Thứ bảy 14/03/2026 17:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã chính thức ghi nhận tổ chức tài chính vi mô là một loại hình tổ chức tín dụng. Song đến nay, hầu hết các văn bản điều chỉnh tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô đều được ban hành vào thời điểm trước năm 2010, tạo ra những bất cập không nhỏ trong thực tiễn hoạt động của loại hình tổ chức này. Sau khi nghiên cứu và phản ánh thực trạng hoạt động, bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam hiện nay.

Abstract: The Law on Credit Institutions of 2010 has officially acknowledged that micro credit institution is a kind of credit institution. There is until now, however, most of documents regulating organization and operation of micro finance institutions were passed before the year 2010 and make not little inadequacies for operation of this kind of institution in the practice. Based on the study and operation reality, the paper proposes some recommendations for completing legal regulations on business operation of micro finance institutions in Vietnam at present.

1. Hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô theo pháp luật Việt Nam

1.1. Những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh

Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, tổ chức tài chính vi mô (TCVM) phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau đây: (i) Tổ chức TCVM chỉ được thực hiện những hoạt động được pháp luật cho phép và được quy định trong giấy phép do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định; (ii) Tổ chức TCVM phải công bố công khai lãi suất và các mức phí cung ứng dịch vụ; (iii) Tổ chức TCVM phải xây dựng và tuân thủ các quy định nội bộ; (iv) Tổ chức TCVM phải phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng; (v) Tổ chức TCVM phải lưu giữ hồ sơ tín dụng; (vi) Tổ chức TCVM phải đảm bảo tổng dư nợ cấp tín dụng cho khách hàng TCVM trên tổng dư nợ không thấp hơn tỷ lệ do NHNN quy định.

1.2. Hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô

Về mặt bản chất, tổ chức TCVM là loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) nhỏ và chủ yếu cung ứng các dịnh vụ đơn giản cho đối tượng khách hàng là những đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội, nên những hoạt động kinh doanh của chủ thể này cũng khá đơn giản. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo các chủ thể này hoạt động đúng với tôn chỉ, mục đích, cũng như đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng đưa ra những quy định để điều chỉnh đến hoạt động của tổ chức TCVM như sau:

Một là, hoạt động huy động vốn:

Đây là một nội dung rất quan trọng đối với các TCTD nói chung và tổ chức TCVM nói riêng, bởi huy động vốn chính là hoạt động tạo ra phương tiện để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác của tổ chức TCVM. Nói cách khác, hoạt động này có thể hiểu là nền tảng để các tổ chức TCVM xúc tiến các hoạt động kinh doanh khác nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Việc huy động vốn của các TCTD rất đa dạng vì có thể được thực hiện dưới rất nhiều các hình thức khác nhau như nhận tiền gửi, phát hành các loại giấy tờ có giá hay đi vay của các chủ thể khác. Tuy nhiên, do đặc thù của tổ chức TCVM là những TCTD có quy mô nhỏ, đối tượng khách hàng chủ yếu là người có thu nhập thấp và nội dung hoạt động cũng chỉ là những hoạt động ngân hàng đơn giản nên hoạt động huy động vốn của tổ chức TCVM cũng có nhiều hạn chế hơn so với các loại hình TCTD khác. Các hoạt động cụ thể bao gồm: Nhận tiền gửi tiết kiệm bằng tiền đồng Việt Nam; vay vốn của các TCTD, tổ chức tài chính và của các cá nhân, tổ chức khác trong nước; vay vốn, nhận tài trợ của các cá nhân, tổ chức nước ngoài… Hoạt động huy động vốn của các tổ chức TCVM chỉ bao gồm ba hình thức kể trên. Điều này có nghĩa là tổ chức TCVM không được phép thực hiện việc huy động vốn dưới bất kỳ hình thức nào khác, kể cả việc phát hành các loại giấy tờ có giá hay vay trực tiếp từ NHNN...

Hai là, hoạt động cấp tín dụng:

Đây là hoạt động hết sức quan trọng với tổ chức TCVM bởi phần lớn nguồn thu nhập của tổ chức được tạo ra từ chính hoạt động này. Hoạt động cấp tín dụng của tổ chức TCVM chỉ được thực hiện dưới duy nhất hình thức cho vay và cũng chỉ được cho vay bằng tiền đồng. Đối tượng khách hàng chủ yếu của TCVM là những người có thu nhập thấp hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ với những khoản vay có giá trị nhỏ để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhỏ nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bản thân cũng như của gia đình nên không phát sinh nhu cầu sử dụng ngoại tệ.

So với các TCTD khác, hoạt động cấp tín dụng của tổ chức TCVM bị giới hạn khá chặt cả về hình thức cấp cũng như giá trị của khoản tín dụng. Đây cũng là điều hợp lý bởi hai lý do: (i) Xuất phát từ bản chất của hoạt động TCVM chỉ là những hoạt động ngân hàng đơn giản, có giá trị nhỏ; (ii) Tiềm lực tài chính của chính các tổ chức TCVM cũng chỉ dừng lại ở mức độ hạn chế[1] nên để đảm bảo an toàn, tổ chức TCVM không thể thực hiện được các hình thức cấp tín dụng khác cũng như những khoản vay có giá trị lớn. Việc cho phép tổ chức TCVM được mở rộng hoạt động tín dụng sang những đối tượng không phải là khách hàng TCVM ở một mức độ nhất định cũng là một cách tiếp cận hợp lý nhằm giúp tổ chức TCVM có thể sử dụng vốn hiệu quả hơn mà vẫn đảm bảo được tôn chỉ, mục đích của mình là trợ giúp những đối tượng khó khăn trong xã hội.

Ba là, hoạt động mở tài khoản và thanh toán:

Tổ chức TCVM được phép mở tài khoản tiền gửi tại NHNN và các ngân hàng thương mại (NHTM). Điều cần lưu ý ở đây là, loại tài khoản tổ chức TCVM được phép mở chỉ là tài khoản tiền gửi mà không phải là tài khoản thanh toán. Dường như đây là một quy định bất cập bởi tổ chức TCVM cũng là một doanh nghiệp và để phục vụ hoạt động của mình, tổ chức TCVM cũng cần phải thực hiện những giao dịch nhất định và việc không có tài khoản thanh toán sẽ ít nhiều gây ra những khó khăn cho chủ thể này.

Đối với hoạt động cung ứng các dịch vụ thanh toán, cũng giống như các TCTD phi ngân hàng và Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức TCVM không được phép mở tài khoản thanh toán cho khách hàng của mình. Điều này cũng đồng nghĩa với việc chủ thể này không được phép cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản cho khách hàng. Về vấn đề này, tác giả cho rằng cách tiếp cận của pháp luật hiện hành là hoàn toàn hợp lý bởi với tôn chỉ và mục đích hoạt động của mình cũng như năng lực tài chính, con người, công nghệ... thì tổ chức TCVM khó có thể thành công khi thực hiện được các dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Pháp luật cần có quy định cụ thể hơn về vấn đề này để tổ chức TCVM có đủ cơ sở pháp lý cần thiết để định hướng cho các hành vi của mình.

Bốn là, các hoạt động kinh doanh khác:

Tổ chức TCVM cũng được thực hiện một số hoạt động kinh doanh khác được quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Nhìn chung, những hoạt động kinh doanh khác mà tổ chức TCVM được phép thực hiện cũng khá đơn giản và cũng chỉ hướng đến những hoạt động phục vụ cho đối tượng khách hàng chủ yếu cũng như bổ trợ cho các hoạt động kinh doanh cốt lõi của mình mà thôi. Cụ thể như: Ủy thác, nhận ủy thác cho vay vốn; cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính liên quan đến lĩnh vực TCVM; cung ứng dịch vụ thu hộ, chi hộ và chuyển tiền cho khách hàng TCVM; làm đại lý cung ứng dịch vụ bảo hiểm.

1.3. Những giới hạn nhằm đảm bảo an toàn đối với hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô

Thứ nhất, những trường hợp không được cấp tín dụng:

Tổ chức TCVM không được cấp tín dụng cho khách hàng trên cơ sở bảo đảm của các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; không được đứng ra bảo đảm cho các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 vay vốn tại các TCTD khác dưới bất cứ hình thức nào; không được cho vay để góp vốn vào một TCTD khác trên cơ sở nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính TCTD nhận vốn góp.

Thứ hai, những trường hợp hạn chế cấp tín dụng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì tổ chức TCVM không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho các chủ thể sau đây: (i) Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức TCVM; thanh tra viên đang thanh tra tại tổ chức TCVM; (ii) Kế toán trưởng của tổ chức TCVM; (iii) Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó; (iv) Người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng. Bên cạnh đó, về mặt thủ tục, việc cấp tín dụng cho các chủ thể này phải được quyết định bởi Hội đồng thành viên và phải thông báo công khai trong tổ chức TCVM đồng thời phải đảm bảo, tổng dư nợ của các chủ thể nêu trên không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức TCVM.

Thứ ba, giới hạn cấp tín dụng:

Khoản 1 và khoản 3 Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đưa ra giới hạn tối đa cho tổng dư nợ của một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có tổ chức TCVM. Dư nợ nêu trên không bao gồm các khoản cho vay từ nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp khách hàng vay là TCTD khác. Giới hạn này được cụ thể hóa như sau[2]: (i) Tổng dư nợ của một khách hàng TCVM (cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ) không được vượt quá ba mươi (30) triệu đồng; (ii) Tổng dư nợ của một chủ thể không phải là khách hàng TCVM không được vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức TCVM; (iii) Tổng dư nợ của nhóm khách hàng liên quan không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức TCVM.

Thứ tư, về tỷ lệ đảm bảo an toàn:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 130 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì trong quá trình hoạt động, tổ chức TCVM phải duy trì các tỷ lệ bảo đảm an toàn bao gồm: (i) Tỷ lệ khả năng chi trả; (ii) Tỷ lệ an toàn vốn. Các tỷ lệ này cụ thể như sau[3]: Đối với tỷ lệ về khả năng chi trả, tổ chức TCVM phải duy trì mức không nhỏ hơn 20%; đối với tỷ lệ an toàn vốn, tổ chức TCVM phải duy trì tối thiểu 10% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “có” rủi ro[4].

Trên đây là những giới hạn mà pháp luật hiện hành đặt ra đối với các hoạt động kinh doanh của tổ chức TCVM nhằm đảm bảo an toàn cho các hoạt động này và qua đó là cho sự an toàn của tổ chức. Song những quy định này mới chỉ là những sự tiếp cận bước đầu trong việc tạo dựng hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh của các tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay.

2. Kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô hiện nay

Mặc dù các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động kinh doanh của các tổ chức TCVM là khá phù hợp, song vẫn còn một số vấn đề cần phải hoàn thiện, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về hoạt động mở tài khoản của tổ chức TCVM:

Cần đưa ra quy định cho phép tổ chức TCVM được mở tài khoản tại NHNN và NHTM, bao gồm cả tài khoản thanh toán và tài khoản tiền gửi chứ không phải chỉ là tài khoản tiền gửi như hiện nay. Việc sửa đổi này sẽ giúp tổ chức TCVM thuận lợi hơn khi thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, nên cho phép tổ chức TCVM được mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng. Hiện nay khoản 2 Điều 121 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 mới chỉ đề cập đến việc không cho phép tổ chức TCVM mở tài khoản thanh toán cho khách hàng mà chưa đề cập đến tài khoản tiền gửi. Về nguyên tắc, theo quy định tại Điều 90 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, thì với cách quy định như khoản 2 Điều 121, tổ chức TCVM sẽ không được mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng tại tổ chức TCVM. Đây là quy định bất hợp lý bởi việc tổ chức TCVM mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng không hề ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hay sự an toàn của tổ chức này cũng như an toàn tiền gửi của khách hàng mà trái lại, sẽ giúp cho hoạt động của tổ chức TCVM thuận lợi hơn khá nhiều[5], vì vậy, nên cho phép tổ chức TCVM được mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng của mình, bao gồm cả khách hàng TCVM và các khách hàng khác (nếu có).

Thứ hai, đối với quy định về các trường hợp không được cho vay:

Nhìn vào cách tiếp cận của Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, có thể thấy sự tiếp cận khá lộn xộn và không nhất quán của quy định này đối với các hoạt động cấp tín dụng của tổ chức TCVM. Nhằm đảm bảo sự an toàn cho hoạt động kinh doanh nói riêng và sự an toàn nói chung của tổ chức TCVM, nên bãi bỏ quy định miễn trừ áp dụng khoản 1 Điều 126 đối với các tổ chức TCVM - tức là sửa đổi khoản 2 Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 theo hướng, tổ chức TCVM vẫn phải tuân thủ quy định về các trường hợp không được cho vay theo quy định tại khoản 1 Điều 126.

Thứ ba, cần xây dựng và ban hành cơ chế áp dụng phí và lãi suất cho vay để điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức TCVM:

Mặc dù là một phương thức xóa đói, giảm nghèo nhưng các tổ chức TCVM vẫn phải tự tồn tại mà không có bất cứ sự trợ cấp về mặt tài chính nào. Chính vì vậy, hoạt động kinh doanh của tổ chức TCVM buộc phải tạo ra chênh lệch thu chi để đảm bảo sự tồn tại của chính mình. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, hoạt động TCVM thường có chi phí lớn hơn so với các loại hình TCTD khác do những đặc thù của chính lĩnh vực này: Giá trị khoản vay nhỏ, địa bàn hoạt động phức tạp và nguồn nhân lực chất lượng không cao[6]… Thực trạng này cho thấy, nếu áp dụng cơ chế tính lãi suất, phí như các NHTM thì tổ chức TCVM khó có thể có lợi nhuận và vì thế để đảm bảo sự tồn tại, chủ thể này cần phải áp dụng một mức lãi suất cũng như mức phí (nếu có) cao hơn so với các TCTD khác.

Bên cạnh đó, việc huy động vốn của tổ chức TCVM cũng không thuận lợi nếu áp dụng mức lãi suất tiền gửi như các TCTD khác bởi rất nhiều lý do như: Trụ sở giao dịch không thuận tiện bằng các TCTD khác; sự hiểu biết của xã hội về tổ chức TCVM còn hạn chế cũng như quy mô của tổ chức TCVM thường là khá nhỏ nên cũng rất khó để tạo ra sự tin tưởng đối với người gửi tiền... Chính vì vậy, để có cơ hội huy động được vốn, tổ chức TCVM cũng cần phải cạnh tranh với các TCTD khác bằng việc áp dụng mức lãi suất tiền gửi cao hơn so với các TCTD khác. Như vậy, để có thể thực hiện được hoạt động kinh doanh của mình một cách có hiệu quả, tổ chức TCVM phải được áp dụng một cơ chế quản lý về phí và lãi suất khác hơn so với các TCTD khác trong nền kinh tế. Do đó, cần ban hành văn bản quy định về cơ chế áp dụng lãi suất và phí đối với các tổ chức TCVM mà không áp dụng các quy định dành cho tất cả các TCTD nói chung. Về nguyên tắc, cần phải nghiên cứu và tính toán chi tiết để đưa ra mức lãi suất, phí áp dụng đối với các tổ chức TCVM phải cao hơn so với mức áp dụng cho các TCTD khác nhằm đảm bảo cho chủ thể này có lợi nhuận để duy trì sự tồn tại của mình.

Không ồn ào như những chủ thể khác của thị trường tài chính - tiền tệ khi TCVM không có những hợp đồng tín dụng giá trị nghìn tỷ với những khách hàng là các tập đoàn kinh tế lớn song, khi khách hàng của TCVM tuyệt đại đa số là bộ phận có thu nhập thấp thì giá trị xã hội mà những hoạt động này đưa đến lại không hề đơn giản: Một công cụ hữu hiệu cho cuộc chiến xóa đói giảm nghèo. Chính bởi vai trò quan trọng này nên ngày 06/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2195/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô đến năm 2020”. Để có thể thực hiện được mục tiêu mà Đề án đã xác định, rất cần một khung pháp luật thật sự phù hợp với thực tiễn của ngành TCVM non trẻ của Việt Nam.

TS. Nguyễn Thái Hà

Học viện Ngân Hàng

Tài liệu tham khảo:

[1]. Ba tổ chức TCVM hiện nay đang hoạt động ngoại trừ TYM có quy mô tương đối lớn với Vốn điều lệ 135,8 tỷ VND thì M7 và Thanh Hóa có quy mô khá nhỏ (Vốn điều lệ lần lượt chỉ là 15,5 tỷ VND)Nguồn:http://www.sbv.gov.vn/portal/faces/vi/pages/htctctd/tctcvm?_afrLoop=7592999763412863&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=13nzy2wsyp_46#%40%3F_afrWindowId%3D13nzy2wsyp_46%26_afrLoop%3D7592999763412863%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3D13nzy2wsyp_82.

[2]. Thông tư số 07/2009/TT-NHNN ngày 17/4/2009 của Ngân hàng Nhà nước quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ.

[3]. Thông tư số 07/2009/TT-NHNN ngày 17/4/2009 của Ngân hàng Nhà nước quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ.

[4]. Tài sản “có” rủi ro được xác định mức độ rủi ro theo các quy định tại Điều 5 Thông tư 07/2009/TT-NHNN. Cách tính tỷ lệ đảm bảo an toàn và tỷ lệ đảm bảo khả năng chi trả được quy định tại Phụ lục A và Phụ lục B của Thông tư số 07/2009/TT-NHNN.

[5]. Ví dụ khi khách hàng vay vốn tại tổ chức TCVM và được giải ngân nhưng ngay lập tức chưa thể nhận tiền hoàn toàn có thể gửi lại tổ chức TCVM thông qua tài khoản tiền gửi của mình hay trong trường hợp khách hàng nhờ tổ chức TCVM thu hộ, chi hộ thì khách hàng cũng có tài khoản tại tổ chức TCVM để quản lý tiền của mình...

[6]. Lê Thanh Tâm (2013), Lãi suất cho vay đối với các tổ chức TCVM: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất cho Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 15, Tháng 8/2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: