Chủ nhật 08/02/2026 05:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính

Tóm tắt: Hầu hết các tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động thương mại đều có sẵn những tài sản cố định, nhưng họ luôn gặp phải khó khăn về huy động vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Từ đó, trên thế giới đã xuất hiện loại hình bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính thay thế cho phương thức vay vốn từ ngân hàng đã rất phát triển. Ở Việt Nam, phương thức này vẫn chưa phát triển, trong đó có nguyên nhân về mặt pháp luật. Bài viết sẽ tập trung phân tích đặc điểm pháp lý, thực trạng pháp luật và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính.

Abstract: Most of the organizations and inpiduals involved in commercial activities have fixed assets available, but they must always face difficulties in mobilizing capital for their production and business activities. In the circumstance of these difficulties, sale and sublease appear under form of financial leasing in order to replace the means of capital mobilization from banks. In Vietnam, sale and subblease transaction under the form of financial leasing has not yet developed because of many reasons including legal reason. This article will analysis legal characteristics, current situation of law and some solutions for improving law on sale and sublease under the form of financial leasing.

1. Khái quát chung về bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính

Thuật ngữ “cho thuê tài chính” đã trở nên quen thuộc và được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu. Bản chất của cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng, sử dụng hình thức pháp lý là hợp đồng thuê tài sản. Theo đó, bên cho thuê sẽ mua các loại tài sản từ nhà sản xuất theo đúng yêu cầu của bên thuê và cho bên thuê thuê lại tài sản đó để sử dụng. Nói cách khác, xét về mặt kinh tế nó là một phương thức tài trợ đối với việc đầu tư từ trung hạn đến dài hạn, trong đó, bên cho thuê đưa trực tiếp tài sản cho bên thuê sử dụng thay vì đưa một khoản tiền để mua tài sản[1].

Một giao dịch cho thuê tài chính thường có sự xuất hiện của ba bên (bên cho thuê, bên thuê và bên cung cấp) và được xác lập để thuê các loại tài sản mới mà Bên cho thuê đã mua theo yêu cầu của bên thuê. Tuy nhiên, cũng có trường hợp bên thuê bán tài sản mình đang sở hữu cho bên cho thuê, đồng thời, thuê lại chính tài sản để sử dụng. Trường hợp này là một loại hình cho thuê tài chính có tên gọi là bán và thuê lại.

Ở Việt Nam, bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính (gọi tắt là “bán và thuê lại”) được thừa nhận dưới cái tên “mua và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính”, được pháp luật điều chỉnh lần đầu tiên trong Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính và được hướng dẫn chi tiết bởi Thông tư số 07/2006/TT-NHNN ngày 07/9/2006 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về hoạt động mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính theo quy định tại Nghị định số 16/2001/NĐ-CP và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ (Thông tư số 07/2006/TT-NHNN). Hiện nay, vấn đề này được quy định trong Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/5/2014 của Chính phủ về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính (Nghị định số 39/2014/NĐ-CP). Theo đó, “mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính” được định nghĩa là: “Việc bên cho thuê tài chính mua máy móc, thiết bị hoặc tài sản khác theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu của bên thuê và cho bên thuê thuê lại chính các tài sản đó theo hình thức cho thuê tài chính để bên thuê tiếp tục sử dụng phục vụ cho hoạt động của mình. Trong giao dịch mua và cho thuê lại, bên thuê đồng thời là bên cung ứng tài sản cho thuê”[2]. Từ định nghĩa này, bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính có những đặc điểm pháp lý sau:

Thứ nhất, giao dịch bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính là giao dịch được kết hợp bởi hai hợp đồng có hình thức pháp lý độc lập, bao gồm hợp đồng mua tài sản và hợp đồng cho thuê tài chính. Tuy nhiên, hai hợp đồng này lại có mối liên hệ mật thiết, không thể tách rời.

Thứ hai, giao dịch bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính chỉ có sự tham gia của hai bên, trong đó, bên bán tài sản lần lượt giữ các vị trí từ chủ sở hữu ban đầu chuyển sang vị trí của người sử dụng và người thuê lại tài sản (gọi tắt là “bên bán - thuê lại”). Ngược lại, bên mua từ vị trí của người mua trở thành người sở hữu và người cho thuê lại tài sản (gọi tắt là “bên mua - cho thuê lại”)[3]. Cần lưu ý rằng, hợp đồng bán và thuê lại không bao giờ được giao kết vì lợi ích của người thứ ba, mà chỉ là mối quan hệ giữa hai bên giao kết, tức là chỉ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với bên bán - thuê lại và bên mua - cho thuê lại. Trong giao dịch này, bên bán - thuê lại là người trực tiếp thụ hưởng quyền sử dụng tài sản, không được chuyển giao quyền này cho chủ thể khác và đồng thời có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê tài sản cho bên mua - cho thuê lại.

Thứ ba, không có sự chuyển giao thực tế tài sản cho thuê từ bên bán - cho thuê lại sang bên mua - thuê lại. Đối với hợp đồng mua bán tài sản thông thường, nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua là nghĩa vụ bắt buộc của bên bán. Thậm chí, theo pháp luật Việt Nam, chỉ khi nào người bán giao tài sản thì khi đó người mua mới chấp hữu tài sản, quyền sở hữu trên tài sản mới được chuyển sang người mua đồng thời với các rủi ro[4]. Ngược lại, xác lập giao dịch bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính có mục đích cấp tín dụng. Bên mua - cho thuê lại chỉ quan tâm đến quyền sở hữu pháp lý tài sản như biện pháp bảo đảm cho khả năng hoàn trả khoản tài trợ chứ không nhằm mục tiêu sở hữu để sử dụng và khai thác tài sản. Vì vậy, tình trạng sử dụng tài sản của bên bán - thuê lại trước và sau khi xác lập giao dịch bán và thuê lại hoàn toàn không thay đổi.

Thứ tư, giá mua bán tài sản và tiền thuê tài sản có quan hệ mật thiết không thể tách rời. Trong giao dịch cho thuê thông thường tiền thuê có tính chất “đối giá” với việc sử dụng tài sản thuê, nó có ý nghĩa như sự trả giá cho việc sử dụng và thu lợi từ tài sản trong từng kỳ thanh toán. Ngược lại, tiền thuê trong giao dịch bán và thuê lại mang ý nghĩa là sự hoàn trả khoản đầu tư theo phần trong thời gian dài, được xác định trên cơ sở giá mua bán tài sản.

Thứ năm, bên mua - cho thuê lại nắm giữ quyền sở hữu tài sản chuyển giao quyền sử dụng và mọi rủi ro, lợi ích liên quan đến tài sản cho bên bán - thuê lại trong suốt thời hạn thuê. Có nghĩa là quyền sử dụng được bên bán - thuê lại bảo lưu trong suốt thời hạn thuê để bảo đảm lợi ích hợp pháp của bên bán - thuê lại. Khi chưa hết thời hạn thuê, thì bên mua - cho thuê lại không thể dùng quyền của chủ sở hữu để tước bỏ quyền sử dụng của bên thuê trừ khi có các căn cứ làm chấm dứt hợp đồng. Mặt khác, trong giao dịch bán và thuê lại bên mua - cho thuê lại sẽ được hưởng những lợi ích phát sinh từ tài sản cho thuê và “thoát khỏi” những trách nhiệm liên quan đến rủi ro về sự thất thoát hoặc hư hỏng của tài sản thuê cũng như các chi phí liên quan đến việc sửa chữa, bảo dưỡng, duy trì tài sản… bởi những lý do sau: (i) Bên bán - thuê lại đóng vai trò là bên cung cấp tài sản nên phải biết rõ về tình trạng của tài sản; (ii) Không có sự chuyển giao tài sản cho bên mua - cho thuê lại trên thực tế; (iii) Nghĩa vụ trả tiền thuê của bên bán - thuê lại mang ý nghĩa hoàn trả từng phần trong thời hạn thuê khoản đầu tư ban đầu (chi phí mua tài sản).

Thứ sáu, đối tượng của giao dịch bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính là những tài sản không thể thiếu trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của bên bán - thuê lại. Đó phải là các tài sản hữu hình thuộc sở hữu của bên bán - thuê lại và còn giá trị sử dụng hữu ích. Đối tượng của hợp đồng bán - thuê lại là tài sản hữu hình thuộc sở hữu của bên thuê. Tùy theo pháp luật của từng quốc gia mà quy định về tài sản thuộc đối tượng của hợp đồng bán và thuê lại có sự khác nhau. Hầu hết các nước ghi nhận tài sản bao gồm cả động sản và bất động sản. Pháp luật Việt Nam chỉ có phép bán và thuê lại đối với động sản.

Thứ bảy, thời hạn thuê lại gần như tương ứng với thời gian sử dụng hữu ích còn lại của tài sản thuê. Đặc điểm này xuất phát từ tính chất hoàn trả toàn bộ của giao dịch bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính. Đối với loại giao dịch này thì tổng số tiền thuê mà bên bán - thuê lại phải trả cho bên mua - cho thuê lại phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả toàn bộ các chi phí mua sắm tài sản, lãi suất vốn tài trợ, các chi phí quản lý, hao mòn vô hình và đem lại lợi nhuận hợp lý cho bên mua - cho thuê lại. Vì vậy, để đạt được hiệu quả kinh tế huy động vốn thì thời hạn thuê buộc phải tương đương với thời gian có thể sử dụng tài sản thuê.

Thứ tám, các bên không có quyền hủy ngang giao dịch bán và thuê lại. Xuất phát từ bản chất của hoạt động này là cấp tín dụng nên trong quá trình thực hiện giao dịch, không bên nào có quyền hủy giao dịch khi không có hành vi vi phạm. Thậm chí, nếu có xảy ra tình huống chấm dứt việc thuê lại trước thời hạn do lỗi của bên bán - cho thuê lại thì bên mua - cho thuê lại vẫn có quyền yêu cầu bên bán - thuê lại thanh toán số tiền thuê còn lại theo hợp đồng và bồi thường thiệt hại.

Thứ chín, khi kết thúc thời gian thuê, bên bán - thuê lại có quyền lựa chọn chuyển giao quyền sở hữu tài sản lại cho mình hoặc thuê tiếp tài sản do tài sản thuê chính là tư liệu sản xuất và cần thiết cho hoạt động của họ, song đối với bên mua - cho thuê lại thì lại không có mục đích sở hữu tài sản.

2. Bất cập của pháp luật Việt Nam về bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính

Ở Việt Nam, pháp luật về bán và cho thuê lại đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động cho thuê tài chính, tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy vẫn còn có một số bất cập. Điều này đã và đang tạo ra rào cản lớn đối với sự phát triển của loại hình cho thuê tài chính này. Có thể chỉ ra một số vướng mắc, bất cập như sau:

Một là, cách sử dụng thuật ngữ “mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính” chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Có sự khác biệt này là do các nhà làm luật Việt Nam đã tiếp cập cho thuê tài chính theo hình thức hợp đồng bán và thuê lại là một nghiệp vụ tín dụng gắn liền với các công ty cho thuê tài chính, công ty tài chính được cấp phép hoạt động cho thuê tài chính. Tuy nhiên, thuật ngữ này chưa thực sự hợp lý vì: (i) Trong tất cả giao dịch cho thuê tài chính thì bên cho thuê luôn là bên mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê. Như vậy, thuật ngữ mà nhà làm luật Việt Nam sử dụng dường như không có sự phân biệt giữa bán và thuê lại với các hình thức cho thuê tài chính khác; (ii) Thực tế đề nghị xác lập giao dịch bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính luôn xuất phát từ bên bán - cho thuê lại chứ không phải là bên mua - cho thuê lại; (iii) Theo pháp luật của các nước thì chủ thể tham gia vào hoạt động với tư cách là bên mua - cho thuê lại rất rộng (các định chế tài chính, công ty cho thuê tài chính, ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty môi giới thực hiện hoạt động cho thuê tài chính, công ty thương mại…).

Hai là, với quy định “giao dịch mua và cho thuê lại phải thực hiện thông qua hợp đồng mua tài sản và hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên mua và cho thuê lại với bên bán và thuê lại” là thiếu chặt chẽ, chính xác[5]. Hiểu theo quy định này, thì chỉ khi quan hệ mua và cho thuê lại được xác lập dưới hình thức hai văn bản là hợp đồng mua tài sản và hợp đồng cho thuê tài chính mới làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của bên bán - thuê lại. Do đó, các bên có thể sử dụng quy định này để yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với giao dịch mua và cho thuê lại nếu không thực hiện đúng quy định. Tuy nhiên, quy định này đang vi phạm nguyên tắc “tự do ý chí” của hợp đồng, vì các bên hoàn toàn có quyền lựa chọn xác lập giao dịch bán và thuê lại theo hình thức một hoặc hai văn bản hợp đồng miễn là minh thị được ý chí của các bên trong việc xác lập quan hệ hợp đồng, đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Có thể thấy rằng, quy định trên chỉ tạo sự thuận tiện cho các cơ quan nhà nước trong việc đăng ký quyền sở hữu tài sản cho thuê, quản lý các giao dịch cho thuê tài chính, giải quyết các tranh chấp phát sinh.

Ba là, quy định về việc áp dụng biện pháp bảo đảm đối với các giao dịch cho thuê tài chính chưa phù hợp. Với quy định “bên cho thuê tài chính có quyền yêu cầu bên thuê ký cược và các biện pháp bảo đảm theo quy định của pháp luật nếu cần thiết”['6], thì các nhà làm luật Việt Nam đã khẳng định chỉ trong trường hợp được coi là “cần thiết”, bên cho thuê mới có quyền yêu cầu bên thuê thực hiện các biện pháp bảo đảm. Như vậy, pháp luật đã hạn chế quyền được bảo vệ đối với bên cho thuê. Quy định về việc áp dụng các biện pháp bảo đảm phát sinh từ mục đích bảo đảm tính an toàn của giao dịch và cần thiết để khuyến khích sự phát triển các giao dịch. Mặc dù, trong quan hệ cho thuê tài chính, bên cho thuê có quyền sở hữu tài sản, nhưng tài sản lại luôn do bên thuê chiếm hữu, sử dụng. Hơn nữa, đối tượng cho thuê tài chính thường có tính di động cao, giá trị của tài sản thường bị giảm sút theo thời gian. Bởi vậy, pháp luật cho phép bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê thực hiện các biện pháp bảo đảm đối với giao dịch cho thuê tài chính, đồng thời, trao cho các bên quyền tự do thỏa thuận quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính nói chung, bán và thuê lại nói riêng không kèm theo điều kiện mới có sự phù hợp.

Bốn là, pháp luật chưa có quy định dự liệu về hướng xử lý hậu quả của giao dịch trong trường hợp bên mua - cho thuê lại bị phá sản. Bên cho thuê là pháp nhân được thành lập theo Luật Doanh nghiệp và có thể bị phá sản bất kỳ thời điểm nào nếu hoạt động không tốt. Thực tế hiện nay, Công ty Cho thuê tài chính II trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã gửi đơn lên Tòa án để yêu cầu tuyên bố phá sản. Phải khẳng định rằng, hoạt động cho thuê tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến sự an toàn của hệ thống tài chính, trực tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế. Do đó, rất nhiều các quốc gia trên thế giới (như Nhật Bản, Palestin, Serbia…) đều áp dụng quy định ngoại lệ cho trường hợp bên cho thuê tài chính bị phá sản chứ không áp dụng nguyên tắc chấm dứt hợp đồng giống như các trường hợp phá sản thông thường. Trong tài liệu có tên tiếng Anh là “Leasing in Emerging Market”[7] cũng có đề cập đến trường hợp bên cho thuê bị phá sản thì hợp đồng cho thuê tài chính vẫn tiếp tục nếu như bên thuê vẫn trả tiền đều đặn và chỉ coi đây như là trường hợp thay đổi một trong các bên trong hợp đồng. Đồng thời, tác giả cũng khuyến nghị về việc pháp luật phải quy định rõ trong trường hợp này hợp đồng cho thuê tài chính không thể bị chấm dứt.

Năm là, việc không quy định về giá mua tài sản cũng là một bất cập. Trước đây, tại Điều 1.5 Mục 1 Thông tư số 07/2006/TT-NHNN đã từng đưa ra khái niệm về giá mua tài sản cho thuê[8], nhưng pháp luật hiện hành không còn quy định này. Nguyên nhân của việc không quy định về giá mua tài sản theo quan điểm cho rằng, pháp luật không cần thiết phải quy định về giá mua bán tài sản trong giao dịch cho thuê tài chính, dựa trên nguyên tắc tự do ý chí của hợp đồng, tôn trọng sự thỏa thuận của các chủ thể hợp đồng. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, Chính phủ đã hạn chế tình trạng mua bán tài sản cho thuê tài chính không đúng với giá trị của tài sản đó bằng quy định: “Công ty cho thuê tài chính, trong hoạt động mua và cho thuê lại đưa ra giá xác định hợp lý và không vi phạm các tiêu chuẩn kế toán liên quan đến giá mua tài sản và không thể mua tài sản giá trị thấp với mức giá cao”[9].

3. Một vài kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những phân tích về bất cập ở trên, có thể đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính như sau:

Thứ nhất, cần sửa đổi lại tên gọi “mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính” thành “bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính” cho phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm đáp ứng xu hướng hội nhập quốc tế.

Thứ hai, nghiên cứu xây dựng quy định xử lý đối với trường hợp bên mua - cho thuê lại bị phá sản, trong đó, hướng dẫn cụ thể những vấn đề liên quan tới hiệu lực của hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên và với người thứ ba nếu tài sản cho thuê đã được bên mua - cho thuê lại đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hoặc với người thứ ba nhận chuyển giao quyền sở hữu tài sản thuê… Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bán - thuê lại và lợi ích chung của xã hội, nên quy định theo hướng bảo đảm quyền lợi của bên thuê. Ví dụ, nếu bên cho thuê bị phá sản mà tài sản đã được bên cho thuê bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoặc tài sản thuê được chuyển giao quyền sở hữu cho bên thứ ba, thì bên thứ ba buộc phải tiếp tục thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính. Nếu tài sản cho thuê được thanh lý để trả cho các chủ nợ theo hợp đồng cho thuê tài chính sẽ bị chấm dứt hiệu lực.

Thứ ba, hiện nay ở Việt Nam, số lượng công ty cho thuê tài chính thuộc sở hữu nhà nước chiếm đa số, hiện tượng lợi dụng chức vụ quyền hạn để thực hiện những giao dịch mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính để trục lợi bằng cách nâng giá mua tài sản thuê quá cao so với giá trị thực đang xảy ra phổ biến, vì vậy, nhà làm luật Việt Nam nên khôi phục quy định về giá của tài sản cho thuê tài chính.

Thứ tư, theo kinh nghiệm pháp luật của nhiều nước cho thấy, hầu như họ không quy định cụ thể về hình thức văn bản hợp đồng của giao dịch mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính, mà để các bên tự lựa chọn hình thức phù hợp. Thực tế, theo tập quán thương mại giao dịch mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính được giao kết theo một văn bản hợp đồng chứa đựng cả hai nội dung mua bán tài sản và cho thuê tài chính hoặc cũng có thể được tách thành hai văn bản hợp đồng riêng biệt. Vì vậy, chúng ta nên xem xét bỏ quy định “giao dịch mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính phải được thực hiện thông qua hợp đồng mua tài sản và hợp đồng cho thuê tài chính”.

Thứ năm, nên bỏ cụm từ “nếu cần thiết” trong khoản 3 Điều 17 Nghị định số 39/2014/NĐ-CP, mà chỉ cần quy định: “Bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê thực hiện biện pháp ký cược và các biện pháp bảo đảm khác theo quy định của pháp luật”. Theo tác giả D.L Carey Miller, “tín dụng nhất thiết phải đặt ra vấn đề về bảo đảm”[10], để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên bán - cho thuê, bên mua - cho thuê lại có thể yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm bất kỳ khi nào nếu họ chưa có sự tín nhiệm và ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra

Ngô Thanh Hương



Tài liệu tham khảo:

[1]. Uarada Roshi, A legal analysis of financial leasing and its unification by Unidroit, Progressive Academic Publishing, UK, posted onwebsite [www.idpublications.org], p.17.

[2]. Khoản 13 Điều 3 Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/05/2014 của Chính phủ về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính.

[3]. Trần Tô Tử và Nguyễn Hải Sản, Tìm hiểu và sử dụng tín dụng thuê mua, Nxb. Trẻ TP. Hồ Chí Minh, năm 1996.

[4]. Nguyễn Mạnh Bách, Luật dân sự lược giải các hợp đồng dân sự thông dụng, Nxb. Chính trị Quốc gia, năm 1997, tr. 34.

[5]. Khoản 1 Điều 36 Thông tư số 30/2015/TT-NHNN ngày 25/12/2015 của Ngân hàng Nhà nước quy định về việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

[6]. Khoản 3 Điều 17 Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/5/2014 của Chính phủ về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính.

[7]. Matthew Fletcher, Rachel Freeman, Murat Sultanov và Umedjan Umarow, “Leasing in Emerging Market”, published by International Finance Corporation, World Bank Group (2010).

[8]. Thông tư số 07/2006/TT-NHNN ngày 07/9/2006 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về hoạt động mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính theo quy định tại Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ.

[9]. Ernest Metzger, “A companion to jusstinian’s institutes”, published by Cornell University Press in 1988, p.70.

[10]. China Banking Regulatory Commision, Decree on Measure Administering Financial Leasing Companies, adopted on January 23, 2007, Art 33.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: