Thứ sáu 13/03/2026 15:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 và nhu cầu hỗ trợ pháp lý giai đoạn 2021 - 2026

Thời gian qua, Quốc hội đã thông qua nhiều dự án luật quan trọng, trong đó có Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, ban hành một số nghị quyết quan trọng, đặc biệt là Nghị quyết của Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP), phê chuẩn hiệp định tự do thương mại EVFTA, cùng nhiều văn kiện liên quan.

Chính phủ tiếp tục có những cam kết đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt giảm, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không hợp lý, tạo những chuyển biến sâu sắc hơn về môi trường đầu tư - kinh doanh, giảm chi phí cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2015 - 2020 vẫn còn những hạn chế, khó khăn và tồn tại nhất định cần phải khắc phục trong thời gian tới. Qua bài viết, tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình và Nguyễn Văn Hoàn sẽ đề cập đến thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2015 - 2020 và nhu cầu cần hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2026.

1. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2015 -2020

Thời gian qua, Quốc hội đã thông qua nhiều dự án luật quan trọng, trong đó có Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, ban hành một số nghị quyết quan trọng, đặc biệt là Nghị quyết của Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP), phê chuẩn hiệp định tự do thương mại EVFTA, cùng nhiều văn kiện liên quan. Chính phủ tiếp tục có những cam kết đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt giảm, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không hợp lý, tạo những chuyển biến sâu sắc hơn về môi trường đầu tư - kinh doanh, giảm chi phí cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2015 - 2020 vẫn còn những hạn chế, tồn tại nhất định.

1.1. Tồn tại và hạn chế

Thứ nhất, đa số các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, trong đó số lượng doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chiếm đa số (trên 97,7%[1]) trong tỷ trọng doanh nghiệp ở cả ba lĩnh vực: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp, xây dựng; dịch vụ.

Thứ hai, sự liên kết của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu, đặc biệt là có rất ít mối liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Theo Báo cáo triển vọng phát triển châu Á của Ngân hàng Phát triển châu Á, hiện nay mới chỉ có 21% các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu so với 30% của Thái Lan và 46% của Malaysia. Quá trình sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam có rất ít sự liên kết vào chuỗi giá trị. Điều này khác với hầu hết các nước có năng suất cao, nơi mà việc hợp đồng thầu phụ giữa các doanh nghiệp lớn và nhỏ rất phổ biến. Các ngành sản xuất trong nước còn thiếu tính hiệu quả kinh tế theo quy mô và thiếu sự cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu có nghĩa là họ không có động lực để tiếp thu phương thức và công nghệ sản xuất mới.

Thứ ba, thiếu vắng lực lượng doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn, đủ mạnh để dẫn dắt khu vực DNNVV tham gia chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế, hiện tại, trong số các doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam, thì các doanh nghiệp có quy mô lớn và vừa chỉ chiếm khoảng 3,67%[2], trong khi quy mô doanh nghiệp có vai trò quyết định đến khả năng tận dụng được những lợi thế theo quy tắc “kinh tế quy mô”, như: Chi phí trung bình thấp hơn, chi phí biên thấp hơn giúp doanh nghiệp tăng khả năng tham gia vào mạng lưới sản xuất.

Bên cạnh đó, sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam chủ yếu được hình thành sau một giai đoạn tích lũy ngắn ngủi, dựa vào vốn tự có và ít được Nhà nước hỗ trợ. Quá trình phát triển theo mô hình tập đoàn của nhóm các tập đoàn kinh tế tư nhân hiện gặp phải một số khó khăn về quản trị, mô hình, do phần lớn phát triển từ quy mô doanh nghiệp gia đình. Các liên kết trong mô hình tập đoàn còn khá đơn giản, chưa triển khai được các hình thức liên kết “mềm” khác thông qua thỏa thuận, hợp tác sử dụng thương hiệu, dịch vụ, kết quả nghiên cứu đổi mới, ứng dụng khoa học, công nghệ chung trong tập đoàn theo nguyên tắc thị trường. Lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân mới chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực như dịch vụ, kinh doanh bất động sản…

Thứ tư, năng suất của khu vực DNNVV còn thấp: Theo đánh giá tại Báo cáo Việt Nam 2035[3], từ sau năm 2000, tăng trưởng năng suất giảm ở hầu hết các khu vực. Mặc dù con số doanh nghiệp tăng lên nhưng năng suất tài sản cấp doanh nghiệp của khu vực DNNVV lại giảm mạnh xuống đến mức gần như không có khoảng cách giữa năng suất lao động và tài sản trong khu vực tư nhân trong nước và doanh nghiệp nhà nước. Hầu hết các DNNVV có quy mô nhỏ, do đó không thể tăng năng suất lao động nhờ chuyên môn hóa hay tận dụng lợi thế quy mô được. Qua tính toán từ kết quả điều tra doanh nghiệp cho thấy, năng suất lao động (NSLĐ) bình quân toàn bộ khu vực doanh nghiệp năm 2015 theo giá hiện hành đạt 254,6 triệu đồng/lao động, cao gấp 3,2 lần NSLĐ của toàn nền kinh tế nhưng tăng trưởng thấp hơn so với mức tăng NSLĐ chung: Bình quân giai đoạn 2011 - 2015, NSLĐ khu vực doanh nghiệp (theo giá hiện hành) tăng 5,1%/năm, trong khi năng suất lao động của toàn nền kinh tế tăng 9,5%/năm[4].

Thứ năm, năng lực cạnh tranh của DNNVV còn yếu: Do quy mô nhỏ bé nên DNNVV Việt Nam gặp phải những hạn chế cố hữu, như công nghệ lạc hậu, nguồn vốn hạn chế, trình độ quản lý thấp, nguồn nhân lực yếu cả về lượng và chất. Đa số các DNNVV có cách thức quản lý, quản trị mang tính gia đình, chưa có tầm nhìn, chiến lược kinh doanh dài hạn và thiếu sản phẩm mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Có thể thấy trong giai đoạn 2012 - 2015, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, bộc lộ rất rõ qua những con số về nợ xấu, tồn đọng sản phẩm, không phát triển được thị trường…

Thứ sáu, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún: Đa số các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân có quy mô nhỏ, thậm chí siêu nhỏ nên khả năng tích tụ và tập trung vốn để đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất… hầu như không có. Mặc dù, số lượng các DNNVV chiếm đến hơn 97,7%[5] tổng số doanh nghiệp nhưng chiếm tỷ trọng về doanh thu, tài sản cố định và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp chưa tương xứng.

Thứ bảy, máy móc, thiết bị và công nghệ lạc hậu: Phần lớn máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ của DNNVV còn lạc hậu. Đa số đang sử dụng công nghệ tụt hậu 2 - 3 thế hệ so với mức trung bình của thế giới. Đây là nguyên nhân làm cho trong một thời gian dài khu vực kinh tế tư nhân trong đó chủ yếu là các DNNVV chưa phát triển được như kỳ vọng.

1.2. Một số nguyên nhân chủ yếu

- Mặc dù thời gian qua nhiều cơ chế chính sách đã được ban hành, tương đối đầy đủ tạo hành lang thông thoáng, hỗ trợ cho hoạt động của các DNNVV, song chậm được triển khai nên đã làm mất đi nhiều cơ hội của các DNNVV (do không tiếp cận được các ưu đãi từ các chính sách đã ban hành), các chính sách trở nên lạc hậu với tình hình thực tiễn, cần phải điều chỉnh, bổ sung...

- Các chính sách khuyến khích đầu tư còn riêng rẽ, manh mún, mới tập trung ưu đãi đầu tư theo chiều rộng, chưa tạo được tác động mong muốn đối với mục tiêu chính sách. Do thực hiện cơ chế quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ, nên dẫn đến cùng một đối tượng điều chỉnh song phải tuân thủ nhiều văn bản khác nhau theo dõi, quản lý thực hiện. Chính cơ chế này đã làm cho doanh nghiệp rất khó tìm hiểu nắm bắt và tiếp cận các ưu đãi của chính sách. Một số chính sách ưu đãi chưa đủ hấp dẫn để khuyến khích doanh nhân đầu tư vốn kinh doanh ở các vùng khó khăn và kém lợi thế.

- Các cấp chính quyền một số địa phương vẫn còn lúng túng trong việc đưa ra các biện pháp hỗ trợ cụ thể đối với doanh nghiệp, doanh nhân, đặc biệt là đối với khu vực DNNVV. Việc giám sát đánh giá thực thi chính sách còn hạn chế dẫn đến nhiều hạng mục trong các kế hoạch hỗ trợ phát triển doanh nghiệp không hoàn thành đúng thời hạn.

- Mặc dù nhận thức của các cấp, ngành đối với vai trò của khu vực DNNVV đã có những chuyển biến nhưng vẫn chưa được đề cao. Thực tế, tình trạng phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp dân doanh với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI vẫn còn phổ biến không chỉ trong các cơ quan hành chính nhà nước mà ở trong đời sống kinh tế - xã hội hàng ngày. Do đó, doanh nghiệp dân doanh chưa thực sự được bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực, nhất là vốn và đất đai.

- Việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi còn chưa đồng bộ, thiếu minh bạch; một số bộ luật quan trọng có liên quan trực tiếp đến phát triển doanh nghiệp, doanh nhân thực thi chưa đạt hiệu quả cao. Cải cách hành chính chưa triệt để, còn nhiều thủ tục gây phiền hà cho doanh nghiệp, doanh nhân; tình trạng “Giấy phép con”, điều kiện kinh doanh vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực. Bộ máy hành chính và năng lực đội ngũ công chức còn nhiều hạn chế, công cuộc cải cách hành chính chưa đáp ứng kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp.

2. Nhu cầu cần hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2026

Một là, hỗ trợ về thuế

Các chính sách hỗ trợ về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế cho nhà đầu tư khởi nghiệp sáng tạo... đã được quy định tại Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng chưa thể áp dụng ngay trên thực tế vì cần phải sửa các luật khác liên quan đến thuế, đầu tư, đất đai... Doanh nghiệp kiến nghị, Quốc hội sớm đưa chương trình sửa Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đất đai vào chương trình xây dựng của Quốc hội ngay từ đầu nhiệm kỳ giai đoạn 2021 - 2026.

Hai là, về chính sách cấp bù lãi suất

Theo quy định tại Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Chính phủ có thẩm quyền ban hành chính sách cấp bù lãi suất cho các khoản vay của DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị. Tuy nhiên, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghị định số 39/2018/NĐ-CP) không quy định nội dung chính sách cấp bù lãi suất hỗ trợ DNNVV (đối tượng, mức cấp bù, phương thức bù, điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp bù...) nên Bộ Tài chính không có cơ sở để hướng dẫn chính sách cấp bù lãi suất. Do đó, doanh nghiệp kiến nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị Chính phủ thay thế Nghị định số 39/2018/NĐ-CP trong năm 2020 để bảo đảm triển khai các ưu đãi về cấp bù lãi suất.

Ba là, chính sách về hỗ trợ mặt bằng sản xuất

Doanh nghiệp đề nghị cấp Chính quyền cấp tỉnh cần bố trí quỹ đất để hình thành, phát triển cụm công nghiệp; khu chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung cho DNNVV, đây được coi là nhu cầu rất lớn của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất.

Bốn là, chính sách hỗ trợ mở rộng thị trường

Hiện nay, quy định liên quan đến việc thành lập chuỗi phân phối sản phẩm cho DNNVV đang thiếu vắng cả về cơ chế thủ tục thành lập và cơ chế ưu đãi. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sớm có hướng dẫn về ưu đãi cho nhà đầu tư tham gia thành lập chuỗi phân phối sản phẩm. Bộ Công Thương sớm có văn bản hướng dẫn các DNNVV tham gia vào chuỗi phân phối sản phẩm trong nước, tham gia các hoạt động, sự kiện giao dịch thương mại, kết nối DNNVV, đồng thời đẩy mạnh tổ chức các hoạt động truyền thông, quảng bá, tôn vinh hàng hóa sản xuất trong nước, hàng thực phẩm an toàn, hỗ trợ, tập huấn, đào tạo kiến thức cho các hộ kinh doanh, kiến thức an toàn thực phẩm cho doanh nghiệp, tổ chức các sự kiện giao dịch thương mại, kết nối DNNVV với chuỗi phân phối sản phẩm trong nước.

Năm là, nhu cầu về đào tạo nghề, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực luôn là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc liên kết giữa đào tạo và sử dụng đang có vấn đề khập khiễng. Chính phủ cần có cơ chế để các doanh nghiệp sẵn sàng mở cửa để đón nhận lực lượng lao động do chính các cơ sở đào tạo kể cả chính quy, đại học cho đến nghề nghiệp. Nhà nước cần có giải pháp cho doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích thật sự nếu họ sử dụng nguồn lao động của Nhà nước đào tạo ra, cần xây dựng cơ chế điều phối, phối hợp 3 bên giữa Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp trong đào tạo nghề cho người lao động. Nhà nước phải giữ vai trò điều phối bằng các chính sách, trong đó, phân định rõ nội dung thực hiện quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hoạt động đào tạo.

Trong khi chờ các chính sách của nhà nước, thì điều quan trọng là các cơ sở giáo dục nghề nghiệp không nên ngồi chờ doanh nghiệp đến với mình, mà cần chủ động tìm đến doanh nghiệp. Các trường nên đưa ra chương trình, cách đào tạo thực tế, chất lượng để thuyết phục, mời gọi doanh nghiệp tham gia.

Sáu là, nhu cầu về tiếp cận thông tin, chính sách pháp luật, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

Trong quá trình hội nhập, các DNNVV phải tiếp cận rất nhiều các tiêu chuẩn, quy chuẩn, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm hàng hóa liên thông quốc tế, các thông lệ kinh doanh thương mại quốc tế. Tuy nhiên, phần lớn là do chủ quan, các DNNVV chưa thực sự tìm hiểu các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế để nâng cao năng lực của chính mình trong kinh doanh. Đây là vấn đề rất đáng lưu tâm, đòi hỏi cả Nhà nước và doanh nghiệp phải có những giải pháp tăng cường năng lực tiếp cận với các thông tin, chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp đề nghị Bộ Tư pháp sớm trình Chính phủ kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp giai đoạn 2021 - 2026.

Bảy là, nhu cầu tiếp cận các dịch vụ hành chính công, thông tin về mở cửa thị trường, thông tin về khoa học công nghệ

Đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ sớm hướng dẫn việc thành lập cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, ban hành tiêu chí công nhận tổ chức, cá nhân đủ điều kiện hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực khoa học công nghệ nhằm hỗ trợ DNNVV, đẩy mạnh triển khai có hiệu quả Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2026, hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, rà soát, xây dựng cơ sở dữ liệu các tổ chức khoa học và công nghệ, trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo công lập và ngoài công lập trên cả nước.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Nguyễn Văn Hoàn

Công ty TNHH Nguyễn Hoàn



[1]. Báo cáo số 150/BC-TCTK ngày 27/9/2019 của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[2]. Phân tích từ số liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê.

[3]. Báo cáo Việt Nam 2035, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Thế giới.

[4]. Báo cáo Năng suất lao động của Việt Nam và giải pháp chủ yếu thúc đẩy tăng năng suất lao động, Tổng cục Thống kê, tháng 4/2018.

[5]. Báo cáo số 150/BC-TCTK ngày 27/9/2019 của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: