Thứ hai 17/08/2026 08:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã chính thức ghi nhận tổ chức tài chính vi mô là một loại hình tổ chức tín dụng. Song đến nay, hầu hết các văn bản điều chỉnh tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô đều được ban hành vào thời điểm trước năm 2010, tạo ra những bất cập không nhỏ trong thực tiễn hoạt động của loại hình tổ chức này. Sau khi nghiên cứu và phản ánh thực trạng hoạt động, bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam hiện nay.

Abstract: The Law on Credit Institutions of 2010 has officially acknowledged that micro credit institution is a kind of credit institution. There is until now, however, most of documents regulating organization and operation of micro finance institutions were passed before the year 2010 and make not little inadequacies for operation of this kind of institution in the practice. Based on the study and operation reality, the paper proposes some recommendations for completing legal regulations on business operation of micro finance institutions in Vietnam at present.

1. Hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô theo pháp luật Việt Nam

1.1. Những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh

Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, tổ chức tài chính vi mô (TCVM) phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau đây: (i) Tổ chức TCVM chỉ được thực hiện những hoạt động được pháp luật cho phép và được quy định trong giấy phép do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định; (ii) Tổ chức TCVM phải công bố công khai lãi suất và các mức phí cung ứng dịch vụ; (iii) Tổ chức TCVM phải xây dựng và tuân thủ các quy định nội bộ; (iv) Tổ chức TCVM phải phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng; (v) Tổ chức TCVM phải lưu giữ hồ sơ tín dụng; (vi) Tổ chức TCVM phải đảm bảo tổng dư nợ cấp tín dụng cho khách hàng TCVM trên tổng dư nợ không thấp hơn tỷ lệ do NHNN quy định.

1.2. Hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô

Về mặt bản chất, tổ chức TCVM là loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) nhỏ và chủ yếu cung ứng các dịnh vụ đơn giản cho đối tượng khách hàng là những đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội, nên những hoạt động kinh doanh của chủ thể này cũng khá đơn giản. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo các chủ thể này hoạt động đúng với tôn chỉ, mục đích, cũng như đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng đưa ra những quy định để điều chỉnh đến hoạt động của tổ chức TCVM như sau:

Một là, hoạt động huy động vốn:

Đây là một nội dung rất quan trọng đối với các TCTD nói chung và tổ chức TCVM nói riêng, bởi huy động vốn chính là hoạt động tạo ra phương tiện để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác của tổ chức TCVM. Nói cách khác, hoạt động này có thể hiểu là nền tảng để các tổ chức TCVM xúc tiến các hoạt động kinh doanh khác nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Việc huy động vốn của các TCTD rất đa dạng vì có thể được thực hiện dưới rất nhiều các hình thức khác nhau như nhận tiền gửi, phát hành các loại giấy tờ có giá hay đi vay của các chủ thể khác. Tuy nhiên, do đặc thù của tổ chức TCVM là những TCTD có quy mô nhỏ, đối tượng khách hàng chủ yếu là người có thu nhập thấp và nội dung hoạt động cũng chỉ là những hoạt động ngân hàng đơn giản nên hoạt động huy động vốn của tổ chức TCVM cũng có nhiều hạn chế hơn so với các loại hình TCTD khác. Các hoạt động cụ thể bao gồm: Nhận tiền gửi tiết kiệm bằng tiền đồng Việt Nam; vay vốn của các TCTD, tổ chức tài chính và của các cá nhân, tổ chức khác trong nước; vay vốn, nhận tài trợ của các cá nhân, tổ chức nước ngoài… Hoạt động huy động vốn của các tổ chức TCVM chỉ bao gồm ba hình thức kể trên. Điều này có nghĩa là tổ chức TCVM không được phép thực hiện việc huy động vốn dưới bất kỳ hình thức nào khác, kể cả việc phát hành các loại giấy tờ có giá hay vay trực tiếp từ NHNN...

Hai là, hoạt động cấp tín dụng:

Đây là hoạt động hết sức quan trọng với tổ chức TCVM bởi phần lớn nguồn thu nhập của tổ chức được tạo ra từ chính hoạt động này. Hoạt động cấp tín dụng của tổ chức TCVM chỉ được thực hiện dưới duy nhất hình thức cho vay và cũng chỉ được cho vay bằng tiền đồng. Đối tượng khách hàng chủ yếu của TCVM là những người có thu nhập thấp hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ với những khoản vay có giá trị nhỏ để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhỏ nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bản thân cũng như của gia đình nên không phát sinh nhu cầu sử dụng ngoại tệ.

So với các TCTD khác, hoạt động cấp tín dụng của tổ chức TCVM bị giới hạn khá chặt cả về hình thức cấp cũng như giá trị của khoản tín dụng. Đây cũng là điều hợp lý bởi hai lý do: (i) Xuất phát từ bản chất của hoạt động TCVM chỉ là những hoạt động ngân hàng đơn giản, có giá trị nhỏ; (ii) Tiềm lực tài chính của chính các tổ chức TCVM cũng chỉ dừng lại ở mức độ hạn chế[1] nên để đảm bảo an toàn, tổ chức TCVM không thể thực hiện được các hình thức cấp tín dụng khác cũng như những khoản vay có giá trị lớn. Việc cho phép tổ chức TCVM được mở rộng hoạt động tín dụng sang những đối tượng không phải là khách hàng TCVM ở một mức độ nhất định cũng là một cách tiếp cận hợp lý nhằm giúp tổ chức TCVM có thể sử dụng vốn hiệu quả hơn mà vẫn đảm bảo được tôn chỉ, mục đích của mình là trợ giúp những đối tượng khó khăn trong xã hội.

Ba là, hoạt động mở tài khoản và thanh toán:

Tổ chức TCVM được phép mở tài khoản tiền gửi tại NHNN và các ngân hàng thương mại (NHTM). Điều cần lưu ý ở đây là, loại tài khoản tổ chức TCVM được phép mở chỉ là tài khoản tiền gửi mà không phải là tài khoản thanh toán. Dường như đây là một quy định bất cập bởi tổ chức TCVM cũng là một doanh nghiệp và để phục vụ hoạt động của mình, tổ chức TCVM cũng cần phải thực hiện những giao dịch nhất định và việc không có tài khoản thanh toán sẽ ít nhiều gây ra những khó khăn cho chủ thể này.

Đối với hoạt động cung ứng các dịch vụ thanh toán, cũng giống như các TCTD phi ngân hàng và Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức TCVM không được phép mở tài khoản thanh toán cho khách hàng của mình. Điều này cũng đồng nghĩa với việc chủ thể này không được phép cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản cho khách hàng. Về vấn đề này, tác giả cho rằng cách tiếp cận của pháp luật hiện hành là hoàn toàn hợp lý bởi với tôn chỉ và mục đích hoạt động của mình cũng như năng lực tài chính, con người, công nghệ... thì tổ chức TCVM khó có thể thành công khi thực hiện được các dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Pháp luật cần có quy định cụ thể hơn về vấn đề này để tổ chức TCVM có đủ cơ sở pháp lý cần thiết để định hướng cho các hành vi của mình.

Bốn là, các hoạt động kinh doanh khác:

Tổ chức TCVM cũng được thực hiện một số hoạt động kinh doanh khác được quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Nhìn chung, những hoạt động kinh doanh khác mà tổ chức TCVM được phép thực hiện cũng khá đơn giản và cũng chỉ hướng đến những hoạt động phục vụ cho đối tượng khách hàng chủ yếu cũng như bổ trợ cho các hoạt động kinh doanh cốt lõi của mình mà thôi. Cụ thể như: Ủy thác, nhận ủy thác cho vay vốn; cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính liên quan đến lĩnh vực TCVM; cung ứng dịch vụ thu hộ, chi hộ và chuyển tiền cho khách hàng TCVM; làm đại lý cung ứng dịch vụ bảo hiểm.

1.3. Những giới hạn nhằm đảm bảo an toàn đối với hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô

Thứ nhất, những trường hợp không được cấp tín dụng:

Tổ chức TCVM không được cấp tín dụng cho khách hàng trên cơ sở bảo đảm của các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; không được đứng ra bảo đảm cho các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 vay vốn tại các TCTD khác dưới bất cứ hình thức nào; không được cho vay để góp vốn vào một TCTD khác trên cơ sở nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính TCTD nhận vốn góp.

Thứ hai, những trường hợp hạn chế cấp tín dụng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì tổ chức TCVM không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho các chủ thể sau đây: (i) Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức TCVM; thanh tra viên đang thanh tra tại tổ chức TCVM; (ii) Kế toán trưởng của tổ chức TCVM; (iii) Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó; (iv) Người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng. Bên cạnh đó, về mặt thủ tục, việc cấp tín dụng cho các chủ thể này phải được quyết định bởi Hội đồng thành viên và phải thông báo công khai trong tổ chức TCVM đồng thời phải đảm bảo, tổng dư nợ của các chủ thể nêu trên không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức TCVM.

Thứ ba, giới hạn cấp tín dụng:

Khoản 1 và khoản 3 Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đưa ra giới hạn tối đa cho tổng dư nợ của một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có tổ chức TCVM. Dư nợ nêu trên không bao gồm các khoản cho vay từ nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp khách hàng vay là TCTD khác. Giới hạn này được cụ thể hóa như sau[2]: (i) Tổng dư nợ của một khách hàng TCVM (cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ) không được vượt quá ba mươi (30) triệu đồng; (ii) Tổng dư nợ của một chủ thể không phải là khách hàng TCVM không được vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức TCVM; (iii) Tổng dư nợ của nhóm khách hàng liên quan không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức TCVM.

Thứ tư, về tỷ lệ đảm bảo an toàn:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 130 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì trong quá trình hoạt động, tổ chức TCVM phải duy trì các tỷ lệ bảo đảm an toàn bao gồm: (i) Tỷ lệ khả năng chi trả; (ii) Tỷ lệ an toàn vốn. Các tỷ lệ này cụ thể như sau[3]: Đối với tỷ lệ về khả năng chi trả, tổ chức TCVM phải duy trì mức không nhỏ hơn 20%; đối với tỷ lệ an toàn vốn, tổ chức TCVM phải duy trì tối thiểu 10% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “có” rủi ro[4].

Trên đây là những giới hạn mà pháp luật hiện hành đặt ra đối với các hoạt động kinh doanh của tổ chức TCVM nhằm đảm bảo an toàn cho các hoạt động này và qua đó là cho sự an toàn của tổ chức. Song những quy định này mới chỉ là những sự tiếp cận bước đầu trong việc tạo dựng hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh của các tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay.

2. Kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô hiện nay

Mặc dù các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động kinh doanh của các tổ chức TCVM là khá phù hợp, song vẫn còn một số vấn đề cần phải hoàn thiện, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về hoạt động mở tài khoản của tổ chức TCVM:

Cần đưa ra quy định cho phép tổ chức TCVM được mở tài khoản tại NHNN và NHTM, bao gồm cả tài khoản thanh toán và tài khoản tiền gửi chứ không phải chỉ là tài khoản tiền gửi như hiện nay. Việc sửa đổi này sẽ giúp tổ chức TCVM thuận lợi hơn khi thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, nên cho phép tổ chức TCVM được mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng. Hiện nay khoản 2 Điều 121 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 mới chỉ đề cập đến việc không cho phép tổ chức TCVM mở tài khoản thanh toán cho khách hàng mà chưa đề cập đến tài khoản tiền gửi. Về nguyên tắc, theo quy định tại Điều 90 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, thì với cách quy định như khoản 2 Điều 121, tổ chức TCVM sẽ không được mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng tại tổ chức TCVM. Đây là quy định bất hợp lý bởi việc tổ chức TCVM mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng không hề ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hay sự an toàn của tổ chức này cũng như an toàn tiền gửi của khách hàng mà trái lại, sẽ giúp cho hoạt động của tổ chức TCVM thuận lợi hơn khá nhiều[5], vì vậy, nên cho phép tổ chức TCVM được mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng của mình, bao gồm cả khách hàng TCVM và các khách hàng khác (nếu có).

Thứ hai, đối với quy định về các trường hợp không được cho vay:

Nhìn vào cách tiếp cận của Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, có thể thấy sự tiếp cận khá lộn xộn và không nhất quán của quy định này đối với các hoạt động cấp tín dụng của tổ chức TCVM. Nhằm đảm bảo sự an toàn cho hoạt động kinh doanh nói riêng và sự an toàn nói chung của tổ chức TCVM, nên bãi bỏ quy định miễn trừ áp dụng khoản 1 Điều 126 đối với các tổ chức TCVM - tức là sửa đổi khoản 2 Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 theo hướng, tổ chức TCVM vẫn phải tuân thủ quy định về các trường hợp không được cho vay theo quy định tại khoản 1 Điều 126.

Thứ ba, cần xây dựng và ban hành cơ chế áp dụng phí và lãi suất cho vay để điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức TCVM:

Mặc dù là một phương thức xóa đói, giảm nghèo nhưng các tổ chức TCVM vẫn phải tự tồn tại mà không có bất cứ sự trợ cấp về mặt tài chính nào. Chính vì vậy, hoạt động kinh doanh của tổ chức TCVM buộc phải tạo ra chênh lệch thu chi để đảm bảo sự tồn tại của chính mình. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, hoạt động TCVM thường có chi phí lớn hơn so với các loại hình TCTD khác do những đặc thù của chính lĩnh vực này: Giá trị khoản vay nhỏ, địa bàn hoạt động phức tạp và nguồn nhân lực chất lượng không cao[6]… Thực trạng này cho thấy, nếu áp dụng cơ chế tính lãi suất, phí như các NHTM thì tổ chức TCVM khó có thể có lợi nhuận và vì thế để đảm bảo sự tồn tại, chủ thể này cần phải áp dụng một mức lãi suất cũng như mức phí (nếu có) cao hơn so với các TCTD khác.

Bên cạnh đó, việc huy động vốn của tổ chức TCVM cũng không thuận lợi nếu áp dụng mức lãi suất tiền gửi như các TCTD khác bởi rất nhiều lý do như: Trụ sở giao dịch không thuận tiện bằng các TCTD khác; sự hiểu biết của xã hội về tổ chức TCVM còn hạn chế cũng như quy mô của tổ chức TCVM thường là khá nhỏ nên cũng rất khó để tạo ra sự tin tưởng đối với người gửi tiền... Chính vì vậy, để có cơ hội huy động được vốn, tổ chức TCVM cũng cần phải cạnh tranh với các TCTD khác bằng việc áp dụng mức lãi suất tiền gửi cao hơn so với các TCTD khác. Như vậy, để có thể thực hiện được hoạt động kinh doanh của mình một cách có hiệu quả, tổ chức TCVM phải được áp dụng một cơ chế quản lý về phí và lãi suất khác hơn so với các TCTD khác trong nền kinh tế. Do đó, cần ban hành văn bản quy định về cơ chế áp dụng lãi suất và phí đối với các tổ chức TCVM mà không áp dụng các quy định dành cho tất cả các TCTD nói chung. Về nguyên tắc, cần phải nghiên cứu và tính toán chi tiết để đưa ra mức lãi suất, phí áp dụng đối với các tổ chức TCVM phải cao hơn so với mức áp dụng cho các TCTD khác nhằm đảm bảo cho chủ thể này có lợi nhuận để duy trì sự tồn tại của mình.

Không ồn ào như những chủ thể khác của thị trường tài chính - tiền tệ khi TCVM không có những hợp đồng tín dụng giá trị nghìn tỷ với những khách hàng là các tập đoàn kinh tế lớn song, khi khách hàng của TCVM tuyệt đại đa số là bộ phận có thu nhập thấp thì giá trị xã hội mà những hoạt động này đưa đến lại không hề đơn giản: Một công cụ hữu hiệu cho cuộc chiến xóa đói giảm nghèo. Chính bởi vai trò quan trọng này nên ngày 06/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2195/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô đến năm 2020”. Để có thể thực hiện được mục tiêu mà Đề án đã xác định, rất cần một khung pháp luật thật sự phù hợp với thực tiễn của ngành TCVM non trẻ của Việt Nam.

TS. Nguyễn Thái Hà

Học viện Ngân Hàng

Tài liệu tham khảo:

[1]. Ba tổ chức TCVM hiện nay đang hoạt động ngoại trừ TYM có quy mô tương đối lớn với Vốn điều lệ 135,8 tỷ VND thì M7 và Thanh Hóa có quy mô khá nhỏ (Vốn điều lệ lần lượt chỉ là 15,5 tỷ VND)Nguồn:http://www.sbv.gov.vn/portal/faces/vi/pages/htctctd/tctcvm?_afrLoop=7592999763412863&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=13nzy2wsyp_46#%40%3F_afrWindowId%3D13nzy2wsyp_46%26_afrLoop%3D7592999763412863%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3D13nzy2wsyp_82.

[2]. Thông tư số 07/2009/TT-NHNN ngày 17/4/2009 của Ngân hàng Nhà nước quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ.

[3]. Thông tư số 07/2009/TT-NHNN ngày 17/4/2009 của Ngân hàng Nhà nước quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ.

[4]. Tài sản “có” rủi ro được xác định mức độ rủi ro theo các quy định tại Điều 5 Thông tư 07/2009/TT-NHNN. Cách tính tỷ lệ đảm bảo an toàn và tỷ lệ đảm bảo khả năng chi trả được quy định tại Phụ lục A và Phụ lục B của Thông tư số 07/2009/TT-NHNN.

[5]. Ví dụ khi khách hàng vay vốn tại tổ chức TCVM và được giải ngân nhưng ngay lập tức chưa thể nhận tiền hoàn toàn có thể gửi lại tổ chức TCVM thông qua tài khoản tiền gửi của mình hay trong trường hợp khách hàng nhờ tổ chức TCVM thu hộ, chi hộ thì khách hàng cũng có tài khoản tại tổ chức TCVM để quản lý tiền của mình...

[6]. Lê Thanh Tâm (2013), Lãi suất cho vay đối với các tổ chức TCVM: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất cho Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 15, Tháng 8/2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: