Thứ bảy 13/12/2025 13:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận (Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015).

1. Quy định pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản
Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận (Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015).

1.1. Tặng cho tài sản là động sản

Điều 458 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 2. Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký”.

Giống với nhiều quốc gia trên thế giới, pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận tài sản bao gồm động sản và bất động sản. Theo quy định trên, điều luật không quy định về hình thức, mà chỉ quy định về hiệu lực của hợp đồng.

Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản. Theo quy định này, hợp đồng tặng cho động sản là hợp đồng thực tế vì thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng phụ thuộc vào thời điểm giao nhận tài sản trên thực tế. Sở dĩ điều luật này ghi nhận thời điểm của hợp đồng tặng cho như vậy là xuất phát từ nguyên nhân đây là hợp đồng không có đền bù, bên tặng cho không thu được bất kỳ lợi ích vật chất gì từ việc tặng cho, do đó, nếu hai bên đã xác lập hợp đồng tặng cho nhưng chưa tiến hành chuyển giao tài sản thì hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực, bên tặng cho vẫn được quyền rút lại quyết định tặng cho của mình. Tuy nhiên, nếu bên tặng cho và bên được tặng cho thỏa thuận thời điểm phát sinh hiệu lực là thời điểm khi giao kết hợp đồng, hoặc một thời điểm nào khác (không trùng với thời điểm chuyển giao tài sản tặng cho) thì thỏa thuận của các bên được pháp luật tôn trọng và ưu tiên áp dụng.

Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Trong trường hợp này, thậm chí bên được tặng cho đã nhận tài sản nhưng chưa làm thủ tục đăng ký thì hợp đồng tặng cho vẫn chưa phát sinh hiệu lực.

1.2. Tặng cho tài sản là bất động sản

Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật. 2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản”. Bất động sản thường có giá trị lớn và có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của mỗi người. Do đó, quy định về hình thức và hiệu lực của hợp đồng tặng cho bất động sản chặt chẽ và yêu cầu cao hơn so với hợp đồng tặng cho động sản.

Về hình thức: Hợp đồng tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với vấn đề này, thực tế đã có nhiều quan điểm cho rằng, hình thức của hợp đồng tặng cho không nên coi là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng vì yếu tố quan trọng nhất trong hợp đồng là sự thống nhất, bày tỏ ý chí.

Về hiệu lực: Việc xác định hiệu lực của hợp đồng tặng cho bất động sản được xác định dựa theo hai trường hợp sau: (i) Đối với bất động sản phải đăng ký thì hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; (ii) Đối với bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

1.3. Tặng cho tài sản có điều kiện

Theo quy định tại khoản 1 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho; điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Việc tặng cho tài sản có thể không kèm điều kiện hoặc kèm theo một điều kiện nhất định. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ được sử dụng là hợp đồng tặng cho không có điều kiện (hoặc hợp đồng tặng cho thông thường) và hợp đồng tặng cho có điều kiện.

Điều kiện tặng cho được hiểu là một hoặc nhiều nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi nhận tài sản tặng cho. Thông thường, điều kiện tặng cho do bên tặng cho đưa ra và được sự chấp thuận của bên được tặng cho. Việc xác định điều kiện tặng cho phụ thuộc vào ý chí của các bên trong hợp đồng. Tuy nhiên, các bên không được phép thỏa thuận điều kiện mà vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. Quy định này hoàn toàn phù hợp với thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho. Vì khi chưa chuyển giao tài sản thì hợp đồng tặng cho chưa phát sinh hiệu lực, do đó, mặc dù bên được tặng cho đã hoàn thành điều kiện thì bên tặng cho không bắt buộc phải chuyển giao tài sản mà thay vào đó, bên tặng cho thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. Ví dụ: A thỏa thuận tặng B một con bò với điều kiện B phải xây chuồng bò; B xây chuồng bò xong nhưng A không giao bò cho B thì A có trách nhiệm phải thanh toán chi phí B đã bỏ ra để xây chuồng bò.

Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Thực tế, để nhận được tài sản thì bên được tặng cho phải hoàn thành điều kiện, do đó, nếu bên được tặng cho không thực hiện điều kiện thì đồng nghĩa với việc họ không được nhận tài sản và phải trả lại cho bên tặng cho. Thậm chí, nếu trong thời gian giữ tài sản, bên được tặng cho làm mất mát, hư hỏng tài sản thì còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên tặng cho.

2. Những bất cập của quy định pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, đối với tặng cho tài sản là bất động sản

Hiệu lực của hợp đồng tặng cho bất động sản chưa có sự thống nhất giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Nhà ở năm 2014. Khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng”. Trong khi đó, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng tặng cho tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký đối với tài sản tặng cho phải đăng ký sở hữu. Vì vậy, tác giả kiến nghị, cần sửa đổi quy định pháp luật để tạo sự thống nhất về hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản là bất động sản giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Nhà ở năm 2014, tránh sự chồng chéo, bất cập giữa các luật với nhau.

Quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản tạo ra sự bất hợp lý trong việc xác định trách nhiệm của bên tặng cho với bên được tặng cho. Theo quy định tại Điều 458 và Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng ký có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; còn hợp đồng tặng cho tài sản không phải đăng ký có hiệu lực từ thời điểm chuyển giao tài sản. Như vậy, vấn đề đặt ra là, trường hợp hợp đồng tặng cho đã được giao kết, thậm chí là đã được công chứng, chứng thực, nhưng sau đó, bên tặng cho từ chối chuyển giao tài sản cho bên được tặng cho mà việc từ chối này gây ra thiệt hại cho bên kia thì giải quyết như thế nào? Rõ ràng, cơ chế để quy trách nhiệm cho bên tặng cho là không có vì tính đến thời điểm chuyển giao tài sản thì họ chưa bị ràng buộc bất kỳ trách nhiệm gì với bên được tặng cho.

Thứ hai, đối với tặng cho tài sản có điều kiện

Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chưa đầy đủ về điều kiện tặng cho, gây khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp trên thực tế liên quan đến tặng cho tài sản có điều kiện. Thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề điều kiện tặng cho phải đáp ứng hay thỏa mãn những yếu tố gì, đặc biệt là liên quan đến vấn đề điều kiện tặng cho có được mang lại lợi ích cho bên tặng cho hay một chủ thể thứ ba khác hay không? Chẳng hạn như: Tặng cho con trai toàn bộ nhà đất với điều kiện người con trai này phải cho em gái đã lấy chồng có hoàn cảnh khó khăn 200 triệu đồng và làm từ thiện 30 triệu đồng; tặng cho nhà đất (đang cho thuê) cho con với điều kiện cha mẹ vẫn là người thu tiền thuê cho đến khi chết; tặng cho con nhà đất với điều kiện chỉ để ở không được bán, chuyển nhượng… Vì vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện quy định về điều kiện tặng cho tài sản trong thời gian tới là hết sức cần thiết.

Khoản 2 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện”. Theo quy định này, bên được tặng cho phải “hoàn thành nghĩa vụ” thì mới được yêu cầu bên tặng cho thanh toán chi phí mà mình đã bỏ ra để thực hiện điều kiện. Như vậy, quy định này chưa dự liệu trường hợp nếu bên được tặng cho đang thực hiện điều kiện tặng cho mà phát sinh tranh chấp dẫn đến bên tặng cho không chuyển giao tài sản thì họ có được thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện hay không? Đây cũng là một vướng mắc cần có quy định cụ thể để tháo gỡ.

Khoản 3 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Đối chiếu quy định về thời điểm xác lập quyền sở hữu với quy định tại khoản 3 Điều 462 thì tác giả băn khoăn rằng, nếu bên được tặng cho mang tài sản tặng cho đi bán, thế chấp, cầm cố, tặng cho lại… với tư cách chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó, những tài sản này bị đòi lại vì bên được tặng cho đã không thực hiện điều kiện (nghĩa vụ) thì việc giải quyết quyền lợi của bên tặng cho và quyền lợi của bên thứ ba đã xác lập giao dịch lại không hề đơn giản bởi Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa dự liệu cho vấn đề này. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự Pháp, tại Điều 954 có quy định rất cụ thể: “Trong trường hợp việc tặng cho bị hủy bỏ bởi các điều kiện kèm theo không được thực hiện, người tặng cho được trả lại các tài sản đã tặng cho và không bị ràng buộc bởi bất kỳ nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp nào; người tặng cho có mọi quyền đối với người thứ ba đang chiếm giữ bất động sản tặng cho như đối với người được tặng cho”. Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng chưa có quy định để giải quyết tranh chấp phát sinh đối với trường hợp trong thời gian bên được tặng cho chiếm hữu, sử dụng tài sản thì tài sản được tặng cho phát sinh hoa lợi, lợi tức hay được đầu tư tăng thêm mà giữa tài sản ban đầu và phần đầu tư tăng thêm không tách ra được; nếu người được tặng cho bắt buộc phải trả lại tài sản cho bên tặng cho vì họ không thực hiện điều kiện (nghĩa vụ) thì việc giải quyết số hoa lợi, lợi tức hay phần tài sản tăng thêm do đầu tư là vấn đề lúng túng cả về lý luận và thực tiễn.

Thứ ba, về tên gọi của hợp đồng

Tên gọi của hợp đồng như thế nào là đúng đối với trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất?

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và “quyền tài sản” (khoản 1 Điều 105); quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, “quyền sử dụng đất” và các quyền tài sản khác (Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015). Từ đó có thể suy ra quyền sử dụng đất là tài sản.

Theo Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 thì người sử dụng đất có quyền tặng cho quyền sử dụng đất và việc tặng cho phải lập thành “hợp đồng” tặng cho và có công chứng hoặc chứng thực.

Vấn đề đặt ra là, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có thể gọi là “hợp đồng tặng cho tài sản được không? Đây cũng là vướng mắc chưa có lời giải. Vì theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì sẽ được gọi là hợp đồng tặng cho tài sản (do quyền sử dụng đất là tài sản). Tuy nhiên, theo Luật Đất đai thì lại được gọi là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Việc xác định này có liên quan đến thời hiệu khởi kiện khi có tranh chấp, “thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm” (Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015); còn thời hiệu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất không quy định, điều này được hiểu là tranh chấp về quyền sử dụng đất sẽ không bị hạn chế về thời gian nên khởi khiện lúc nào là do đương sự tự quyết định.

Để giải quyết vướng mắc trên, tác giả kiến nghị, nên quy định thống nhất tên gọi của hợp đồng tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất để tránh gây khó khăn cho cơ quan tố tụng (Tòa án) trong việc áp dụng thời hiệu.

ThS. Đoàn Thị Ngọc Hải

Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: