Thứ tư 18/03/2026 10:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng lao động ở Việt Nam

Bài viết trao đổi và đánh giá về thực trạng giao kết hợp đồng lao động theo pháp luật Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.


1. Vài nét về giao kết hợp đồng lao động và thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng

Giao kết hợp đồng lao động là giai đoạn khởi đầu cho sự hợp tác của các bên để tiến tới sự thống nhất ý chí nhằm tạo lập quan hệ lao động. Vì vậy, “để xác lập được một quan hệ lao động hài hòa, ổn định trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, các bên cần phải có ý thức và thiện chí đặc biệt là ý thức pháp luật và thiện chí khi thương lượng”[1]. Về bản chất, giao kết hợp đồng lao động có sự tương đồng khá lớn với giao kết hợp đồng dân sự là có sự thỏa thuận, trong đó, các bên bày tỏ và thống nhất ý chí nhằm hướng tới những lợi ích nhất định. Tuy nhiên, hợp đồng lao động có những đặc trưng riêng như: Đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả lương; thường do đích danh người ký thực hiện; thỏa thuận của các bên bị giới hạn pháp lý nhất định, ở đó quyền tối thiểu có thể cao hơn nhưng nghĩa vụ là tối đa, thỏa thuận chỉ được thấp hơn; hợp đồng lao động được thực hiện trong thời gian liên tục hoặc có thời hạn hoặc vô thời hạn, bởi đây là việc giao kết thực hiện thỏa thuận mua bán hàng hóa đặc biệt là sức lao động, vì vậy, pháp luật về hợp đồng lao động phải đưa ra những quy định mang tính hợp lý hơn, trong đó, bên bán (người lao động) sẽ được quan tâm nhiều hơn trong việc nghiên cứu và đưa ra quy định luật áp dụng nhằm tạo thế “cân bằng” tương đối giữa họ với bên mua (người sử dụng lao động). Như vậy, có thể khái quát: “Giao kết hợp đồng là việc người lao động và người sử dụng lao động cùng thương lượng, thỏa thuận về các điều kiện đặt ra và hai bên thống nhất các cam kết thực hiện bằng các điều khoản thể hiện trên hợp đồng lao động”.

Tính đến thời điểm hiện nay, những quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng lao động nói chung và về giao kết hợp đồng lao động nói riêng về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu bảo vệ người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động và thích hợp với tính linh hoạt của thị trường lao động[2]. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy vẫn còn tồn tại một số bất cập như sau:

1.1. Về chủ thể giao kết hợp đồng lao động

Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Theo đó, lao động có quyền và nghĩa vụ của công dân nhưng phải đến đủ 15 tuổi thì quyền lao động ấy mới có khả năng thực hiện[3], tuy nhiên, Bộ luật Lao động năm 2012 lại quy định: “Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định” và “không được sử dụng lao động là người dưới 13 tuổi làm việc trừ một số công việc cụ thể do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định. Khi sử dụng người dưới 13 tuổi làm việc thì người sử dụng lao động phải tuân theo quy định tại khoản 2 Điều này” (khoản 1, khoản 3 Điều 164), đồng thời Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH ngày 11/6/2013 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã đưa ra danh mục công việc nhẹ được sử dụng người dưới 15 tuổi làm việc. Như vậy, một mặt pháp luật quy định người lao động phải là người từ đủ 15 tuổi trở lên, mặt khác lại cho phép người dưới 15 tuổi tham gia lao động (mặc dù chỉ trong một số ngành nghề nhất định và việc giao kết hợp đồng phải thông qua người đại diện theo pháp luật). Vậy khi người dưới 15 tuổi tham gia lao động nhưng chưa được coi là người lao động thì quyền lợi của đối tượng này có được đảm bảo theo những quy định của Bộ luật Lao động hay không?

Theo khoản 1 Điều 18 Bộ luật Lao động năm 2012: “Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động”, quy định này là trái với quy định về ủy quyền được quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật này. Hơn nữa, hiện nay, hình thức tuyển dụng lao động không còn bị bó hẹp như cách truyền thống giữa hai bên chủ thể nữa mà còn có thể thông qua những hình thức khác như thông qua bên các đơn vị khác khi cần. Vì vậy, chúng tôi cho rằng cụm từ “trực tiếp giao kết” tại khoản 1 Điều 18 là không còn phù hợp với tình hình hiện nay.

1.2. Về nguyên tắc và nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động

Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động được bổ sung tại Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2012, việc giao kết hợp đồng thực hiện trên cơ sở: (i) Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực; (ii) Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội. Với quy định này, việc xác lập quan hệ lao động phải dựa trên nền tảng của nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và không trái với pháp luật, thỏa ước lao động tập thể cũng như đạo đức xã hội. Tuy nhiên, do giao kết hợp đồng lao động là hình thức giao kết đặc thù khác với các hình thức giao kết khác, vì thế, việc biểu hiện tự nguyện, bình đẳng, thiện chí ở đây chỉ mang tính tương đối. Ví dụ, trường hợp sử dụng lao động dưới 15 tuổi làm một số công việc được pháp luật cho phép thì việc ký kết hợp đồng lại được thực hiện với người đại diện theo pháp luật[4] chứ không phải chỉ với bản thân người dưới 15 tuổi; hoặc trường hợp giao kết hợp đồng lao động với người lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi lại đòi hỏi phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật[5] chứ không hoàn toàn chỉ là sự thỏa thuận một cách bình đẳng và tự nguyện giữa người sử dụng lao động với người lao động.

Một điểm nữa thể hiện tính tương đối của nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động là quy định về việc các thỏa thuận trong hợp đồng lao động cũng đồng thời không được trái với thỏa ước lao động tập thể, tức là, mọi quyền lợi, thỏa thuận theo hợp đồng không được thấp hơn những quyền lợi mà thỏa ước lao động tập thể đã xác lập[6]. Thỏa ước lao động tập thể được xem là những thỏa thuận chung nhất, cơ bản nhất và đạt được nhất trí cao nhất của tập thể người lao động, vì thế, nó mang tính “đại diện” rất cao. Chính vì lẽ đó, pháp luật quy định việc giao kết hợp đồng lao động không được thấp hơn quyền lợi đã thỏa thuận tại thỏa ước lao động tập thể nhằm bảo vệ người lao động vì họ thường ở vị thế thứ yếu bởi cái họ có duy nhất là sức lao động còn bên sử dụng lao động lại nắm nhiều lợi thế hơn khi họ là người trả lương, là người quản lý, nắm vốn và khoa học công nghệ trong tay, họ cũng là người có quyền tổ chức hoạt động kinh doanh cũng như phân phối lợi ích trong doanh nghiệp. Tuy vậy, trên thực tế vẫn có những người lao động không hoàn toàn đồng ý với tất cả mọi điều khoản trong thỏa ước lao động tập thể nhưng họ vẫn buộc phải chấp nhận tuân thủ (một cách miễn cưỡng) vì nhiều lý do, chẳng hạn, họ được tuyển dụng sau khi thỏa ước lao động tập thể đã được ban hành. Và đây cũng lại là một minh chứng nữa cho thấy việc giao kết hợp đồng lao động không hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện một cách tuyệt đối.

Bên cạnh đó, theo quy định của Bộ luật Lao động thì về nguyên tắc, người sử dụng lao động khi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động không được giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động hoặc yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động, song trên thực tế, vẫn có nhiều doanh nghiệp giữ bằng tốt nghiệp của người lao động như một “tài sản đảm bảo” khi tuyển người lao động làm vị trí nhân viên kinh doanh thường xuyên giao nhận/thu tiền bán lẻ.

1.3. Về nội dung giao kết hợp đồng lao động

So với quy định của Bộ luật Lao động năm 1994 thì Bộ luật Lao động năm 2012 đã có rất nhiều điểm mới đầy đủ và tường minh hơn. Tuy nhiên, trên thực tế, nội dung giao kết hợp đồng vẫn còn sơ sài, còn thiếu nhiều nội dung chủ yếu như: Công việc phải làm, hình thức trả lương, các khoản phụ cấp, an toàn vệ sinh lao động, điều kiện làm việc..., nên khi có tranh chấp xảy ra khó có căn cứ để giải quyết. “Hiện nay phần lớn các đơn vị áp dụng theo mẫu in sẵn, trong đó có đủ các mục của nội dung chủ yếu, tuy nhiên các thỏa thuận lại thường không cụ thể và không có dẫn chiếu rõ ràng..., rất chung chung hoặc mập mờ...”[7]. Vậy việc ghi chung chung như vậy có thật sự bảo đảm được quyền lợi cho người lao động hay không? Vẫn còn tồn tại phổ biến nhiều đơn vị vi phạm về loại hợp đồng lao động nhằm “né tránh” thực hiện các quy định của pháp luật về việc sử dụng loại hợp đồng lao động tại các doanh nghiệp từ nhiều năm nay đã trở thành chủ đề bàn luận ở nhiều diễn đàn khác nhau… “Yêu cầu về cấm ký chuỗi hợp đồng lao động mặc dù là một quy định mang tính bảo vệ quyền làm việc lâu dài của người lao động nhưng việc các doanh nghiệp “cố tình” trốn tránh nghĩa vụ ký hợp đồng lao động chuỗi như thực tế vừa qua đã gây khó khăn cho một lực lượng lao động lớn tuổi (trên 35 tuổi) và lao động nước ngoài làm việc lâu dài tại Việt Nam[8]. Bộ luật Lao động quy định trong hợp đồng lao động phải ghi rõ nội dung về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề khiến không ít doanh nghiệp có quy mô nhỏ rơi vào lúng túng bởi xét về nhu cầu, khả năng thì việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề hầu như họ không đủ điều kiện về kinh tế để thực hiện, họ chỉ có thể tuyển dụng đầu vào với lao động đủ trình độ mà công việc yêu cầu, điều này dẫn tới việc điều khoản về đào tạo bồi dưỡng chỉ đưa vào cho đủ theo quy định nhưng không được áp dụng thực hiện trong thực tế.

Bên cạnh đó, quy định về thử việc cũng là vấn đề đáng phải bàn. Nội dung của hợp đồng thử việc quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 1 Điều 23 của Bộ luật Lao động năm 2012. Vậy, việc đóng nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế có đề cập đến trong thời gian thử việc không? Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì từ ngày 01/01/2018, mọi hợp đồng lao động có thời hạn từ 01 tháng trở lên thuộc loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc. Như vậy, quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 đã không còn phù hợp với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Hơn thế, quy định tại Điều 27 Bộ luật Lao động năm 2012 về thời gian thử việc được tối đa không quá 60 ngày đôi khi gây khó khăn cho cả người sử dụng lao động và người lao động. Thực tế trong nhiều trường hợp, việc áp dụng hợp đồng thử việc trong thời gian 02 tháng là chưa đủ khi mà người lao động chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu công việc và đơn vị sử dụng lao động vẫn muốn có thêm thời gian để đánh giá lại năng lực đáp ứng công việc của người đó. Tuy nhiên, theo quy định của luật thì với mỗi công việc chỉ được thử việc 01 lần, không được gia hạn. Ngoài ra, cũng theo quy định tại Điều 27 về thời gian thử việc còn chia ra các mốc thời gian thử việc khác nhau đối với từng nhóm trình độ cụ thể, song hiện nay, hầu hết các đơn vị đều áp dụng thời gian thử việc là 02 tháng đối với tất cả người lao động, không phân biệt lao động ở trình độ nào, vị trí nào. Đặc biệt, đối với các đơn vị giáo dục công lập có sử dụng giảng viên là lao động hợp đồng, ngoài việc thử việc 02 tháng với mức thu nhập “tượng trưng” thì các đơn vị còn áp dụng hợp đồng tập sự có thời gian là 12 tháng với mức lương hưởng 85%. Về thực tế, áp dụng hợp đồng tập sự này đối với cán bộ giảng viên mới đi làm là phù hợp vì giáo dục là ngành nghề mang tính chất đặc thù, tuy nhiên, các đơn vị áp dụng cho cả cán bộ hành chính thì lại là không hợp lý. Mặc dù, việc áp dụng này đối với đối tượng lao động ký hợp đồng lao động nào xét ở góc độ quy định pháp luật lao động đều sai.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, về chủ thể và nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động

- Đề nghị bổ sung khoản 2 Điều 164 “khi người sử dụng lao động ký hợp đồng với lao động dưới 15 tuổi thì lao động dưới 15 tuổi được hưởng đầy đủ các quyền như người lao động khác được quy định tại Bộ luật này”.

- Sửa đổi khoản 1 Điều 18: “Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải giao kết hợp đồng lao động” nhằm đáp ứng tính linh hoạt của thị trường lao động.

- Nên tập trung các quy định về lao động chưa thành niên và lao động từ 13 đến 15 tuổi vào Chương XI, mục 1 để tiện tra cứu.

Thứ hai, về nội dung giao kết hợp đồng lao động

- Cần nghiên cứu và quy định việc ghi địa điểm làm việc của người lao động cụ thể hơn nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động nếu trong quá trình làm việc bên sử dụng lao động thực hiện việc thay đổi địa điểm làm việc so với địa điểm làm việc ban đầu đã ký kết.

- Quy định cụ thể hơn đối với việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tay nghề đối với người lao động, trong có có thể tùy thuộc quy mô đơn vị, phạm vi hoạt động… để quy định sát thực hơn và người áp dụng luật cũng dễ dàng hơn.

- Bổ sung quy định về việc đơn vị sử dụng lao động không được phép ký hợp đồng loại khác thay thế hợp đồng lao động khi phát sinh quan hệ lao động hoặc, trong trường hợp ký hợp đồng dịch vụ thuê mướn lao động thì buộc phải ký với đơn vị có pháp nhân nhằm đảm bảo đơn vị cho thuê lao động có tư cách pháp nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp pháp cho người lao động.

- Quy định rõ khái niệm “công việc tạm thời” tại khoản 2 Điều 16 để tránh việc đơn vị sử dụng lao động lợi dụng sự thiếu rõ ràng để ký hợp đồng bằng lời nói dẫn đến việc người lao động không được bảo đảm quyền lợi khi ký hợp đồng loại này. Bên cạnh đó, cần hướng dẫn cụ thể hợp đồng mùa vụ là gì để tránh doanh nghiệp lách luật kéo dài thời gian ký hợp đồng có thời hạn với người lao động.

- Điều chỉnh quy định tại khoản 1 Điều 26 về thử việc như sau: “Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận việc làm thử, nếu có thỏa thuận thử việc thì thời gian thử việc sẽ được ghi vào hợp đồng lao động. Trong thời gian thử việc, hai bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất cứ lúc nào mà không cần báo trước hoặc bồi thường” theo đó, văn bản hướng dẫn có thể cụ thể hóa về việc nộp bảo hiểm là “thời gian làm việc dưới 01 tháng mà hai bên chấm dứt thử việc, không tiếp tục ký hợp đồng lao động thì không phải nộp bảo hiểm”

- Bổ sung quy định tại Điều 27 về thời gian thử việc, trong đó chấp thuận cho đơn vị thỏa thuận với người lao động về việc gia hạn thử việc với điều kiện không vượt quá 1/2 thời gian đã thử việc trước đó nhằm tạo thêm cơ hội cho cả bên sử dụng lao động và bên người lao động; sửa đổi khoản 1 Điều 29 thành “khi hết thời gian thử việc mà không bên nào thông báo về việc chấm dứt hợp đồng thì hợp đồng có xác định thời hạn đương nhiên có hiệu lực”. Quy định rõ hơn về loại hợp đồng lao động, thang bảng lương, hình thức trả lương, thử việc đối với các đơn vị có ngành nghề đặc thù (ví dụ như ngành giáo dục).

Bùi Thị Huyền

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Hữu Chí (2002), Hợp đồng lao động trong cơ chế thị trường ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội.

[2]. PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu (2015), Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8 (288), T4/2015.

[3]. Lê Thị Hoài Thu (2012), đề tài nhóm B - Đại học Quốc gia Hà Nội, Thực trạng pháp luật về quan hệ lao động ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện, tr.19.

[4]. Điểm a khoản 2 Điều 164 Bộ luật Lao động năm 2012.

[5]. Đoạn 2 khoản 1 Điều 18 Bộ luật Lao động năm 2012.

[6]. Khoản 1 Điều 73 Bộ luật Lao động năm 2012.

[7]. PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu (2014), Pháp luật hợp đồng lao động từ quy định đến thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 23 (279), T12/2014.

[8]. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật Lao động năm 2012, dự thảo tháng 12/2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: