Thứ tư 23/09/2026 16:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 và nhu cầu hỗ trợ pháp lý giai đoạn 2021 - 2026

Thời gian qua, Quốc hội đã thông qua nhiều dự án luật quan trọng, trong đó có Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, ban hành một số nghị quyết quan trọng, đặc biệt là Nghị quyết của Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP), phê chuẩn hiệp định tự do thương mại EVFTA, cùng nhiều văn kiện liên quan.

Chính phủ tiếp tục có những cam kết đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt giảm, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không hợp lý, tạo những chuyển biến sâu sắc hơn về môi trường đầu tư - kinh doanh, giảm chi phí cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2015 - 2020 vẫn còn những hạn chế, khó khăn và tồn tại nhất định cần phải khắc phục trong thời gian tới. Qua bài viết, tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình và Nguyễn Văn Hoàn sẽ đề cập đến thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2015 - 2020 và nhu cầu cần hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2026.

1. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2015 -2020

Thời gian qua, Quốc hội đã thông qua nhiều dự án luật quan trọng, trong đó có Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, ban hành một số nghị quyết quan trọng, đặc biệt là Nghị quyết của Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP), phê chuẩn hiệp định tự do thương mại EVFTA, cùng nhiều văn kiện liên quan. Chính phủ tiếp tục có những cam kết đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt giảm, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không hợp lý, tạo những chuyển biến sâu sắc hơn về môi trường đầu tư - kinh doanh, giảm chi phí cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2015 - 2020 vẫn còn những hạn chế, tồn tại nhất định.

1.1. Tồn tại và hạn chế

Thứ nhất, đa số các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, trong đó số lượng doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chiếm đa số (trên 97,7%[1]) trong tỷ trọng doanh nghiệp ở cả ba lĩnh vực: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp, xây dựng; dịch vụ.

Thứ hai, sự liên kết của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu, đặc biệt là có rất ít mối liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Theo Báo cáo triển vọng phát triển châu Á của Ngân hàng Phát triển châu Á, hiện nay mới chỉ có 21% các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu so với 30% của Thái Lan và 46% của Malaysia. Quá trình sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam có rất ít sự liên kết vào chuỗi giá trị. Điều này khác với hầu hết các nước có năng suất cao, nơi mà việc hợp đồng thầu phụ giữa các doanh nghiệp lớn và nhỏ rất phổ biến. Các ngành sản xuất trong nước còn thiếu tính hiệu quả kinh tế theo quy mô và thiếu sự cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu có nghĩa là họ không có động lực để tiếp thu phương thức và công nghệ sản xuất mới.

Thứ ba, thiếu vắng lực lượng doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn, đủ mạnh để dẫn dắt khu vực DNNVV tham gia chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế, hiện tại, trong số các doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam, thì các doanh nghiệp có quy mô lớn và vừa chỉ chiếm khoảng 3,67%[2], trong khi quy mô doanh nghiệp có vai trò quyết định đến khả năng tận dụng được những lợi thế theo quy tắc “kinh tế quy mô”, như: Chi phí trung bình thấp hơn, chi phí biên thấp hơn giúp doanh nghiệp tăng khả năng tham gia vào mạng lưới sản xuất.

Bên cạnh đó, sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam chủ yếu được hình thành sau một giai đoạn tích lũy ngắn ngủi, dựa vào vốn tự có và ít được Nhà nước hỗ trợ. Quá trình phát triển theo mô hình tập đoàn của nhóm các tập đoàn kinh tế tư nhân hiện gặp phải một số khó khăn về quản trị, mô hình, do phần lớn phát triển từ quy mô doanh nghiệp gia đình. Các liên kết trong mô hình tập đoàn còn khá đơn giản, chưa triển khai được các hình thức liên kết “mềm” khác thông qua thỏa thuận, hợp tác sử dụng thương hiệu, dịch vụ, kết quả nghiên cứu đổi mới, ứng dụng khoa học, công nghệ chung trong tập đoàn theo nguyên tắc thị trường. Lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân mới chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực như dịch vụ, kinh doanh bất động sản…

Thứ tư, năng suất của khu vực DNNVV còn thấp: Theo đánh giá tại Báo cáo Việt Nam 2035[3], từ sau năm 2000, tăng trưởng năng suất giảm ở hầu hết các khu vực. Mặc dù con số doanh nghiệp tăng lên nhưng năng suất tài sản cấp doanh nghiệp của khu vực DNNVV lại giảm mạnh xuống đến mức gần như không có khoảng cách giữa năng suất lao động và tài sản trong khu vực tư nhân trong nước và doanh nghiệp nhà nước. Hầu hết các DNNVV có quy mô nhỏ, do đó không thể tăng năng suất lao động nhờ chuyên môn hóa hay tận dụng lợi thế quy mô được. Qua tính toán từ kết quả điều tra doanh nghiệp cho thấy, năng suất lao động (NSLĐ) bình quân toàn bộ khu vực doanh nghiệp năm 2015 theo giá hiện hành đạt 254,6 triệu đồng/lao động, cao gấp 3,2 lần NSLĐ của toàn nền kinh tế nhưng tăng trưởng thấp hơn so với mức tăng NSLĐ chung: Bình quân giai đoạn 2011 - 2015, NSLĐ khu vực doanh nghiệp (theo giá hiện hành) tăng 5,1%/năm, trong khi năng suất lao động của toàn nền kinh tế tăng 9,5%/năm[4].

Thứ năm, năng lực cạnh tranh của DNNVV còn yếu: Do quy mô nhỏ bé nên DNNVV Việt Nam gặp phải những hạn chế cố hữu, như công nghệ lạc hậu, nguồn vốn hạn chế, trình độ quản lý thấp, nguồn nhân lực yếu cả về lượng và chất. Đa số các DNNVV có cách thức quản lý, quản trị mang tính gia đình, chưa có tầm nhìn, chiến lược kinh doanh dài hạn và thiếu sản phẩm mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Có thể thấy trong giai đoạn 2012 - 2015, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, bộc lộ rất rõ qua những con số về nợ xấu, tồn đọng sản phẩm, không phát triển được thị trường…

Thứ sáu, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún: Đa số các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân có quy mô nhỏ, thậm chí siêu nhỏ nên khả năng tích tụ và tập trung vốn để đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất… hầu như không có. Mặc dù, số lượng các DNNVV chiếm đến hơn 97,7%[5] tổng số doanh nghiệp nhưng chiếm tỷ trọng về doanh thu, tài sản cố định và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp chưa tương xứng.

Thứ bảy, máy móc, thiết bị và công nghệ lạc hậu: Phần lớn máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ của DNNVV còn lạc hậu. Đa số đang sử dụng công nghệ tụt hậu 2 - 3 thế hệ so với mức trung bình của thế giới. Đây là nguyên nhân làm cho trong một thời gian dài khu vực kinh tế tư nhân trong đó chủ yếu là các DNNVV chưa phát triển được như kỳ vọng.

1.2. Một số nguyên nhân chủ yếu

- Mặc dù thời gian qua nhiều cơ chế chính sách đã được ban hành, tương đối đầy đủ tạo hành lang thông thoáng, hỗ trợ cho hoạt động của các DNNVV, song chậm được triển khai nên đã làm mất đi nhiều cơ hội của các DNNVV (do không tiếp cận được các ưu đãi từ các chính sách đã ban hành), các chính sách trở nên lạc hậu với tình hình thực tiễn, cần phải điều chỉnh, bổ sung...

- Các chính sách khuyến khích đầu tư còn riêng rẽ, manh mún, mới tập trung ưu đãi đầu tư theo chiều rộng, chưa tạo được tác động mong muốn đối với mục tiêu chính sách. Do thực hiện cơ chế quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ, nên dẫn đến cùng một đối tượng điều chỉnh song phải tuân thủ nhiều văn bản khác nhau theo dõi, quản lý thực hiện. Chính cơ chế này đã làm cho doanh nghiệp rất khó tìm hiểu nắm bắt và tiếp cận các ưu đãi của chính sách. Một số chính sách ưu đãi chưa đủ hấp dẫn để khuyến khích doanh nhân đầu tư vốn kinh doanh ở các vùng khó khăn và kém lợi thế.

- Các cấp chính quyền một số địa phương vẫn còn lúng túng trong việc đưa ra các biện pháp hỗ trợ cụ thể đối với doanh nghiệp, doanh nhân, đặc biệt là đối với khu vực DNNVV. Việc giám sát đánh giá thực thi chính sách còn hạn chế dẫn đến nhiều hạng mục trong các kế hoạch hỗ trợ phát triển doanh nghiệp không hoàn thành đúng thời hạn.

- Mặc dù nhận thức của các cấp, ngành đối với vai trò của khu vực DNNVV đã có những chuyển biến nhưng vẫn chưa được đề cao. Thực tế, tình trạng phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp dân doanh với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI vẫn còn phổ biến không chỉ trong các cơ quan hành chính nhà nước mà ở trong đời sống kinh tế - xã hội hàng ngày. Do đó, doanh nghiệp dân doanh chưa thực sự được bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực, nhất là vốn và đất đai.

- Việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi còn chưa đồng bộ, thiếu minh bạch; một số bộ luật quan trọng có liên quan trực tiếp đến phát triển doanh nghiệp, doanh nhân thực thi chưa đạt hiệu quả cao. Cải cách hành chính chưa triệt để, còn nhiều thủ tục gây phiền hà cho doanh nghiệp, doanh nhân; tình trạng “Giấy phép con”, điều kiện kinh doanh vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực. Bộ máy hành chính và năng lực đội ngũ công chức còn nhiều hạn chế, công cuộc cải cách hành chính chưa đáp ứng kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp.

2. Nhu cầu cần hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2026

Một là, hỗ trợ về thuế

Các chính sách hỗ trợ về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế cho nhà đầu tư khởi nghiệp sáng tạo... đã được quy định tại Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng chưa thể áp dụng ngay trên thực tế vì cần phải sửa các luật khác liên quan đến thuế, đầu tư, đất đai... Doanh nghiệp kiến nghị, Quốc hội sớm đưa chương trình sửa Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đất đai vào chương trình xây dựng của Quốc hội ngay từ đầu nhiệm kỳ giai đoạn 2021 - 2026.

Hai là, về chính sách cấp bù lãi suất

Theo quy định tại Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Chính phủ có thẩm quyền ban hành chính sách cấp bù lãi suất cho các khoản vay của DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị. Tuy nhiên, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghị định số 39/2018/NĐ-CP) không quy định nội dung chính sách cấp bù lãi suất hỗ trợ DNNVV (đối tượng, mức cấp bù, phương thức bù, điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp bù...) nên Bộ Tài chính không có cơ sở để hướng dẫn chính sách cấp bù lãi suất. Do đó, doanh nghiệp kiến nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị Chính phủ thay thế Nghị định số 39/2018/NĐ-CP trong năm 2020 để bảo đảm triển khai các ưu đãi về cấp bù lãi suất.

Ba là, chính sách về hỗ trợ mặt bằng sản xuất

Doanh nghiệp đề nghị cấp Chính quyền cấp tỉnh cần bố trí quỹ đất để hình thành, phát triển cụm công nghiệp; khu chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung cho DNNVV, đây được coi là nhu cầu rất lớn của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất.

Bốn là, chính sách hỗ trợ mở rộng thị trường

Hiện nay, quy định liên quan đến việc thành lập chuỗi phân phối sản phẩm cho DNNVV đang thiếu vắng cả về cơ chế thủ tục thành lập và cơ chế ưu đãi. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sớm có hướng dẫn về ưu đãi cho nhà đầu tư tham gia thành lập chuỗi phân phối sản phẩm. Bộ Công Thương sớm có văn bản hướng dẫn các DNNVV tham gia vào chuỗi phân phối sản phẩm trong nước, tham gia các hoạt động, sự kiện giao dịch thương mại, kết nối DNNVV, đồng thời đẩy mạnh tổ chức các hoạt động truyền thông, quảng bá, tôn vinh hàng hóa sản xuất trong nước, hàng thực phẩm an toàn, hỗ trợ, tập huấn, đào tạo kiến thức cho các hộ kinh doanh, kiến thức an toàn thực phẩm cho doanh nghiệp, tổ chức các sự kiện giao dịch thương mại, kết nối DNNVV với chuỗi phân phối sản phẩm trong nước.

Năm là, nhu cầu về đào tạo nghề, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực luôn là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc liên kết giữa đào tạo và sử dụng đang có vấn đề khập khiễng. Chính phủ cần có cơ chế để các doanh nghiệp sẵn sàng mở cửa để đón nhận lực lượng lao động do chính các cơ sở đào tạo kể cả chính quy, đại học cho đến nghề nghiệp. Nhà nước cần có giải pháp cho doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích thật sự nếu họ sử dụng nguồn lao động của Nhà nước đào tạo ra, cần xây dựng cơ chế điều phối, phối hợp 3 bên giữa Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp trong đào tạo nghề cho người lao động. Nhà nước phải giữ vai trò điều phối bằng các chính sách, trong đó, phân định rõ nội dung thực hiện quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hoạt động đào tạo.

Trong khi chờ các chính sách của nhà nước, thì điều quan trọng là các cơ sở giáo dục nghề nghiệp không nên ngồi chờ doanh nghiệp đến với mình, mà cần chủ động tìm đến doanh nghiệp. Các trường nên đưa ra chương trình, cách đào tạo thực tế, chất lượng để thuyết phục, mời gọi doanh nghiệp tham gia.

Sáu là, nhu cầu về tiếp cận thông tin, chính sách pháp luật, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

Trong quá trình hội nhập, các DNNVV phải tiếp cận rất nhiều các tiêu chuẩn, quy chuẩn, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm hàng hóa liên thông quốc tế, các thông lệ kinh doanh thương mại quốc tế. Tuy nhiên, phần lớn là do chủ quan, các DNNVV chưa thực sự tìm hiểu các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế để nâng cao năng lực của chính mình trong kinh doanh. Đây là vấn đề rất đáng lưu tâm, đòi hỏi cả Nhà nước và doanh nghiệp phải có những giải pháp tăng cường năng lực tiếp cận với các thông tin, chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp đề nghị Bộ Tư pháp sớm trình Chính phủ kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp giai đoạn 2021 - 2026.

Bảy là, nhu cầu tiếp cận các dịch vụ hành chính công, thông tin về mở cửa thị trường, thông tin về khoa học công nghệ

Đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ sớm hướng dẫn việc thành lập cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, ban hành tiêu chí công nhận tổ chức, cá nhân đủ điều kiện hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực khoa học công nghệ nhằm hỗ trợ DNNVV, đẩy mạnh triển khai có hiệu quả Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2026, hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, rà soát, xây dựng cơ sở dữ liệu các tổ chức khoa học và công nghệ, trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo công lập và ngoài công lập trên cả nước.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Nguyễn Văn Hoàn

Công ty TNHH Nguyễn Hoàn



[1]. Báo cáo số 150/BC-TCTK ngày 27/9/2019 của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[2]. Phân tích từ số liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê.

[3]. Báo cáo Việt Nam 2035, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Thế giới.

[4]. Báo cáo Năng suất lao động của Việt Nam và giải pháp chủ yếu thúc đẩy tăng năng suất lao động, Tổng cục Thống kê, tháng 4/2018.

[5]. Báo cáo số 150/BC-TCTK ngày 27/9/2019 của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: