Thứ ba 13/01/2026 03:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ, giao kết hợp đồng truyền thống đang dần được thay thế bởi một phương thức mới chính là giao kết hợp đồng điện tử. Khi giao kết thông qua hợp đồng điện tử các doanh nghiệp đã giảm đáng kể được chi phí giao dịch, thời gian giao dịch, dễ dàng hơn trong việc tiếp xúc với khách hàng và thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài.

Xét trong giai đoạn hội nhập hiện nay, Việt Nam ra nhập WTO chưa lâu nên việc giao kết thông qua hợp đồng điện tử không chỉ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể vươn ra thị trường quốc tế mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận với các hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Luật Giao dịch điện tử năm 2015 là đạo Luật đầu tiên điều chỉnh trực tiếp việc sử dụng các phương tiện điện tử trong giao dịch hợp đồng, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng khung pháp lý về giao dịch điện tử nói chung và hợp đồng thương mại nói riêng. Tuy nhiên, trong quá trình pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử đi vào thực tiễn ở Việt Nam đã xuất hiện những điểm hạn chế cần phải sửa đổi và khắc phục nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại điện tử phát triển manh mẽ, đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay. Bài viết dưới đây đã nêu ra những điểm hạn chế và những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

1. Những điểm còn hạn chế của pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Một là, về khái niệm hợp đồng điện tử

Điều 33 của Luật Giao dịch điện tử có quy định: “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật này.” Nội dung quy định này là điểm khác biệt so với Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử. Luật mẫu UNCITRAL không quy định cụ thể về hợp đồng điện tử mà chỉ đưa ra các nguyên tắc cơ bản khi soạn thảo hợp đồng điện tử dựa trên những đặc điểm đặc trưng nhất của loại hợp đồng này. Theo nguyên tắc chung, đối với những hợp đồng điện tử được ký kết bằng cách các bên không trực tiếp gặp gỡ nhau, mà chỉ trao đổi thông tin qua lại bằng thư từ, quy trình tạo lập và hình thành hợp đồng bao gồm hai giai đoạn mang nặng tính pháp lý về thủ tục, đó là: Giai đoạn đề nghị giao kết hợp đồng và giai đoạn chấp nhận giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 không quy định cụ thể về hai giai đoạn này, mà chỉ đặt ra các quy định về Người khởi tạo thông điệp dữ liệu - Điều 16; Thời điểm, địa điểm gửi thông điệp dữ liệu - Điều 17; Nhận thông điệp dữ liệu - Điều 18; Thời điểm, địa điểm nhận thông điệp dữ liệu - Điều 19; Gửi và nhận tự động thông điệp dữ liệu - Điều 20. Như vậy, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 mới chỉ quy định những vấn đề liên quan đến yếu tố kỹ thuật của việc trao đổi trong giao dịch điện tử mà chưa đưa ra được các quy định mang tính thủ tục pháp lý liên quan đến các giai đoạn đề nghị và chấp nhận đề nghị giao dịch ký kết hợp đồng điện tử. Chính điều này đã làm phát sinh nhiều vấn đề gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp nếu có sau này.

Hai là, về đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng

Pháp luật về thương mại điện tử hiện hành không quy định cụ thể về lời mời “đề nghị giao kết hợp đồng”, “chấp nhận giao kết hợp đồng” mà được đề cập thông qua hoạt động gửi nhận thông điệp dữ liệu. Về bản chất, việc giao kết hợp đồng nói chung cũng như giao kết hợp đồng thương mại điện tử nói riêng đều bao gồm hai hoạt động “đề nghị giao kết hợp đồng” và “chấp nhận giao kết hợp đồng”. Tuy nhiên, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Nghị định 52/2013/NĐ-CP lại không sử dụng thuật ngữ này, nhưng trong giao kết hợp đồng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website (tại mục 2 Nghị định 52/2013/NĐ-CP) lại dùng sử dụng thuật ngữ “đề nghị giao kết”, “chấp nhận giao kết” mà không thông qua thông điệp dữ liệu điện tử. Việc quy định thuật ngữ thiếu đồng nhất giữa văn bản luật và nghị định hướng dẫn hay trong cùng nghị định là thiếu hợp lý về kỹ thuật lập pháp.

Luật Giao dịch điện tử năm 2005 cũng không xác định rõ thời điểm hợp đồng điện tử được coi là đã giao kết. Điều 17, 18, 19 của Luật này chỉ quy định về thời điểm, địa chỉ gửi, địa chỉ nhận thông điệp dữ liệu mà không có quy định nào đề cập việc nhận một thông điệp dữ liệu như thế nào thì được coi là chấp nhận chào hàng và từ đó hình thành hợp đồng điện tử. Việc xác định thời điểm hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là một trong những điều kiện xác định hiệu lực trong hợp đồng. Có thể thấy, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành cũng không quy định nào về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng điện tử, cũng như không quy định các trường hợp hợp đồng điện tử bị coi là vô hiệu, hậu quả pháp lý của hợp đồng điện tử vô hiệu. Hơn nữa, trong hầu hết các văn bản luật và dưới luật liên quan đến giao dịch điện tử, hợp đồng điện tử, thương mại điện tử, chữ ký điện tử,… đều không có sự kết nối với các văn bản pháp luật quy định về hợp đồng, giao kết hợp đồng, hợp đồng điện tử bị vô hiệu và cách giải quyết. Đây là sự không đồng bộ của quy định pháp luật về giao dịch hợp đồng điện tử nói chung và Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Nghị định 52/2013/NĐ-CP nói riêng.

Ba là, về giao kết hợp đồng thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài

Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và các văn bản dưới luật vẫn chưa có quy định cụ thể việc hợp đồng thương mại điện tử được giao kết với doanh nghiệp nước ngoài, mà chỉ quy định về thừa nhận chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài: “Nhà nước công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài nếu chữ ký điện tử hoặc chứng thư điện tử đó có độ tin cậy tương đương với độ tin cậy của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử theo quy định của pháp luật. Việc xác định mức độ tin cậy của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài phải căn cứ vào các tiêu chuẩn quốc tế đã được thừa nhận, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các yếu tố có liên quan khác” (khoản 1 Điều 27). Vậy làm thế nào để xác định một chữ ký điện tử nước ngoài là có độ tin cậy tương đương với chữ ký điện tử thông thường theo quy định của pháp luật Việt Nam. Hiện cũng chưa có một văn bản nào thừa nhận những tiêu chuẩn quốc tế, hay các điều ước quốc tế nào mà Việt Nam là thành viên để xác định độ tin cậy của một chữ ký điện tử nước ngoài. Khoản 2 Điều 27 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 cũng quy định: “Chính phủ quy định cụ thể về việc thừa nhận chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài” nhưng cho đến nay, sau hơn 10 năm từ khi Luật Giao dịch điện tử ra đời vẫn chưa có một văn bản nào của Chính phủ quy định cụ thể về vấn đề này1. Có thể thấy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn cầu hóa sâu rộng như hiện nay, vấn đề giao kết hợp đồng thương mại điện tử với người nước ngoài cần đặc biệt quan tâm. Chính phủ không những cần thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, chứng thư điện tử nước ngoài, mà còn cần quy định chi tiết về lời đề nghị, chấp nhận giao kết, hiệu lực hợp đồng cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt Nam với các thương nhân nước ngoài.

Bốn là, về giải quyết tranh chấp liên quan đến giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Vấn đề giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm được Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định 3 điều (từ Điều 50 đến Điều 52) và mới chỉ đề cập đến vấn đề xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp trong các giao dịch điện tử, chưa có quy định nào để giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng điện tử nói chung và hợp đồng thương mại điện tử nói riêng. Điều 52 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “Nhà nước khuyến khích các bên có tranh chấp trong giao dịch điện tử giải quyết thông qua hòa giải. Trong trường hợp các bên không hòa giải được thì thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về giao dịch điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật”. Đây là quy định được đánh giá chưa cụ thể và rõ ràng, gây khó khăn giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến giao dịch điện tử. Thông thường khi có tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể của hợp đồng, việc đầu tiên hai bên phải làm là tiến hành thương lượng với nhau. Nếu giải quyết tranh chấp bằng thương lượng không đạt kết quả thì các bên tiến hành hòa giải. Với sự tham gia của bên thứ ba, hai bên có thể giải quyết được những vướng mắc mà khi gặp gỡ trực tiếp không tháo gỡ được. Nếu sau khi thực hiện hòa giải vẫn không thành công thì hai bên có thể áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp tại Trọng tài hoặc Tòa án.

Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử ngày 16/5/2013 quy định về phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại điện tử: “Việc giải quyết tranh chấp phải thông qua thương lượng giữa các bên, hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa án theo các thủ tục, quy định hiện hành về giải quyết tranh chấp” (khoản 4 Điều 76). Trong khi đó, Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định rất cụ thể về hình thức giải quyết tranh chấp tại Điều 317 như sau: “1. Thương lượng giữa các bên; 2. Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải; 3. Giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án. Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Tòa án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Tòa án do pháp luật quy định”. Có thể thấy, tuy cùng liệt kê 4 phương thức giải quyết tranh chấp là: Thương lượng; Hòa giải; Trọng tài và Tòa án, nhưng chỉ Luật Thương mại 2005 mới liệt kê theo đúng trình tự ưu tiên áp dụng các phương thức mà các bên có thể lựa chọn để giải quyết tranh chấp. Nghị định 52/2013//NĐ-CP mới chỉ liệt kê mà không quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết của từng phương thức.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện về giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Có thể nói, Luật Giao dịch điện tử đầu tiên tại Việt Nam được ban hành năm 2005 được xem là nền tảng và dấu mốc quan trọng nhất trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển nhanh chóng của loại hình thương mại điện tử trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, có thể nói khung pháp lý về hợp đồng điện tử nói chung và giao kết hợp đồng thương mại điện tử nói riêng cho đến nay vẫn chưa được đầy đủ và cần bổ sung, sửa đổi liên tục để hoàn thiện.

Thứ nhất, cần bổ sung các quy định cụ thể hướng dẫn việc giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Vấn đề giao kết hợp đồng điện tử được quy định tại Chương IV Luật Giao dịch điện tử năm 2005 với 6 điều, từ Điều 33 đến Điều 38, cùng với các Điều 17, 18, 19 và 20 hướng dẫn về việc gửi, nhận thông điệp dữ liệu như một quy trình để giao kết hợp đồng điện tử nói chung và hợp đồng thương mại điện tử nói riêng. Tuy nhiên, có thể thấy, các quy định này còn sơ sài và chưa bao quát được hết các vấn đề pháp lý phát sinh khi giao kết hợp đồng thương mại điện tử trong giai đoạn hiện nay. Có thể đặt ra hàng hoạt những câu hỏi chưa thể giải đáp rõ ràng như: Yếu tố xác định một đề nghị giao kết hợp đồng điện tử là chắc chắn? Trong trường hợp người đề nghị giao kết hợp đồng điện tử đã gửi đề nghị giao kết nhưng sau đó muốn thu hồi lại đề nghị đó thì phải làm như thế nào, khi các thao tác qua phương tiện điện tử gần như “tức thời”? Thế nào được coi là một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng điện tử? Khi người được đề nghị đã chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nhưng có nếu điều kiện hay các sửa đổi đề nghị thì có được coi là một lời đề nghị mới hay không?... Bởi vậy, cần bổ sung vào Chương IV Luật Giao dịch điện tử năm 2005 tất cả những quy định hướng dẫn giao kết hợp đồng điện tử. Cụ thể, cần bổ sung quy định về khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng điện tử, về thời hạn hiệu lực của một đề nghị giao kết hợp đồng điện tử, về thay đổi, rút lại, hủy bỏ và chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng điện tử. Đồng thời, quy định về khái niệm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng điện tử, về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng điện tử, về nội dung hợp đồng điện tử. Những vấn đề về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng điện tử, hợp đồng điện tử vô hiệu và cách xử lý hợp đồng điện tử vô hiệu được áp dụng các quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự.

Tiếp thu kinh nghiệm của Hàn Quốc, chúng ta có thể bổ sung vào Chương IV Luật Giao dịch điện tử năm 2005 điều khoản số 9 ETBL của Hàn Quốc như sau: “Một hợp đồng điện tử được xem là có giá trị pháp lý khi sự thỏa thuận (chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng) được chuyển vào máy tính của bên nhận. Dữ liệu được xem là đã chuyển vào máy tinh của bên nhận khi bên này xác nhận rằng họ đã nhận được dữ liệu đó”. Quy định thông điệp dữ liệu được coi là đã chuyển khi bắt buộc phải có thông báo xác nhận từ bên nhận là quy định rõ ràng, cụ thể và đảm bảo an toàn khi giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, cần bổ sung vào Chương IV của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định về việc xác định phạm vi điều chỉnh trong từng lĩnh vực chuyên ngành khi giao kết hợp đồng sử dụng phương tiện điện tử, như sau: “Ngoài những quy định về giao kết hợp đồng điện tử được quy định trong chương này, việc giao kết hợp đồng điện tử trong lĩnh vực dân sự sẽ do Bộ luật Dân sự điều chỉnh, việc giao kết hợp đồng điện tử trong lĩnh vực thương mại sẽ được giải quyết theo quy định của Luật Thương mại”2.

Thứ hai, bổ sung quy định về giao kết hợp đồng thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hóa như hiện nay, hợp đồng điện tử được coi là phương tiện hữu hiệu và phổ biến nhất được các doanh nghiệp lựa chọn khi giao kết đối với thương nhân nước ngoài. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm vốn có hợp đồng thương mại điện tử cũng tồn tại một số rủi ro nhất định như: Việc giao kết hợp đồng điện tử giữa hai doanh nghiệp ở hai nước khác nhau, nếu xảy ra tranh chấp phát sinh thì hợp đồng điện tử đó sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật quốc gia nào và cơ quan nào sẽ giải quyết tranh chấp. Đồng thời yêu cầu về chứng cứ, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cũng như chi phí giải quyết tranh chấp là những vấn đề cần được giải đáp. Luật Giao dịch điện tử năm 2005 hiện nay chỉ quy định một điều khoản liên quan đến chữ ký điện tử và chứng thư điện tử3, vì vậy, để giải quyết những vướng mắc nêu trên, cần bổ sung vào Luật Giao dịch điện tử những vấn đề liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài. Chúng ta có thể tham khảo các quốc gia và các tổ chức quốc tế trên thế giới về vấn đề này như kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Singapore hay UNCITRAL. Trong đó, cần thiết nhất là quy định về chữ ký điện tử của các doanh nghiệp nước ngoài. Để thúc đẩy hoạt động đầu tư, hội nhập quốc tế, cần thừa nhận giá trị pháp lý tương đương của chữ ký điện tử thuộc doanh nghiệp nước ngoài, theo hướng: “Việc công nhận hay không không công nhận một chứ ký điện tử là dựa trên độ tin cậy của chữ ký đó chứ không phân biệt nguồn gốc của chữ ký hay của cơ quan chứng nhận chứ ký”.

Thứ ba, bổ sung các quy định cụ thể hơn về giải quyết tranh chấp liên quan đến giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Luật Giao dịch điện tử và Nghị định hướng dẫn về thương mại điện tử cần quy định chi tiết thẩm quyền, trình tự thủ tục của từng phương thức giải quyết tranh chấp như vai trò, trách nhiệm của bên hòa giải thứ ba, cách thức xác định Trọng tài, Tòa án giải quyết tranh chấp... Theo đó, Điều 52 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 cần sửa đổi như sau: “1. Nhà nước khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp trong giao dịch điện tử, trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử bằng thương lượng giữa các bên bằng hòa giải (hoặc trung gian). Nếu thương lượng hoặc hòa giải không đạt kết quả thì tranh chấp có thể giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài. 2. Thủ tục giải quyết tranh chấp về giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử tại Tòa án hay Trọng tài sẽ được tiến hành theo thủ tục tố tụng hiện hành của Tòa án hoặc của Trọng tài”4.

Thứ tư, gia nhập Công ước về sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế của Liên Hợp quốc

Công ước của Liên Hợp quốc về sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế (Công ước 2005 - CUECIC) được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua tại phiên họp lần thứ 38 tổ chức ngày 23/11/2005 tại New York. Công ước Liên Hợp quốc về sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế ra đời nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng chứng từ điện tử trong thương mại quốc tế để đảm bảo các hợp đồng giao kết và các loại chứng từ khác được trao đổi bằng phương tiện điện tử cũng có giá trị và hiệu lực thực thi tương tự như bản giấy của chúng trong thương mại truyền thống5.

Việc gia nhập Công ước về sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế năm 2005 sẽ đem lại cho Việt Nam những lợi ích giá trị về mặt pháp lý, cụ thể là: (i) Việc gia nhập Công ước sẽ giúp thống nhất pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới. Bởi Công ước 2005 – CUECIC đã thống nhất hóa được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Vì vậy, khi gia nhập, Việt Nam sẽ được hưởng những lợi ích do Công ước này mang lại, đồng thời giảm bớt xung đột pháp luật trong giao kết hợp đồng điện tử, tạo khung pháp luật thống nhất, hiện đại trong lĩnh vực giao kết hợp đồng điện tử đang ngày càng phát triển tại Việt Nam; (ii) Việc gia nhập Công ước cũng giúp cho việc hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng nói chung và pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử nói riêng của mỗi quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam. Mặc dù số lượng thành viên của Công ước hiện tại không nhiều, nhưng việc nhiều quốc gia đang xem xét để trở thành thành viên Công ước cho thấy những ảnh hưởng tích cực từ Công ước này; (iii) Việc gia nhập Công ước 2005 – CUECIC cũng sẽ là cơ sở để việc giải quyết tranh chấp (nếu có), từ các hợp đồng điện tử có yếu tố quốc tế thuận lợi hơn6. Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh hoặc có liên quan đến việc giao kết hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài bởi Tòa án hoặc Trọng tài Việt Nam trở nên thống nhất và dễ dàng hơn, bởi theo Công ước, nguồn luật được giải thích và áp dụng thống nhất hơn. Với phạm vi áp dụng rộng như vậy, các doanh nghiệp, trọng tài viên, thẩm phán có thể sẽ không cần xem xét, nghiên cứu và cân nhắc bất kỳ nguồn luật nào khác ngoài Công ước; (iv) Gia nhập Công ước 2005 – CUECIC, chúng ta sẽ thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nội địa, tăng tính cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt Nam có thể giảm bớt chi phí và thời gian đàm phán để thống nhất lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Nếu phải áp dụng luật nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam có thể mất thời gian để tự mình tìm hiểu hoặc mất chi phí thuê tư vấn luật để tìm hiểu luật nước ngoài đó. Ngoài ra, quá trình này luôn tiềm ẩn những rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp Việt Nam do thiếu sự hiểu biết đầy đủ về pháp luật nước ngoài cũng như cách áp dụng luật nước ngoài. Trong khi đó, chi phí và thời gian để tìm hiểu Công ước ít hơn rất nhiều so với luật quốc gia nước ngoài, vì các doanh nghiệp/luật sư tư vấn có thể tham khảo rất dễ dàng (và miễn phí) các hệ thống cơ sở dữ liệu vô cùng phong phú về Công ước, đồng thời, có thể tránh được việc phải sử dụng đến quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế để xác định luật áp dụng cho hợp đồng.

Có thể thấy, với những lợi ích to lớn trên, dù còn nhiều khó khăn vướng mắc, nhưng việc gia nhập Công ước 2005 - CUECIC là yêu cầu tất yếu khách quan và thực sự cấp thiết trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu hóa như hiện nay.


Phạm Hồng Nhật
Viện Nhà nước và pháp luật


Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem: Hà Vy (2015), Pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Trường đại học Luật Hà Nội, tr. 64.

[2]. Nguyễn Thị Mơ (2006), Cẩm nang pháp luật về giao kết hơp đồng điện tử, Nxb. Lao động - xã hội, Hà Nội, tr. 216-217.

[3]. Xem Điều 27 Luật Giao dịch điện tử năm 2005.

[4]. Nguyễn Thị Mơ, tldd chú thích 2, tr. 222.

[5]. Xem: Báo cáo Tổng quan về Công ước Liên hợp quốc về sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế và lợi ích khi gia nhập công ước, Hà Nội, tháng 10/2013, http://mutrap.org.vn/index.php/vi/explore/bao-cao-nghien-cuu/finish/45/640, ngày truy cập 29/06/2016.

[6]. Xem: Trần Văn Biên (2012), Hợp đồng điện tử theo pháp luật Việt Nam, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội, tr.291.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.

Theo dõi chúng tôi trên: