Thứ ba 26/05/2026 07:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2015

Ngày 15/01/2015, Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2015 được thực hiện trực tuyến qua 63 điểm cầu tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Về kết quả công tác tư pháp năm 2014, Bộ Tư pháp đã nhận định: Công tác tư pháp năm 2014 đã bám sát các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội do Quốc hội, Chính phủ đề ra, triển khai cơ bản toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm và thu được kết quả trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tư pháp vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập.

Có thể nói, Hội nghị triển khai công tác tư pháp lần này đã nhận được sự quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và các ngành, các cấp. Lãnh đạo Quốc hội, Chính phủ, một số bộ, cơ quan, ban, ngành trung ương và lãnh đạo nhiều địa phương đã tới dự.

Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2015 dù diễn ra trong thời gian ngắn nhất từ trước đến nay (01 ngày), nhưng lại bao hàm được nội dung toàn diện nhất, với khối lượng đồ sộ nhất. Những vấn đề được đưa ra trong Hội nghị không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực tư pháp thuần túy, không chỉ trong phạm vi các cơ quan tư pháp như Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, cơ quan thi hành án dân sự, Phòng Tư pháp... mà lồng ghép cả công tác pháp chế của các bộ, cơ quan ngang bộ.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực, cố gắng của toàn Ngành Tư pháp. Đồng chí nhấn mạnh, tư tưởng của Hiến pháp cần được thể hiện trong mọi công việc của mỗi cán bộ tư pháp; đất nước trông chờ rất nhiều vào đội ngũ làm công tác pháp chế và chúng ta cần xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, hiện đại và chuyên nghiệp.

Đại diện một số bộ, ban, ngành, cơ quan trung ương đã trình bày thực trạng cũng như bất cập, vướng mắc và đề xuất giải pháp khắc phục liên quan đến lĩnh vực, ngành, nghề do mình quản lý, thực hiện. Bên cạnh đó, đại diện lãnh đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng nêu lên nhiều vấn đề về công tác tư pháp của địa phương mình, bên cạnh kết quả đạt được, cũng thẳng thắn nhận diện những điểm còn tồn tại cần khắc phục. Mặc dù không đủ thời gian để các đại biểu có thể nêu lên được hết những tâm tư, nguyện vọng, tuy nhiên, Hội nghị đã ghi nhận những kết quả đạt được trong năm 2014 và đưa ra được những vấn đề là điểm nóng, vướng mắc chung và vướng mắc đặc trưng ở rất nhiều địa phương, cùng những giải pháp thiết thực, quan trọng, nhằm triển khai công tác tư pháp năm 2015 đạt kết quả tốt. Hội nghị cũng đã được nghe những ý kiến giải đáp của đại diện lãnh đạo các vụ, cục chuyên môn của Bộ Tư pháp đối với những thắc mắc, đề xuất của các đại biểu trong Hội nghị. Dưới đây, xin nêu một số đề xuất và giải đáp:

1. Vấn đề biên chế

Khối lượng công việc của công tác tư pháp ngày càng gia tăng, vì vậy, để giải quyết vấn đề về biên chế, các địa phương có thể thực hiện một số giải pháp như:

- Điều chuyển biên chế từ các công tác khác sang thực hiện công tác tư pháp;

- Cần xem xét đưa ra cơ chế để chuyển ngạch từ viên chức thành công chức;

- Ứng dụng công nghệ thông tin;

- Cắt giảm thủ tục hành chính.

Ngoài ra, có thể dùng cơ chế tài chính để giám bớt gánh nặng cho cơ quan tư pháp (như thuê thêm người làm hợp đồng thời vụ, hợp đồng có thời hạn...).

2. Về công tác thẩm tra, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Trong Dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, những vấn đề sau đã được đưa vào Dự thảo Luật: Đổi mới quy trình; tăng cường công tác phối hợp; nâng cao chất lượng văn bản. Tuy nhiên, đối với chức danh thẩm tra viên thì chưa thể đưa vào trong Dự thảo mà cần phải được nghiên cứu, đánh giá về cả lý luận và thực tiễn. Vấn đề tiêu chuẩn hóa chức danh chuyên môn trong xây dựng văn bản đã được đặt ra trong quá trình xây dựng Dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, việc xác định những yếu tố đặc thù trong việc thực hiện nhiệm vụ để xây dựng các chức danh chuyên môn như soạn thảo, thẩm định, thẩm tra viên là chưa đủ cơ sở. Mặt khác, tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội cho ý kiến về một số vấn đề lớn của Dự thảo này, nhưng không có nhiều ý kiến về việc chuyên nghiệp hóa chức danh soạn thảo viên, thẩm định viên.

3. Về công tác pháp chế

Thứ nhất, về chế độ báo cáo

Hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng, hàng năm, liên quan đến công tác pháp chế, họ phải gửi rất nhiều loại báo cáo khác nhau, trong khi vẫn phải xây dựng 01 báo cáo chung về công tác pháp chế. Tuy nhiên, đây là theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Do đó, thời gian tới có thể sẽ thực hiện khuyến khích việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác báo cáo. Qua đó, sẽ giảm bớt được số lượng báo cáo hàng năm của các bộ, ngành, địa phương.

Thứ hai, về chế độ phụ cấp đối với người làm công tác pháp chế

Theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, để thực hiện Kết luận số 69-KL/TW ngày 27/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, thì việc ban hành chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề sẽ được bố trí trong Đề án cải cách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp khi Đề án này được thông qua. Do đó, trước mắt vấn đề này chỉ được đưa vào và thực hiện theo các văn bản pháp luật như: Thông tư số 129/2013/TT-BTC ngày 18/9/2013 của Bộ Tài chính; Thông tư liên tịch số 192/2013/TTLT-BTC-BTP ngày 13/12/2013 của liên bộ Tài chính, Tư pháp; Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 14/7/2014 của liên bộ Tài chính, Tư pháp, Văn phòng Chính phủ.

Thời gian tới, việc sơ kết triển khai thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế sẽ được tổ chức, theo đó sẽ rà soát việc ban hành văn bản hướng dẫn, tổ chức triển khai, thực hiện về lĩnh vực pháp chế.

4. Về công tác hộ tịch, quốc tịch

Đối với hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung thống nhất từ cấp xã, huyện, tỉnh: Thực hiện Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày 15/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch triển khai Luật Hộ tịch, thì đến tháng 6/2015, Bộ Tư pháp sẽ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để trước tháng 6/2019 sẽ được hoàn thiện và thực hiện cùng cơ sở dữ liệu dân cư của Bộ Công an quản lý.

Có ý kiến đề nghị thí điểm công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã được trực tiếp ký giấy khai sinh, tuy nhiên, đây là vấn đề khó khả thi vì điều này không phù hợp với quy định của Luật Hộ tịch, đồng thời không tương xứng với loại giấy tờ có giá trị cao như giấy khai sinh.

Đối với quốc tịch của trẻ em sinh ra tại Việt Nam (cha mẹ không rõ hoặc không quốc tịch) thì theo Điều 17, Điều 18 Luật Quốc tịch, những trường hợp này được xác định là quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, đối với những trường hợp người Việt Nam từ Căm-pu-chia về nước, không còn giấy tờ, sẽ đưa vào Đề án giải quyết các vấn đề quốc tịch, hộ tịch, hộ khẩu do Bộ Tư pháp chủ trì để trình Chính phủ phê duyệt.

Về quyền kết hôn khi đang chấp hành thi hành án phạt tù: Mặc dù quy định pháp luật không cấm kết hôn khi đang chấp hành án phạt tù. Tuy nhiên, về thủ tục, Bộ Tư pháp cũng có văn bản trao đổi với Bộ Công an, nhưng vướng mắc là chưa tìm ra điều kiện bảo đảm để cho những người đó ra ngoài, rồi thực hiện kết hôn. Vấn đề này sẽ được lưu ý trong quá trình xây dựng thông tư hướng dẫn liên quan đến đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử lưu động.

Về tình trạng chậm ghi chú kết hôn: Tình trạng này là do người Việt Nam ly hôn ở nước ngoài chiếm số lượng lớn, trong khi quy định thời hạn tại Thông tư 16/2010/TT-BTP ngày 08/10/2010 chưa phù hợp, vì vậy, vấn đề này sẽ được lưu ý khi ban hành Thông tư hướng dẫn Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình mới.

5. Về công tác bổ trợ tư pháp

Để chuẩn bị ban hành văn bản hướng dẫn Luật Công chứng mới (ban hành ngày 20/6/2014, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015), Bộ Tư pháp đã tổ chức 02 hội nghị và đã tiếp nhận nhiều giải pháp đáp ứng được yêu cầu địa phương. Để hướng dẫn Luật Công chứng sẽ có nhiều văn bản nghị định, thông tư được ban hành và cố gắng sẽ hoàn thiện vào đầu năm 2015.

Về chuyển giao việc chứng thực hợp đồng, giao dịch do Ủy ban nhân dân đang thực hiện sang cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện: Công văn số 4800/BTP-BTTP ngày 21/11/2014 của Bộ Tư pháp về việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất đã có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

Về bán đấu giá tài sản: Luật Đấu giá tài sản sẽ được trình Quốc hội vào tháng 10/2015 để giải quyết nhiều vấn đề còn bất cập, vướng mắc trong đấu giá tài sản.

Về miễn nhiệm giám định viên tư pháp: Không quy định miễn nhiệm đương nhiên giám định viên tư pháp, vì hiện tại đang thiếu người làm giám định viên, trong khi vẫn cần thu hút những người có kinh nghiệm để thực hiện công tác giám định.

6. Về lĩnh vực lý lịch tư pháp

Việc chậm cấp phiếu lý lịch tư pháp vẫn diễn ra khá phổ biến (theo thống kê, tỷ lệ này là 21%/toàn quốc), có thể chậm lên đến 03 tháng. Để giải quyết vấn đề này, cần thực hiện tốt giải pháp phối hợp nhịp nhàng giữa 03 cơ quan: Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Cục Hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát (C53), Sở Tư pháp. Hiện tại, đã thực hiện giải pháp tin học hóa ứng dụng: Tra cứu, xác minh thông tin qua đường điện tử tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, đã thử nghiệm thực hiện tại TP. Hồ Chí Minh, thời gian tới sẽ thực hiện tại Đà Nẵng và một số tỉnh, thành được coi là điểm nóng.

Đối với cấp phiếu lý lịch tư pháp cho những người từ Căm-pu-chia về Việt Nam, khi có giấy xác nhận tạm trú, thẻ tạm trú của công an, thì sẽ được cấp phiếu.

Hội nghị kết thúc, khép lại một năm với nhiều thành quả của Ngành Tư pháp, đồng thời mở ra một năm nhiều khó khăn, thử thách. Chính vì vậy, để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, toàn Ngành Tư pháp cần phải hết sức cố gắng, nỗ lực. Thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của năm 2015, Ngành Tư pháp cần thống nhất triển khai đồng bộ từ trung ương đến địa phương, cùng với đó, việc kiện toàn biên chế cũng dành sự quan tâm cho cơ sở. Riêng đối với công chức làm công tác hộ tịch ở cấp xã, cần phải giải quyết được vấn đề kiêm nhiệm - nguyên nhân lớn dẫn đến chuyển biến chậm trong công tác này. Tất cả cán bộ đều phải được chuẩn hóa theo quy định của Luật Hộ tịch (có trình độ trung cấp luật trở lên, được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch). Bên cạnh đó, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành, báo cáo, thống kê là giải pháp hữu hiệu cho việc giảm gánh nặng về biên chế.

Tiếp nhận những chỉ đạo, định hướng của Đảng và Nhà nước, Ngành Tư pháp tin tưởng, chờ đợi một năm thành công, gặt hái nhiều thắng lợi mới.

Ngô Huyền

Ảnh: dangcongsan.vn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: