quyền, tiết kiệm được thời gian, công sức, nhân lực và giảm chi phí giải quyết tranh chấp, đặc biệt trong bối cảnh áp lực lên Ngành Tòa án ngày một lớn. Tuy nhiên, quy định của pháp luật hiện hành về phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, mà cụ thể là Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại (Nghị định số 22/2017/NĐ-CP) vẫn còn một số nội dung cần nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới.
1. Một số bất cập, vướng mắc trong Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại
So với các phương thức giải quyết tranh chấp như thương lượng, trọng tài hay Tòa án thì phương thức hòa giải được quy định trong luật khá muộn, giai đoạn trước năm 1995, pháp luật nước ta chưa có quy định về hòa giải tranh chấp thương mại mà chỉ đề cập đến phương thức thương lượng, trọng tài thương mại và Tòa án. Từ năm 1995 đến năm 2015, một số văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005, 2015; Luật Thương mại các năm 1997, năm 2005; Luật Đầu tư các năm 2005, 2014; Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ luật Hàng hải năm 2000, Luật Dầu khí năm 1993 (sửa đổi, bổ sung các năm 2000, 2008), Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010… cũng có quy định về hình thức hòa giải nhưng lại thiếu vắng các quy định về nội dung của phương thức hòa giải thương mại trong một văn bản thống nhất. Từ năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định “yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án” là một trong những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết tại Tòa án (khoản 7
Điều 27) và quy định cụ thể thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành (Điều 416 đến Điều 419 Chương XXXIII). Trong đó, khoản 1 Điều 3 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP quy định: “Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này”.
Có thể nói, với việc ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, Việt Nam đã chính thức có 01 văn bản quy phạm pháp luật quy định về nội dung của hòa giải thương mại, cơ bản tạo ra sự thống nhất trong nhận thức và thực tiễn về một phương thức giải quyết tranh chấp mang tính độc lập, đặc trưng bởi sự tự lựa chọn, tham gia của các bên tranh chấp và bên thứ ba là hòa giải viên, diễn ra theo một trình tự, thủ tục mang tính tự nguyện, bảo mật, để trợ giúp các bên tranh chấp tìm được sự đồng thuận về vấn đề tranh chấp, hướng đến lợi ích của các bên mà không có bên thắng - bên thua.
Ngoài ra, quy định trong Nghị định số 22/2017/NĐ-CP đã góp phần phân biệt hòa giải thương mại với hoạt động hòa giải với tư cách là một giai đoạn, một thủ tục trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hay Tòa án, kết quả hòa giải thành tại trọng tài hoặc Tòa án được coi như phán quyết của trọng tài hoặc bản án, quyết định của Tòa án. Đồng thời, phân biệt với các hình thức hòa giải khác được quy định trong Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013[1] và hòa giải lao động trong Bộ luật Lao động năm 2019… là việc sử dụng hòa giải để dàn xếp mâu thuẫn trong các tranh chấp thuộc phạm vi mối quan hệ đó.
Tuy nhiên, việc quy định về hòa giải thương mại trong Nghị định số 22/2017/NĐ-CP mà không phải là một đạo luật khiến hiệu quả triển khai hoạt động hòa giải thương mại trên thực tế còn một số hạn chế, vướng mắc nhất định. Cụ thể:
1.1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải
Điều 4 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP đã quy định các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải như sau: (i) Các bên tranh chấp tham gia hòa giải hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. (ii) Các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải phải được giữ bí mật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác. (iii) Nội dung thỏa thuận hòa giải không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạm quyền của bên thứ ba.
Nghiên cứu quy định trên cho thấy, các nguyên tắc này mới chỉ tập trung vào các bên tranh chấp và nội dung tranh chấp, mà chưa có các nguyên tắc nhấn mạnh đến vai trò của hòa giải viên, bảo đảm cho việc hòa giải thực sự khách quan, hiệu quả, chất lượng, phù hợp với lợi ích của các bên tranh chấp. Tham khảo quy định của một số quốc gia cho thấy, các nước này đều có quy định ghi nhận vai trò của hòa giải viên như là nguyên tắc xuyên suốt của hoạt động hòa giải. Ví dụ như: Điều 1 Luật Hòa giải Cộng hòa Liên bang Đức năm 2012 quy định: “1. Hòa giải là một thủ tục bí mật và có trình tự mà ở đó các bên cố gắng, dựa trên nguyên tắc tự nguyện và tự quyết, để đạt được một thỏa thuận về tranh chấp với sự trợ giúp của một hoặc nhiều hòa giải viên; 2. Hòa giải viên là người hướng dẫn, trợ giúp các bên giải quyết vụ tranh chấp, với tư cách độc lập và trung lập, không đưa ra bất kỳ quyết định nào mang tính ép buộc”.
1.2. Hòa giải viên thương mại
Thứ nhất, tiêu chuẩn của hòa giải viên.
- Theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, một người để trở thành hòa giải viên thương mại cần phải đạt các tiêu chuẩn sau đây: (i) Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự; có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín, độc lập, vô tư, khách quan. (ii) Có trình độ đại học trở lên và đã qua thời gian công tác trong lĩnh vực được đào tạo từ 02 năm trở lên. (iii) Có kỹ năng hòa giải, hiểu biết pháp luật, tập quán kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực liên quan. (iv) Hòa giải viên thương mại được thực hiện hòa giải thương mại với tư cách là hòa giải viên thương mại vụ việc hoặc hòa giải viên thương mại của tổ chức hòa giải thương mại theo quy định tại Nghị định số 22/2017/NĐ-CP. Tổ chức hòa giải thương mại có thể quy định tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại của tổ chức mình cao hơn các tiêu chuẩn trên.
Các quy định trên là điều kiện tối thiểu về năng lực (trình độ học vấn chung, chuyên ngành, kinh nghiệm), kỹ năng và phẩm chất đạo đức để một người có thể trở thành hòa giải viên. Tuy nhiên, nghiên cứu quy định trên cho thấy, tiêu chí “có trình độ đại học trở lên và đã qua thời gian công tác trong lĩnh vực được đào tạo từ 02 năm trở lên” còn khá “khắt khe”, bởi “trình độ đại học trở lên” không phải thước đo năng lực, trình độ và tính hiệu quả, chất lượng của hoạt động hòa giải, hơn nữa, đây là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính tự nguyện, tự quyết trên cơ sở thỏa thuận của các bên tranh chấp. Tiêu chí “có kỹ năng hòa giải, hiểu biết pháp luật, tập quán kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực liên quan” còn mang tính định tính, khó đánh giá trong thực tiễn, khi các chủ thể tranh chấp lựa chọn hòa giải viên, họ đều phải có sự cân nhắc, lựa chọn người phù hợp với nội dung tranh chấp, hướng đến hiệu quả cao nhất, ngoài ra, sự tham gia của hòa giải viên nhiều khi chỉ mang tính cầu nối để hai bên đi đến đồng thuận, mà chưa hẳn là vì trình độ hay kỹ năng của họ.
- Khoản 4 Điều 7 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP cũng quy định trường hợp không được làm hòa giải viên thương mại đó là: “Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc”. Đây là quy định hoàn toàn phù hợp về mặt lý luận và thực tiễn, bởi thông thường, những người này có nhân thân không tốt, không đủ uy tín, năng lực, phẩm chất đạo đức và điều kiện về không gian, thời gian, quyền hạn để hoàn thành việc hòa giải được giao.
Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa bao quát hết được các trường hợp trong thực tiễn, đó là những người bị bắt, người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự, bởi thực tế, những người trong tình trạng này khó có thể thực hiện được việc hòa giải thương mại khi họ đang bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn nêu trên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên thương mại.
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, hòa giải viên thương mại có các quyền sau đây: (i) Chấp nhận hoặc từ chối thực hiện hoạt động hòa giải thương mại; (ii) Từ chối cung cấp thông tin liên quan đến vụ tranh chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật; (iii) Được hưởng thù lao từ việc thực hiện hoạt động hòa giải thương mại theo thỏa thuận với các bên tranh chấp; (iv) Các quyền khác theo quy định của Nghị định này và của pháp luật có liên quan.
Tuy nhiên, theo tác giả, việc tham gia hòa giải thương mại của hòa giải viên có sự gắn bó mật thiết với quyền và nghĩa vụ các bên tranh chấp, nhằm hướng tới lợi ích tốt nhất cho các bên tranh chấp. Do vậy, một số quyền của hòa giải viên cũng cần được bổ sung, quy định cụ thể, chi tiết để phù hợp với quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp và bảo đảm hiệu quả cao nhất của việc hòa giải.
- Cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, hòa giải viên thương mại có các nghĩa vụ sau đây:
(i) Tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử của hòa giải viên thương mại; độc lập, vô tư, khách quan, trung thực.
(ii) Tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
(iii) Bảo vệ bí mật thông tin về vụ tranh chấp mà mình tham gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quy định hiện hành chưa nêu rõ phạm vi bảo vệ bí mật thông tin đến thời điểm nào? Nghiên cứu pháp luật một số quốc gia (Cộng hòa Liên bang Đức…) cho thấy, việc bảo mật sẽ không còn được duy trì nếu một bên không tuân thủ thỏa thuận hòa giải thành hoặc cho phép công bố thông tin liên quan đến giải quyết hòa giải nếu nó là cần thiết cho các mục đích thực hiện và thực thi kết quả hòa giải hoặc vì lợi ích công cộng…
(iv) Thông báo cho các bên về thẩm quyền, thù lao và chi phí trước khi tiến hành hòa giải.
(v) Không được đồng thời đảm nhiệm vai trò đại diện hay tư vấn cho một trong các bên, không được đồng thời là trọng tài viên đối với cùng vụ tranh chấp đang hoặc đã tiến hành hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Tuy nhiên, theo tác giả, để bảo đảm khách quan cho hoạt động hòa giải của hòa giải viên thì cần bổ sung thêm nhóm đối tượng là người thân thích của các bên tranh chấp (hoặc của người đại diện) hoặc người khác mà có cơ sở xác định họ khó có thể khách quan khi giải quyết tranh chấp (ví dụ như, họ là thành viên của doanh nghiệp có tranh chấp, luật sư từng bảo vệ quyền lợi cho một bên tranh chấp…).
(vi) Các nghĩa vụ khác theo quy định của Nghị định này và của pháp luật có liên quan.
Thứ ba, những hành vi bị cấm đối với hòa giải viên thương mại.
Theo Điều 10 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, những hành vi bị cấm đối với hòa giải viên thương mại bao gồm:
(i) Tiết lộ thông tin về vụ việc, khách hàng mà mình biết được trong quá trình hòa giải, trừ trường hợp được các bên tranh chấp đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.
(ii) Vi phạm quy tắc đạo đức hòa giải viên thương mại.
(iii) Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ các bên ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận. Tác giả cho rằng, quy định này chưa bao quát hết các dạng hành vi vụ lợi, động cơ cá nhân của hòa giải viên, đó là hành vi “hứa hẹn sẽ nhận” bất kỳ lợi ích nào không những cho bản thân hòa giải viên mà còn cho cá nhân hoặc tổ chức khác.
(iv) Các hành vi bị cấm khác theo quy định của pháp luật.
1.3. Thẩm quyền hòa giải thương mại
- Thẩm quyền theo loại việc: Các tranh chấp đưa ra hòa giải bằng phương pháp hòa giải thương mại phải thuộc một trong các dạng tranh chấp quy định tại Điều 2 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP: (i) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (ii) Tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; (iii) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại.
- Thẩm quyền theo lựa chọn: Trên cơ sở loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết bằng hòa giải thương mại, các bên tranh chấp có thể lựa chọn 02 hình thức: (i) Hòa giải thương mại quy chế; (ii) Hòa giải thương mại vụ việc.
1.4. Trình tự, thủ tục hòa giải thương mại
- Chuẩn bị hòa giải: Điều kiện tiên quyết để tiến hành trình tự, thủ tục hòa giải thương mại đó là việc các bên tranh chấp cần phải xác lập một thỏa thuận hòa giải. Đây là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh bằng phương thức hòa giải (khoản 2 Điều 3 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP).
Thỏa thuận hòa giải có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản hòa giải trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng và bắt buộc phải bằng văn bản, điều này khác với thỏa thuận trọng tài thường đa dạng hơn như bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật[2]..., các nhà làm luật quy định phải bằng văn bản nhằm thể hiện tính rõ ràng, minh bạch của thỏa thuận hòa giải.
Tuy nhiên, theo tác giả, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay, nhiều tranh chấp đã được giải quyết thông qua hình thức trực tuyến, đa dạng các nguồn chứng cứ, tài liệu thì quy định trên là chưa thực sự phù hợp, hạn chế về phạm vi hình thức thỏa thuận, nhất là đối với các bên tranh chấp có khoảng cách địa lý xa xôi, các bên tranh chấp gặp trở ngại khách quan do tình hình dịch bệnh, mưa bão, thiên tai, hỏa hoạn… mà khó gặp nhau trực tiếp thì cần phải áp dụng hình thức phù hợp hơn là bằng văn bản.
+ Lựa chọn, chỉ định hòa giải viên thương mại: Hòa giải viên thương mại do các bên thỏa thuận lựa chọn từ danh sách hòa giải viên thương mại của tổ chức hòa giải thương mại hoặc từ danh sách hòa giải viên thương mại vụ việc do Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố. Việc chỉ định hòa giải viên thương mại thông qua tổ chức hòa giải thương mại được thực hiện theo Quy tắc hòa giải của tổ chức hòa giải thương mại.
+ Lựa chọn trình tự, thủ tục hòa giải: Các bên có quyền lựa chọn Quy tắc hòa giải của tổ chức hòa giải thương mại để tiến hành hòa giải hoặc tự thỏa thuận trình tự, thủ tục hòa giải. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về trình tự, thủ tục hòa giải thì hòa giải viên thương mại tiến hành hòa giải theo trình tự, thủ tục mà hòa giải viên thương mại thấy phù hợp với tình tiết vụ việc, nguyện vọng của các bên và được các bên chấp thuận. Quy định trên nhằm tạo sự chủ động và bình đẳng giữa các bên tranh chấp.
+ Lựa chọn địa điểm, thời gian hòa giải: Địa điểm, thời gian hòa giải được thực hiện theo thỏa thuận của các bên hoặc theo lựa chọn của hòa giải viên thương mại trong trường hợp các bên không có thỏa thuận.
- Tiến hành hòa giải: Nghị định số 22/2017/NĐ-CP không quy định chi tiết về quy trình tiến hành hòa giải nhưng thực tiễn hòa giải tranh chấp bao gồm một số hoạt động chủ yếu như:
+ Hòa giải viên tiến hành thu thập thông tin, tài liệu, ý kiến của các bên tranh chấp, có thể yêu cầu các bên cung cấp tài liệu, giải thích các nội dung còn chưa rõ ràng. Hòa giải viên nghiên cứu lập các phương án hòa giải trên cơ sở quy định của pháp luật, tính khả thi và nguyên tắc đôi bên cùng có lợi.
+ Mở phiên hòa giải theo thời gian, địa điểm, thành phần đã định: Khi tiến hành hòa giải, hòa giải viên giới thiệu thành phần tham gia phiên hòa giải; trình bày nội dung tranh chấp; ý kiến của các bên tranh chấp, các bên trình bày ý kiến bổ sung, thay đổi, quan điểm về những vấn đề cần hòa giải và mong muốn hướng giải quyết. Hòa giải viên phổ biến quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp thương mại, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành, phân tích các quan điểm, ý kiến của các bên tranh chấp, đưa ra các phương án hòa giải, phân tích tính hiệu quả, khả thi của từng phương án để các bên tranh chấp thảo luận, lựa chọn; hỗ trợ các bên đạt được sự thỏa thuận, thống nhất.
+ Tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình hòa giải, hòa giải viên thương mại đều có quyền đưa ra các đề xuất nhằm giải quyết tranh chấp. Bảo đảm tính khách quan, trung lập, bảo đảm đưa ra phương án tối ưu nhất theo tinh thần tự nguyện, tự quyết của các bên.
- Kết quả hòa giải thành: Khi đạt được kết quả hòa giải thành, các bên lập văn bản về kết quả hòa giải thành. Văn bản bao gồm các nội dung chính sau đây: (i) Căn cứ tiến hành hòa giải; (ii) Thông tin cơ bản về các bên; (iii) Nội dung chủ yếu của vụ việc; (iv) Thỏa thuận đạt được và giải pháp thực hiện; (v) Các nội dung khác theo thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp không đạt được kết quả hòa giải thành, các bên có quyền tiếp tục hòa giải hoặc yêu cầu trọng tài hoặc Tòa án giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.
- Công nhận kết quả hòa giải thành: Văn bản về kết quả hòa giải thành được xem xét công nhận theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Chấm dứt thủ tục hòa giải: Thủ tục hòa giải chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
(i) Khi các bên đạt được kết quả hòa giải thành; (ii) Khi hòa giải viên thương mại xét thấy không cần thiết tiếp tục thực hiện hòa giải, sau khi tham khảo ý kiến của các bên; (iii) Theo đề nghị của một hoặc các bên tranh chấp.
Theo tác giả, căn cứ “khi hòa giải viên thương mại xét thấy không cần thiết tiếp tục thực hiện hòa giải, sau khi tham khảo ý kiến của các bên” vẫn mang tính định tính khi giao cho hòa giải viên có quyền xét thấy “không cần thiết” và dấu hiệu “không cần thiết” được hiểu như thế nào thì Nghị định lại chưa quy định rõ ràng, cụ thể.
2. Một số kiến nghị
Theo tác giả, về lâu dài, Việt Nam cần hướng đến việc ban hành Luật Hòa giải thương mại nhằm thay thế cho Nghị định số 22/2017/NĐ-CP. Cụ thể, tác giả kiến nghị một số nội dung như sau:
Thứ nhất, bổ sung nguyên tắc liên quan đến vai trò của hòa giải viên theo hướng:
- Tôn trọng quyền tự quyết của các bên tranh chấp: Hòa giải viên cần tôn trọng ý kiến đưa ra của các bên tranh chấp và không đưa ra bất cứ quyết định nào nếu các bên không đồng ý.
- Hòa giải viên tiến hành hòa giải độc lập và tuân theo pháp luật: Nguyên tắc này đòi hỏi hòa giải viên không được thể hiện thái độ thiên vị đối với bất cứ bên tranh chấp nào trong việc điều khiển quá trình hòa giải cũng như trong việc đưa ra các nhận định hay ý kiến tư vấn.
- Hoạt động hòa giải được tiến hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi loại vụ việc.
Thứ hai, bổ sung một số quy định về hòa giải viên:
- Bổ sung một số quyền của hòa giải viên: (i) Được thông báo về trình tự, thủ tục hòa giải, địa điểm, thời gian tiến hành hòa giải do các bên tranh chấp lựa chọn. (ii) Đề nghị các bên tranh chấp cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ tranh chấp. (iii) Hòa giải viên có quyền tiến hành thủ tục hòa giải theo phương thức mà hòa giải viên cho là phù hợp nhất với tình tiết của vụ việc tranh chấp, nguyện vọng của các bên và đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp trong trường hợp các bên tranh chấp không có thỏa thuận về phương thức tiến hành hòa giải. (iv) Khi được một bên tranh chấp cung cấp thông tin liên quan đến tranh chấp, hòa giải viên có quyền truyền đạt nội dung thông tin đó cho bên tranh chấp kia, trừ trường hợp bên tranh chấp yêu cầu giữ bí mật nội dung thông tin được cung cấp.
- Đối với Điều 7 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại: Tại khoản 4, cần bổ sung thêm người bị bắt, người bị tạm giữ vào các trường hợp không được làm hòa giải viên thương mại, theo đó khoản 4 Điều 7 nên bổ sung và quy định ngắn gọn như sau: “4. Người bị buộc tội, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì không được làm hòa giải viên thương mại”.
- Đối với Điều 9 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về quyền, nghĩa vụ của hòa giải viên thương mại, nên bổ sung theo hướng:
+ Bổ sung vào điểm c khoản 2 Điều 9 và sửa lại như sau: “Bảo vệ bí mật thông tin về vụ tranh chấp mà mình tham gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc để thực thi các thỏa thuận hòa giải hoặc để phục vụ cho những lợi ích công cộng hoặc thông tin được tiết lộ là những kiến thức thông thường không gây hại đáng kể cho nguyên tắc bảo mật trong hòa giải hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”.
+ Bổ sung vào điểm đ khoản 2 Điều 9 và sửa lại như sau: “Không được đồng thời đảm nhiệm vai trò đại diện hay tư vấn cho một trong các bên, không được đồng thời là trọng tài viên đối với cùng vụ tranh chấp đang hoặc đã tiến hành hòa giải; không được đồng thời người thân thích của một trong các bên tranh chấp hoặc có căn cứ khác cho rằng họ không vô tư trong khi tiến hành hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.
- Đối với Điều 10 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về những hành vi bị cấm đối với hòa giải viên thương mại, nên được bổ sung, sửa đổi lại như sau: “3. Nhận, sẽ nhận hoặc đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ các bên ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận cho bản thân hòa giải viên hoặc cho người hoặc tổ chức khác”.
Thứ ba, về kỹ thuật lập pháp, quy định tại Điều 11 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về thỏa thuận hòa giải chưa thực sự cô đọng, xúc tích và đa dạng về hình thức thỏa thuận, vì vậy, nên được quy định lại theo hướng:
“Điều 11. Thỏa thuận hòa giải
Thỏa thuận hòa giải có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản hòa giải trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng bằng văn bản hoặc các hình thức tương đương”.
Thứ tư, khoản 2 Điều 15 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về kết quả hòa giải thành, nên bổ sung nội dung về “phương thức, thời hạn thực hiện thỏa thuận” nhằm tăng cường tính trách nhiệm của các chủ thể tham gia hòa giải và bảo đảm cho kết quả hòa giải được thực thi trong thời gian cụ thể.
Thứ năm, Điều 17 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP nên sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 17. Chấm dứt thủ tục hòa giải
Thủ tục hòa giải chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
1. Khi các bên đạt được kết quả hòa giải thành.
2. Khi các bên không thể đạt được thỏa thuận và việc tiếp tục hòa giải cũng không thể đạt được kết quả.
3. Theo đề nghị của một hoặc các bên tranh chấp.
4. Khi một trong các bên tranh chấp tham gia hòa giải là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc một bên tham gia hòa giải là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản… hoặc lý do khác khiến cho họ không thể tiếp tục tham gia hòa giải”.
Phan Hồng Hải
Công ty Luật TNHH MTV Ngôi Nhà Mơ Ước
[1]. Hòa giải cơ sở là việc hòa giải ở các thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư, được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật
(khoản 2 Điều 2, Điều 3 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013).
[2]. Khoản 2 Điều 16 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.