Chủ nhật 18/01/2026 21:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Định và bài học kinh nghiệm

Tóm tắt: Bài viết đã khái quát về bản chất của hoạt động thi hành án dân sự, thực tiễn tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Định và rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự.

Tóm tắt: Bài viết đã khái quát về bản chất của hoạt động thi hành án dân sự, thực tiễn tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Định và rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự.

Abstract: The article generalizes the nature of civil judgment execution, the practice of organization and civil judgment execution operation in the Binh Dinh province and draws some experience for improving effect of civil judgment execution work.

1. Khái quát về công tác thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập của tố tụng dân sự nhằm hoàn tất quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan theo bản án, quyết định của Tòa án được tổ chức thi hành trên thực tế. Đó là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và theo các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm đưa bản án, quyết định của Toà án ra thi hành trên thực tế, bảo đảm tính hiệu lực của các bản án, quyết định dân sự của Tòa án bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan. Trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án, hoạt động thi hành án dân sự còn góp phần phát hiện sai sót của các quá trình tố tụng dân sự của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật hoặc làm ảnh hưởng đến quyền lợi cho công dân, đương sự và không phù hợp với hiện trạng thực tế như lĩnh vực về đất đai, nhà ở, công trình kiến trúc xây dựng…, từ đó kiến nghị đến Tòa án có thẩm quyền kịp thời xét xử lại nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan; chỉ đạo công tác xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật và kiến nghị trong việc xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, việc tổ chức thi hành án dân sự không những chỉ đối với các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà còn phải tổ chức thi hành đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực nhưng phải thi hành ngay trong những trường hợp pháp luật quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự: “Những bản án, quyết định sau đây của Toà án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị: a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc; b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”.

Thi hành án dân sự là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước vừa mang tính hành chính, vừa mang tính tư pháp, do cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên thực hiện nhằm đưa các bản án, quyết định về dân sự của Toà án đi vào thực tiễn cuộc sống. Hoạt động thi hành án dân sự trên thực tế gắn với quyền lực hành pháp, đồng thời, thúc đẩy các cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện đầy đủ các trách nhiệm của mình. Trong trường hợp không thi hành quyết định thi hành án, các cá nhân, tổ chức đó phải chịu sự cưỡng chế của Nhà nước. Tuy nhiên, việc thi hành án cũng có thể được thực hiện một cách tự giác bởi người có nghĩa vụ thi hành án. Chỉ khi các bản án, phán quyết không được thi hành một cách tự giác bởi người có nghĩa vụ thì hoạt động cưỡng chế thi hành án của chủ thế có thẩm quyền mới cần phải thực hiện. Trên bình diện rộng, thi hành án dân sự là tổng thể hoạt động chỉ đạo, điều hành, hoạt động nghiệp vụ thi hành án dân sự và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật nhằm mục đích đảm bảo các bản án, quyết định của Toà án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh trên thực tế. Thi hành án dân sự bao gồm cơ quan quản lý, cơ quan theo dõi, hỗ trợ hoạt động thi hành án, giám sát và giải quyết khiếu nại về hoạt động thi hành án dân sự; các cơ quan, ban ngành có liên quan nhằm đảm bảo cho hoạt động của cơ quan thi hành án được diễn ra đúng quy trình, thủ tục được pháp luật quy định, đồng thời có chất lượng và hiệu quả trên thực tế.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác thi hành án dân sự, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy và hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự. Từ chỗ tổ chức thi hành án dân sự chỉ do Thừa phát lại, Ban Tư pháp xã (giai đoạn 1945 - 1950); Thẩm phán cấp huyện (giai đoạn 1950 - 1959); Chấp hành viên, nhân viên thi hành án đặt tại các Tòa án địa phương (giai đoạn 1960 - 1993) thực hiện, đến nay, chúng ta đã có một hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự gồm: 63 Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh, hơn 700 Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện và hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự trong Quân đội.

2. Tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Bình Định

Từ khi Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực đến nay, công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Địnhđã có nhiều chuyển biến tích cực cả về tổ chức và hoạt động. Hiện nay ở Bình Định, các cơ quan thi hành án dân sự bao gồm: Cục Thi hành án dân sự tỉnh và 11 Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện. Việc tổ chức hệ thống cơ quan thi hành án dân sự theo ngành dọc từ trung ương xuống địa phương đã làm tăng vị thế của cơ quan thi hành án dân sự, tương xứng với nhiệm vụ được phân công, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý.

Hoạt động thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Định trong những năm qua cũng đã có những khởi sắc nhất định. Theo báo cáo của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định, những năm gần đây, kết quả thi hành án dân sự về việc và về tiền nhìn chung đều đạt chỉ tiêu đề ra; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự được kiểm soát và đi vào nề nếp, bảo đảm tốt quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Bên cạnh những thành công, tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự của tỉnh Bình Định vẫn còn những hạn chế nhất định như: Công tác tổ chức cán bộ chưa thật sự “đi trước một bước” (từ việc tuyển dụng cho đến sử dụng, quản lý, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm...); tình trạng giải quyết án kéo dài từ năm này qua năm khác vẫn còn ở mức cao; đơn thư khiếu nại, tố cáo còn phát sinh theo chiều hướng ngày càng tăng; việc phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu và những nhiệm vụ bổ trợ như đào tạo, tập huấn nghiệp vụ...chưa đồng bộ; công tác quản lý nhà nước trong thi hành án dân sự còn nhiều khâu chưa thống nhất, hiệu quả hoạt động chưa cao…Ví dụ năm 2018, trong 10 tháng, các cơ quan thi hành án dân sự toàn tỉnh mới thi hành xong 4.845 việc, đạt tỷ lệ 71,85% về việc (so với chỉ tiêu được Quốc hội giao còn thiếu 1,15%) so với cùng kỳ năm 2017, giảm 80 việc (giảm 1,62%) và giảm 0,65% về tỷ lệ; về tiền, thi hành xong 131 tỷ 824 triệu 845 nghìn đồng, đạt tỷ lệ 21,83% (còn thiếu 10,17% so với chỉ tiêu của Quốc hội giao). So với cùng kỳ năm 2017, giảm 42 tỷ 458 triệu 890 nghìn đồng (giảm 24,36%) và giảm 3,83% về tỷ lệ… Sở dĩ còn những hạn chế nêu trên là bởi những lý do: (i) Cơ chế quản lý, chỉ đạo, điều hành có lúc, có nơi còn thiếu quyết liệt; quy định về thẩm quyền và địa vị pháp lý của chấp hành viên chưa thật sự tương xứng với nhiệm vụ được giao, còn phụ thuộc quá nhiều vào cơ quan khác. Nhiều vụ việc trong đó liên quan đến án tín dụng, ngân hàng rất phức tạp; quá trình tổ chức thi hành án có vụ việc có người mua tài sản nhưng bị kéo dài chưa nhận được tài sản do có các vấn đề vướng mắc phát sinh; (ii) Chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan hữu quan trong quá trình tổ chức thi hành án; (iii) Ý thức pháp luật của một bộ phận người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phải thi hành án hoặc có liên quan đến thi hành án chưa cao (chây ỳ, tẩu tán tài sản, thậm chí chống đối quyết liệt việc cưỡng chế thi hành án…); (iv) Công tác tổ chức cán bộ, chế độ đãi ngộ trong hệ thống cơ quan thi hành án dân sự chưa được quy định thỏa đáng, công tác luân chuyển, điều động cán bộ còn nhiều bất cập, cơ sở vật chất phục vụ công tác thi hành án dân sự còn nhiều khó khăn…

3. Một số bài học kinh nghiệm

Trước hết, để tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự phát huy hiệu lực, hiệu quả trên thực tế cần phải có một hệ thống pháp luật chuẩn vì pháp luật là công cụ, phương tiện để Nhà nước tổ chức và hoạt động trên mọi lĩnh vực. Thi hành án dân sự có liên quan đến nhiều chủ thể, trong đó có những chủ thể có lợi ích đối lập hoặc lợi ích liên quan... nên có nhiều khả năng mâu thuẫn cả về lý thuyết cũng như thực tế. Để giải quyết được mâu thuẫn này, Nhà nước cần phải định rõ một khuôn mẫu chuẩn về mặt pháp lý làm căn cứ đúng và duy nhất. Sự đúng, sai, tranh chấp, mâu thuẫn chỉ có thể căn cứ vào pháp luật để xác định. Sự ban hành đầy đủ các căn cứ pháp lý sẽ góp phần bảo đảm quan trọng cho tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự.

Thứ hai, cần có một bộ máy hoàn thiện với đội ngũ cán bộ, chấp hành viên có chuyên môn nghiệp vụ tốt để khi có những công việc mới hoặc tình huống phức tạp có thể giải quyết được ngay trên cơ sở phân định rõ chức năng, đảm bảo cho việc thi hành án chính xác và có hiệu quả.

Thứ ba, thi hành án dân sự là hoạt động phức tạp, đòi hỏi nhiều công đoạn mà sự phối hợp giữa các chủ thể có một vai trò hết sức quan trọng và trong nhiều trường hợp, nếu thiếu sự phối hợp này, công tác thi hành án dân sự không thể hoàn thành. Trong quá trình thi hành án, ở mỗi công đoạn lại cần sự tham gia của những chủ thể nhất định, đặc biệt trong các hoạt động cưỡng chế thi hành án, thì gần như phải huy động tất cả các lực lượng có liên quan phối hợp với nhau để thực hiện nhiệm vụ.

Thứ tư, thi hành án dân sự là một hoạt động để khép lại một quá trình thực hiện quyền lực nhà nước và chứng minh sự hiện diện của Nhà nước trong việc bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho nhân dân, nên chỉ tiêu kế hoạch đặt ra cho các cơ quan, đơn vị phải xuất phát từ chính điều kiện thực tế và khả năng giải quyết của cơ quan đó. Nói cách khác, việc đặt ra chỉ tiêu kế hoạch phải bảo đảm có tính khả thi. Sự hoàn thành nhiệm vụ thi hành án dân sự được giao sẽ mang lại niềm tin cho nhân dân vào pháp luật, xã hội tin tưởng và tìm đến pháp luật, đến các cơ quan thực thi pháp luật để thực hiện quyền cũng như lợi ích hợp pháp của mình bằng chính cơ chế pháp lý mà pháp luật đã tạo ra. Bản thân việc đó sẽ giúp cho các cơ quan có trách nhiệm trong thi hành án sẽ thuận lợi trong công việc nhờ sự cộng tác của xã hội.

Thứ năm, cần có sự kiểm tra, trao đổi kinh nghiệm thường xuyên để vừa phát hiện ra nhân tố tích cực để phát huy sức mạnh của chúng, đồng thời cũng tìm ra sự hạn chế, sai sót và nhanh chóng khắc phục hậu quả. Một trong những đặc trưng của thi hành án dân sự là các vụ việc nếu có điều kiện thì thực hiện càng nhanh càng tốt, vì vụ việc càng kéo dài, càng có nhiều biến động và càng có nguy cơ làm phức tạp thêm vấn đề vốn đã có sẵn trong các vụ việc này. Điều này góp phần tăng cường hiệu quả của điều chỉnh pháp luật mà trong đó, tiêu chí giảm chi phí được thực hiện và kết quả đạt được lại cao cùng với ý nghĩa làm tăng vai trò của thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay.

ThS. Đoàn Thị Phượng

Trường Chính trị tỉnh Bình Định

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: