Thứ tư 26/08/2026 21:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Định và bài học kinh nghiệm

Tóm tắt: Bài viết đã khái quát về bản chất của hoạt động thi hành án dân sự, thực tiễn tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Định và rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự.

Tóm tắt: Bài viết đã khái quát về bản chất của hoạt động thi hành án dân sự, thực tiễn tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Định và rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự.

Abstract: The article generalizes the nature of civil judgment execution, the practice of organization and civil judgment execution operation in the Binh Dinh province and draws some experience for improving effect of civil judgment execution work.

1. Khái quát về công tác thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập của tố tụng dân sự nhằm hoàn tất quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan theo bản án, quyết định của Tòa án được tổ chức thi hành trên thực tế. Đó là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và theo các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm đưa bản án, quyết định của Toà án ra thi hành trên thực tế, bảo đảm tính hiệu lực của các bản án, quyết định dân sự của Tòa án bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan. Trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án, hoạt động thi hành án dân sự còn góp phần phát hiện sai sót của các quá trình tố tụng dân sự của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật hoặc làm ảnh hưởng đến quyền lợi cho công dân, đương sự và không phù hợp với hiện trạng thực tế như lĩnh vực về đất đai, nhà ở, công trình kiến trúc xây dựng…, từ đó kiến nghị đến Tòa án có thẩm quyền kịp thời xét xử lại nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan; chỉ đạo công tác xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật và kiến nghị trong việc xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, việc tổ chức thi hành án dân sự không những chỉ đối với các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà còn phải tổ chức thi hành đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực nhưng phải thi hành ngay trong những trường hợp pháp luật quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự: “Những bản án, quyết định sau đây của Toà án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị: a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc; b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”.

Thi hành án dân sự là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước vừa mang tính hành chính, vừa mang tính tư pháp, do cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên thực hiện nhằm đưa các bản án, quyết định về dân sự của Toà án đi vào thực tiễn cuộc sống. Hoạt động thi hành án dân sự trên thực tế gắn với quyền lực hành pháp, đồng thời, thúc đẩy các cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện đầy đủ các trách nhiệm của mình. Trong trường hợp không thi hành quyết định thi hành án, các cá nhân, tổ chức đó phải chịu sự cưỡng chế của Nhà nước. Tuy nhiên, việc thi hành án cũng có thể được thực hiện một cách tự giác bởi người có nghĩa vụ thi hành án. Chỉ khi các bản án, phán quyết không được thi hành một cách tự giác bởi người có nghĩa vụ thì hoạt động cưỡng chế thi hành án của chủ thế có thẩm quyền mới cần phải thực hiện. Trên bình diện rộng, thi hành án dân sự là tổng thể hoạt động chỉ đạo, điều hành, hoạt động nghiệp vụ thi hành án dân sự và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật nhằm mục đích đảm bảo các bản án, quyết định của Toà án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh trên thực tế. Thi hành án dân sự bao gồm cơ quan quản lý, cơ quan theo dõi, hỗ trợ hoạt động thi hành án, giám sát và giải quyết khiếu nại về hoạt động thi hành án dân sự; các cơ quan, ban ngành có liên quan nhằm đảm bảo cho hoạt động của cơ quan thi hành án được diễn ra đúng quy trình, thủ tục được pháp luật quy định, đồng thời có chất lượng và hiệu quả trên thực tế.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác thi hành án dân sự, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy và hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự. Từ chỗ tổ chức thi hành án dân sự chỉ do Thừa phát lại, Ban Tư pháp xã (giai đoạn 1945 - 1950); Thẩm phán cấp huyện (giai đoạn 1950 - 1959); Chấp hành viên, nhân viên thi hành án đặt tại các Tòa án địa phương (giai đoạn 1960 - 1993) thực hiện, đến nay, chúng ta đã có một hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự gồm: 63 Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh, hơn 700 Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện và hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự trong Quân đội.

2. Tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Bình Định

Từ khi Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực đến nay, công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Địnhđã có nhiều chuyển biến tích cực cả về tổ chức và hoạt động. Hiện nay ở Bình Định, các cơ quan thi hành án dân sự bao gồm: Cục Thi hành án dân sự tỉnh và 11 Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện. Việc tổ chức hệ thống cơ quan thi hành án dân sự theo ngành dọc từ trung ương xuống địa phương đã làm tăng vị thế của cơ quan thi hành án dân sự, tương xứng với nhiệm vụ được phân công, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý.

Hoạt động thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Định trong những năm qua cũng đã có những khởi sắc nhất định. Theo báo cáo của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định, những năm gần đây, kết quả thi hành án dân sự về việc và về tiền nhìn chung đều đạt chỉ tiêu đề ra; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự được kiểm soát và đi vào nề nếp, bảo đảm tốt quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Bên cạnh những thành công, tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự của tỉnh Bình Định vẫn còn những hạn chế nhất định như: Công tác tổ chức cán bộ chưa thật sự “đi trước một bước” (từ việc tuyển dụng cho đến sử dụng, quản lý, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm...); tình trạng giải quyết án kéo dài từ năm này qua năm khác vẫn còn ở mức cao; đơn thư khiếu nại, tố cáo còn phát sinh theo chiều hướng ngày càng tăng; việc phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu và những nhiệm vụ bổ trợ như đào tạo, tập huấn nghiệp vụ...chưa đồng bộ; công tác quản lý nhà nước trong thi hành án dân sự còn nhiều khâu chưa thống nhất, hiệu quả hoạt động chưa cao…Ví dụ năm 2018, trong 10 tháng, các cơ quan thi hành án dân sự toàn tỉnh mới thi hành xong 4.845 việc, đạt tỷ lệ 71,85% về việc (so với chỉ tiêu được Quốc hội giao còn thiếu 1,15%) so với cùng kỳ năm 2017, giảm 80 việc (giảm 1,62%) và giảm 0,65% về tỷ lệ; về tiền, thi hành xong 131 tỷ 824 triệu 845 nghìn đồng, đạt tỷ lệ 21,83% (còn thiếu 10,17% so với chỉ tiêu của Quốc hội giao). So với cùng kỳ năm 2017, giảm 42 tỷ 458 triệu 890 nghìn đồng (giảm 24,36%) và giảm 3,83% về tỷ lệ… Sở dĩ còn những hạn chế nêu trên là bởi những lý do: (i) Cơ chế quản lý, chỉ đạo, điều hành có lúc, có nơi còn thiếu quyết liệt; quy định về thẩm quyền và địa vị pháp lý của chấp hành viên chưa thật sự tương xứng với nhiệm vụ được giao, còn phụ thuộc quá nhiều vào cơ quan khác. Nhiều vụ việc trong đó liên quan đến án tín dụng, ngân hàng rất phức tạp; quá trình tổ chức thi hành án có vụ việc có người mua tài sản nhưng bị kéo dài chưa nhận được tài sản do có các vấn đề vướng mắc phát sinh; (ii) Chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan hữu quan trong quá trình tổ chức thi hành án; (iii) Ý thức pháp luật của một bộ phận người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phải thi hành án hoặc có liên quan đến thi hành án chưa cao (chây ỳ, tẩu tán tài sản, thậm chí chống đối quyết liệt việc cưỡng chế thi hành án…); (iv) Công tác tổ chức cán bộ, chế độ đãi ngộ trong hệ thống cơ quan thi hành án dân sự chưa được quy định thỏa đáng, công tác luân chuyển, điều động cán bộ còn nhiều bất cập, cơ sở vật chất phục vụ công tác thi hành án dân sự còn nhiều khó khăn…

3. Một số bài học kinh nghiệm

Trước hết, để tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự phát huy hiệu lực, hiệu quả trên thực tế cần phải có một hệ thống pháp luật chuẩn vì pháp luật là công cụ, phương tiện để Nhà nước tổ chức và hoạt động trên mọi lĩnh vực. Thi hành án dân sự có liên quan đến nhiều chủ thể, trong đó có những chủ thể có lợi ích đối lập hoặc lợi ích liên quan... nên có nhiều khả năng mâu thuẫn cả về lý thuyết cũng như thực tế. Để giải quyết được mâu thuẫn này, Nhà nước cần phải định rõ một khuôn mẫu chuẩn về mặt pháp lý làm căn cứ đúng và duy nhất. Sự đúng, sai, tranh chấp, mâu thuẫn chỉ có thể căn cứ vào pháp luật để xác định. Sự ban hành đầy đủ các căn cứ pháp lý sẽ góp phần bảo đảm quan trọng cho tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự.

Thứ hai, cần có một bộ máy hoàn thiện với đội ngũ cán bộ, chấp hành viên có chuyên môn nghiệp vụ tốt để khi có những công việc mới hoặc tình huống phức tạp có thể giải quyết được ngay trên cơ sở phân định rõ chức năng, đảm bảo cho việc thi hành án chính xác và có hiệu quả.

Thứ ba, thi hành án dân sự là hoạt động phức tạp, đòi hỏi nhiều công đoạn mà sự phối hợp giữa các chủ thể có một vai trò hết sức quan trọng và trong nhiều trường hợp, nếu thiếu sự phối hợp này, công tác thi hành án dân sự không thể hoàn thành. Trong quá trình thi hành án, ở mỗi công đoạn lại cần sự tham gia của những chủ thể nhất định, đặc biệt trong các hoạt động cưỡng chế thi hành án, thì gần như phải huy động tất cả các lực lượng có liên quan phối hợp với nhau để thực hiện nhiệm vụ.

Thứ tư, thi hành án dân sự là một hoạt động để khép lại một quá trình thực hiện quyền lực nhà nước và chứng minh sự hiện diện của Nhà nước trong việc bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho nhân dân, nên chỉ tiêu kế hoạch đặt ra cho các cơ quan, đơn vị phải xuất phát từ chính điều kiện thực tế và khả năng giải quyết của cơ quan đó. Nói cách khác, việc đặt ra chỉ tiêu kế hoạch phải bảo đảm có tính khả thi. Sự hoàn thành nhiệm vụ thi hành án dân sự được giao sẽ mang lại niềm tin cho nhân dân vào pháp luật, xã hội tin tưởng và tìm đến pháp luật, đến các cơ quan thực thi pháp luật để thực hiện quyền cũng như lợi ích hợp pháp của mình bằng chính cơ chế pháp lý mà pháp luật đã tạo ra. Bản thân việc đó sẽ giúp cho các cơ quan có trách nhiệm trong thi hành án sẽ thuận lợi trong công việc nhờ sự cộng tác của xã hội.

Thứ năm, cần có sự kiểm tra, trao đổi kinh nghiệm thường xuyên để vừa phát hiện ra nhân tố tích cực để phát huy sức mạnh của chúng, đồng thời cũng tìm ra sự hạn chế, sai sót và nhanh chóng khắc phục hậu quả. Một trong những đặc trưng của thi hành án dân sự là các vụ việc nếu có điều kiện thì thực hiện càng nhanh càng tốt, vì vụ việc càng kéo dài, càng có nhiều biến động và càng có nguy cơ làm phức tạp thêm vấn đề vốn đã có sẵn trong các vụ việc này. Điều này góp phần tăng cường hiệu quả của điều chỉnh pháp luật mà trong đó, tiêu chí giảm chi phí được thực hiện và kết quả đạt được lại cao cùng với ý nghĩa làm tăng vai trò của thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay.

ThS. Đoàn Thị Phượng

Trường Chính trị tỉnh Bình Định

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: