Thứ bảy 14/03/2026 20:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận (Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015).

1. Quy định pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản
Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận (Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015).

1.1. Tặng cho tài sản là động sản

Điều 458 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 2. Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký”.

Giống với nhiều quốc gia trên thế giới, pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận tài sản bao gồm động sản và bất động sản. Theo quy định trên, điều luật không quy định về hình thức, mà chỉ quy định về hiệu lực của hợp đồng.

Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản. Theo quy định này, hợp đồng tặng cho động sản là hợp đồng thực tế vì thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng phụ thuộc vào thời điểm giao nhận tài sản trên thực tế. Sở dĩ điều luật này ghi nhận thời điểm của hợp đồng tặng cho như vậy là xuất phát từ nguyên nhân đây là hợp đồng không có đền bù, bên tặng cho không thu được bất kỳ lợi ích vật chất gì từ việc tặng cho, do đó, nếu hai bên đã xác lập hợp đồng tặng cho nhưng chưa tiến hành chuyển giao tài sản thì hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực, bên tặng cho vẫn được quyền rút lại quyết định tặng cho của mình. Tuy nhiên, nếu bên tặng cho và bên được tặng cho thỏa thuận thời điểm phát sinh hiệu lực là thời điểm khi giao kết hợp đồng, hoặc một thời điểm nào khác (không trùng với thời điểm chuyển giao tài sản tặng cho) thì thỏa thuận của các bên được pháp luật tôn trọng và ưu tiên áp dụng.

Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Trong trường hợp này, thậm chí bên được tặng cho đã nhận tài sản nhưng chưa làm thủ tục đăng ký thì hợp đồng tặng cho vẫn chưa phát sinh hiệu lực.

1.2. Tặng cho tài sản là bất động sản

Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật. 2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản”. Bất động sản thường có giá trị lớn và có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của mỗi người. Do đó, quy định về hình thức và hiệu lực của hợp đồng tặng cho bất động sản chặt chẽ và yêu cầu cao hơn so với hợp đồng tặng cho động sản.

Về hình thức: Hợp đồng tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với vấn đề này, thực tế đã có nhiều quan điểm cho rằng, hình thức của hợp đồng tặng cho không nên coi là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng vì yếu tố quan trọng nhất trong hợp đồng là sự thống nhất, bày tỏ ý chí.

Về hiệu lực: Việc xác định hiệu lực của hợp đồng tặng cho bất động sản được xác định dựa theo hai trường hợp sau: (i) Đối với bất động sản phải đăng ký thì hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; (ii) Đối với bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

1.3. Tặng cho tài sản có điều kiện

Theo quy định tại khoản 1 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho; điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Việc tặng cho tài sản có thể không kèm điều kiện hoặc kèm theo một điều kiện nhất định. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ được sử dụng là hợp đồng tặng cho không có điều kiện (hoặc hợp đồng tặng cho thông thường) và hợp đồng tặng cho có điều kiện.

Điều kiện tặng cho được hiểu là một hoặc nhiều nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi nhận tài sản tặng cho. Thông thường, điều kiện tặng cho do bên tặng cho đưa ra và được sự chấp thuận của bên được tặng cho. Việc xác định điều kiện tặng cho phụ thuộc vào ý chí của các bên trong hợp đồng. Tuy nhiên, các bên không được phép thỏa thuận điều kiện mà vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. Quy định này hoàn toàn phù hợp với thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho. Vì khi chưa chuyển giao tài sản thì hợp đồng tặng cho chưa phát sinh hiệu lực, do đó, mặc dù bên được tặng cho đã hoàn thành điều kiện thì bên tặng cho không bắt buộc phải chuyển giao tài sản mà thay vào đó, bên tặng cho thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. Ví dụ: A thỏa thuận tặng B một con bò với điều kiện B phải xây chuồng bò; B xây chuồng bò xong nhưng A không giao bò cho B thì A có trách nhiệm phải thanh toán chi phí B đã bỏ ra để xây chuồng bò.

Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Thực tế, để nhận được tài sản thì bên được tặng cho phải hoàn thành điều kiện, do đó, nếu bên được tặng cho không thực hiện điều kiện thì đồng nghĩa với việc họ không được nhận tài sản và phải trả lại cho bên tặng cho. Thậm chí, nếu trong thời gian giữ tài sản, bên được tặng cho làm mất mát, hư hỏng tài sản thì còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên tặng cho.

2. Những bất cập của quy định pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, đối với tặng cho tài sản là bất động sản

Hiệu lực của hợp đồng tặng cho bất động sản chưa có sự thống nhất giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Nhà ở năm 2014. Khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng”. Trong khi đó, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng tặng cho tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký đối với tài sản tặng cho phải đăng ký sở hữu. Vì vậy, tác giả kiến nghị, cần sửa đổi quy định pháp luật để tạo sự thống nhất về hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản là bất động sản giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Nhà ở năm 2014, tránh sự chồng chéo, bất cập giữa các luật với nhau.

Quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản tạo ra sự bất hợp lý trong việc xác định trách nhiệm của bên tặng cho với bên được tặng cho. Theo quy định tại Điều 458 và Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng ký có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; còn hợp đồng tặng cho tài sản không phải đăng ký có hiệu lực từ thời điểm chuyển giao tài sản. Như vậy, vấn đề đặt ra là, trường hợp hợp đồng tặng cho đã được giao kết, thậm chí là đã được công chứng, chứng thực, nhưng sau đó, bên tặng cho từ chối chuyển giao tài sản cho bên được tặng cho mà việc từ chối này gây ra thiệt hại cho bên kia thì giải quyết như thế nào? Rõ ràng, cơ chế để quy trách nhiệm cho bên tặng cho là không có vì tính đến thời điểm chuyển giao tài sản thì họ chưa bị ràng buộc bất kỳ trách nhiệm gì với bên được tặng cho.

Thứ hai, đối với tặng cho tài sản có điều kiện

Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chưa đầy đủ về điều kiện tặng cho, gây khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp trên thực tế liên quan đến tặng cho tài sản có điều kiện. Thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề điều kiện tặng cho phải đáp ứng hay thỏa mãn những yếu tố gì, đặc biệt là liên quan đến vấn đề điều kiện tặng cho có được mang lại lợi ích cho bên tặng cho hay một chủ thể thứ ba khác hay không? Chẳng hạn như: Tặng cho con trai toàn bộ nhà đất với điều kiện người con trai này phải cho em gái đã lấy chồng có hoàn cảnh khó khăn 200 triệu đồng và làm từ thiện 30 triệu đồng; tặng cho nhà đất (đang cho thuê) cho con với điều kiện cha mẹ vẫn là người thu tiền thuê cho đến khi chết; tặng cho con nhà đất với điều kiện chỉ để ở không được bán, chuyển nhượng… Vì vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện quy định về điều kiện tặng cho tài sản trong thời gian tới là hết sức cần thiết.

Khoản 2 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện”. Theo quy định này, bên được tặng cho phải “hoàn thành nghĩa vụ” thì mới được yêu cầu bên tặng cho thanh toán chi phí mà mình đã bỏ ra để thực hiện điều kiện. Như vậy, quy định này chưa dự liệu trường hợp nếu bên được tặng cho đang thực hiện điều kiện tặng cho mà phát sinh tranh chấp dẫn đến bên tặng cho không chuyển giao tài sản thì họ có được thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện hay không? Đây cũng là một vướng mắc cần có quy định cụ thể để tháo gỡ.

Khoản 3 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Đối chiếu quy định về thời điểm xác lập quyền sở hữu với quy định tại khoản 3 Điều 462 thì tác giả băn khoăn rằng, nếu bên được tặng cho mang tài sản tặng cho đi bán, thế chấp, cầm cố, tặng cho lại… với tư cách chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó, những tài sản này bị đòi lại vì bên được tặng cho đã không thực hiện điều kiện (nghĩa vụ) thì việc giải quyết quyền lợi của bên tặng cho và quyền lợi của bên thứ ba đã xác lập giao dịch lại không hề đơn giản bởi Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa dự liệu cho vấn đề này. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự Pháp, tại Điều 954 có quy định rất cụ thể: “Trong trường hợp việc tặng cho bị hủy bỏ bởi các điều kiện kèm theo không được thực hiện, người tặng cho được trả lại các tài sản đã tặng cho và không bị ràng buộc bởi bất kỳ nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp nào; người tặng cho có mọi quyền đối với người thứ ba đang chiếm giữ bất động sản tặng cho như đối với người được tặng cho”. Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng chưa có quy định để giải quyết tranh chấp phát sinh đối với trường hợp trong thời gian bên được tặng cho chiếm hữu, sử dụng tài sản thì tài sản được tặng cho phát sinh hoa lợi, lợi tức hay được đầu tư tăng thêm mà giữa tài sản ban đầu và phần đầu tư tăng thêm không tách ra được; nếu người được tặng cho bắt buộc phải trả lại tài sản cho bên tặng cho vì họ không thực hiện điều kiện (nghĩa vụ) thì việc giải quyết số hoa lợi, lợi tức hay phần tài sản tăng thêm do đầu tư là vấn đề lúng túng cả về lý luận và thực tiễn.

Thứ ba, về tên gọi của hợp đồng

Tên gọi của hợp đồng như thế nào là đúng đối với trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất?

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và “quyền tài sản” (khoản 1 Điều 105); quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, “quyền sử dụng đất” và các quyền tài sản khác (Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015). Từ đó có thể suy ra quyền sử dụng đất là tài sản.

Theo Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 thì người sử dụng đất có quyền tặng cho quyền sử dụng đất và việc tặng cho phải lập thành “hợp đồng” tặng cho và có công chứng hoặc chứng thực.

Vấn đề đặt ra là, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có thể gọi là “hợp đồng tặng cho tài sản được không? Đây cũng là vướng mắc chưa có lời giải. Vì theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì sẽ được gọi là hợp đồng tặng cho tài sản (do quyền sử dụng đất là tài sản). Tuy nhiên, theo Luật Đất đai thì lại được gọi là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Việc xác định này có liên quan đến thời hiệu khởi kiện khi có tranh chấp, “thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm” (Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015); còn thời hiệu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất không quy định, điều này được hiểu là tranh chấp về quyền sử dụng đất sẽ không bị hạn chế về thời gian nên khởi khiện lúc nào là do đương sự tự quyết định.

Để giải quyết vướng mắc trên, tác giả kiến nghị, nên quy định thống nhất tên gọi của hợp đồng tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất để tránh gây khó khăn cho cơ quan tố tụng (Tòa án) trong việc áp dụng thời hiệu.

ThS. Đoàn Thị Ngọc Hải

Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: