Thứ hai 21/09/2026 17:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2015

Ngày 15/01/2015, Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2015 được thực hiện trực tuyến qua 63 điểm cầu tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Về kết quả công tác tư pháp năm 2014, Bộ Tư pháp đã nhận định: Công tác tư pháp năm 2014 đã bám sát các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội do Quốc hội, Chính phủ đề ra, triển khai cơ bản toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm và thu được kết quả trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tư pháp vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập.

Có thể nói, Hội nghị triển khai công tác tư pháp lần này đã nhận được sự quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và các ngành, các cấp. Lãnh đạo Quốc hội, Chính phủ, một số bộ, cơ quan, ban, ngành trung ương và lãnh đạo nhiều địa phương đã tới dự.

Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2015 dù diễn ra trong thời gian ngắn nhất từ trước đến nay (01 ngày), nhưng lại bao hàm được nội dung toàn diện nhất, với khối lượng đồ sộ nhất. Những vấn đề được đưa ra trong Hội nghị không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực tư pháp thuần túy, không chỉ trong phạm vi các cơ quan tư pháp như Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, cơ quan thi hành án dân sự, Phòng Tư pháp... mà lồng ghép cả công tác pháp chế của các bộ, cơ quan ngang bộ.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực, cố gắng của toàn Ngành Tư pháp. Đồng chí nhấn mạnh, tư tưởng của Hiến pháp cần được thể hiện trong mọi công việc của mỗi cán bộ tư pháp; đất nước trông chờ rất nhiều vào đội ngũ làm công tác pháp chế và chúng ta cần xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, hiện đại và chuyên nghiệp.

Đại diện một số bộ, ban, ngành, cơ quan trung ương đã trình bày thực trạng cũng như bất cập, vướng mắc và đề xuất giải pháp khắc phục liên quan đến lĩnh vực, ngành, nghề do mình quản lý, thực hiện. Bên cạnh đó, đại diện lãnh đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng nêu lên nhiều vấn đề về công tác tư pháp của địa phương mình, bên cạnh kết quả đạt được, cũng thẳng thắn nhận diện những điểm còn tồn tại cần khắc phục. Mặc dù không đủ thời gian để các đại biểu có thể nêu lên được hết những tâm tư, nguyện vọng, tuy nhiên, Hội nghị đã ghi nhận những kết quả đạt được trong năm 2014 và đưa ra được những vấn đề là điểm nóng, vướng mắc chung và vướng mắc đặc trưng ở rất nhiều địa phương, cùng những giải pháp thiết thực, quan trọng, nhằm triển khai công tác tư pháp năm 2015 đạt kết quả tốt. Hội nghị cũng đã được nghe những ý kiến giải đáp của đại diện lãnh đạo các vụ, cục chuyên môn của Bộ Tư pháp đối với những thắc mắc, đề xuất của các đại biểu trong Hội nghị. Dưới đây, xin nêu một số đề xuất và giải đáp:

1. Vấn đề biên chế

Khối lượng công việc của công tác tư pháp ngày càng gia tăng, vì vậy, để giải quyết vấn đề về biên chế, các địa phương có thể thực hiện một số giải pháp như:

- Điều chuyển biên chế từ các công tác khác sang thực hiện công tác tư pháp;

- Cần xem xét đưa ra cơ chế để chuyển ngạch từ viên chức thành công chức;

- Ứng dụng công nghệ thông tin;

- Cắt giảm thủ tục hành chính.

Ngoài ra, có thể dùng cơ chế tài chính để giám bớt gánh nặng cho cơ quan tư pháp (như thuê thêm người làm hợp đồng thời vụ, hợp đồng có thời hạn...).

2. Về công tác thẩm tra, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Trong Dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, những vấn đề sau đã được đưa vào Dự thảo Luật: Đổi mới quy trình; tăng cường công tác phối hợp; nâng cao chất lượng văn bản. Tuy nhiên, đối với chức danh thẩm tra viên thì chưa thể đưa vào trong Dự thảo mà cần phải được nghiên cứu, đánh giá về cả lý luận và thực tiễn. Vấn đề tiêu chuẩn hóa chức danh chuyên môn trong xây dựng văn bản đã được đặt ra trong quá trình xây dựng Dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, việc xác định những yếu tố đặc thù trong việc thực hiện nhiệm vụ để xây dựng các chức danh chuyên môn như soạn thảo, thẩm định, thẩm tra viên là chưa đủ cơ sở. Mặt khác, tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội cho ý kiến về một số vấn đề lớn của Dự thảo này, nhưng không có nhiều ý kiến về việc chuyên nghiệp hóa chức danh soạn thảo viên, thẩm định viên.

3. Về công tác pháp chế

Thứ nhất, về chế độ báo cáo

Hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng, hàng năm, liên quan đến công tác pháp chế, họ phải gửi rất nhiều loại báo cáo khác nhau, trong khi vẫn phải xây dựng 01 báo cáo chung về công tác pháp chế. Tuy nhiên, đây là theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Do đó, thời gian tới có thể sẽ thực hiện khuyến khích việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác báo cáo. Qua đó, sẽ giảm bớt được số lượng báo cáo hàng năm của các bộ, ngành, địa phương.

Thứ hai, về chế độ phụ cấp đối với người làm công tác pháp chế

Theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, để thực hiện Kết luận số 69-KL/TW ngày 27/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, thì việc ban hành chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề sẽ được bố trí trong Đề án cải cách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp khi Đề án này được thông qua. Do đó, trước mắt vấn đề này chỉ được đưa vào và thực hiện theo các văn bản pháp luật như: Thông tư số 129/2013/TT-BTC ngày 18/9/2013 của Bộ Tài chính; Thông tư liên tịch số 192/2013/TTLT-BTC-BTP ngày 13/12/2013 của liên bộ Tài chính, Tư pháp; Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 14/7/2014 của liên bộ Tài chính, Tư pháp, Văn phòng Chính phủ.

Thời gian tới, việc sơ kết triển khai thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế sẽ được tổ chức, theo đó sẽ rà soát việc ban hành văn bản hướng dẫn, tổ chức triển khai, thực hiện về lĩnh vực pháp chế.

4. Về công tác hộ tịch, quốc tịch

Đối với hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung thống nhất từ cấp xã, huyện, tỉnh: Thực hiện Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày 15/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch triển khai Luật Hộ tịch, thì đến tháng 6/2015, Bộ Tư pháp sẽ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để trước tháng 6/2019 sẽ được hoàn thiện và thực hiện cùng cơ sở dữ liệu dân cư của Bộ Công an quản lý.

Có ý kiến đề nghị thí điểm công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã được trực tiếp ký giấy khai sinh, tuy nhiên, đây là vấn đề khó khả thi vì điều này không phù hợp với quy định của Luật Hộ tịch, đồng thời không tương xứng với loại giấy tờ có giá trị cao như giấy khai sinh.

Đối với quốc tịch của trẻ em sinh ra tại Việt Nam (cha mẹ không rõ hoặc không quốc tịch) thì theo Điều 17, Điều 18 Luật Quốc tịch, những trường hợp này được xác định là quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, đối với những trường hợp người Việt Nam từ Căm-pu-chia về nước, không còn giấy tờ, sẽ đưa vào Đề án giải quyết các vấn đề quốc tịch, hộ tịch, hộ khẩu do Bộ Tư pháp chủ trì để trình Chính phủ phê duyệt.

Về quyền kết hôn khi đang chấp hành thi hành án phạt tù: Mặc dù quy định pháp luật không cấm kết hôn khi đang chấp hành án phạt tù. Tuy nhiên, về thủ tục, Bộ Tư pháp cũng có văn bản trao đổi với Bộ Công an, nhưng vướng mắc là chưa tìm ra điều kiện bảo đảm để cho những người đó ra ngoài, rồi thực hiện kết hôn. Vấn đề này sẽ được lưu ý trong quá trình xây dựng thông tư hướng dẫn liên quan đến đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử lưu động.

Về tình trạng chậm ghi chú kết hôn: Tình trạng này là do người Việt Nam ly hôn ở nước ngoài chiếm số lượng lớn, trong khi quy định thời hạn tại Thông tư 16/2010/TT-BTP ngày 08/10/2010 chưa phù hợp, vì vậy, vấn đề này sẽ được lưu ý khi ban hành Thông tư hướng dẫn Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình mới.

5. Về công tác bổ trợ tư pháp

Để chuẩn bị ban hành văn bản hướng dẫn Luật Công chứng mới (ban hành ngày 20/6/2014, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015), Bộ Tư pháp đã tổ chức 02 hội nghị và đã tiếp nhận nhiều giải pháp đáp ứng được yêu cầu địa phương. Để hướng dẫn Luật Công chứng sẽ có nhiều văn bản nghị định, thông tư được ban hành và cố gắng sẽ hoàn thiện vào đầu năm 2015.

Về chuyển giao việc chứng thực hợp đồng, giao dịch do Ủy ban nhân dân đang thực hiện sang cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện: Công văn số 4800/BTP-BTTP ngày 21/11/2014 của Bộ Tư pháp về việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất đã có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

Về bán đấu giá tài sản: Luật Đấu giá tài sản sẽ được trình Quốc hội vào tháng 10/2015 để giải quyết nhiều vấn đề còn bất cập, vướng mắc trong đấu giá tài sản.

Về miễn nhiệm giám định viên tư pháp: Không quy định miễn nhiệm đương nhiên giám định viên tư pháp, vì hiện tại đang thiếu người làm giám định viên, trong khi vẫn cần thu hút những người có kinh nghiệm để thực hiện công tác giám định.

6. Về lĩnh vực lý lịch tư pháp

Việc chậm cấp phiếu lý lịch tư pháp vẫn diễn ra khá phổ biến (theo thống kê, tỷ lệ này là 21%/toàn quốc), có thể chậm lên đến 03 tháng. Để giải quyết vấn đề này, cần thực hiện tốt giải pháp phối hợp nhịp nhàng giữa 03 cơ quan: Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Cục Hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát (C53), Sở Tư pháp. Hiện tại, đã thực hiện giải pháp tin học hóa ứng dụng: Tra cứu, xác minh thông tin qua đường điện tử tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, đã thử nghiệm thực hiện tại TP. Hồ Chí Minh, thời gian tới sẽ thực hiện tại Đà Nẵng và một số tỉnh, thành được coi là điểm nóng.

Đối với cấp phiếu lý lịch tư pháp cho những người từ Căm-pu-chia về Việt Nam, khi có giấy xác nhận tạm trú, thẻ tạm trú của công an, thì sẽ được cấp phiếu.

Hội nghị kết thúc, khép lại một năm với nhiều thành quả của Ngành Tư pháp, đồng thời mở ra một năm nhiều khó khăn, thử thách. Chính vì vậy, để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, toàn Ngành Tư pháp cần phải hết sức cố gắng, nỗ lực. Thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của năm 2015, Ngành Tư pháp cần thống nhất triển khai đồng bộ từ trung ương đến địa phương, cùng với đó, việc kiện toàn biên chế cũng dành sự quan tâm cho cơ sở. Riêng đối với công chức làm công tác hộ tịch ở cấp xã, cần phải giải quyết được vấn đề kiêm nhiệm - nguyên nhân lớn dẫn đến chuyển biến chậm trong công tác này. Tất cả cán bộ đều phải được chuẩn hóa theo quy định của Luật Hộ tịch (có trình độ trung cấp luật trở lên, được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch). Bên cạnh đó, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành, báo cáo, thống kê là giải pháp hữu hiệu cho việc giảm gánh nặng về biên chế.

Tiếp nhận những chỉ đạo, định hướng của Đảng và Nhà nước, Ngành Tư pháp tin tưởng, chờ đợi một năm thành công, gặt hái nhiều thắng lợi mới.

Ngô Huyền

Ảnh: dangcongsan.vn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: