Thứ năm 11/12/2025 03:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hôn nhân cùng giới và quyền kết hôn cùng giới theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

Tóm tắt: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) có nhiều quy định mới so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Tuy nhiên, sau gần hai năm có hiệu lực trong xã hội vẫn còn nhiều ý kiến, cách hiểu khác nhau về vấn đề hôn nhân cùng giới và quyền kết hôn cùng giới. Bài viết này sẽ cung cấp cho độc giả một số thông tin cơ bản giúp hiểu rõ hơn về vấn đề xã hội còn đang có nhiều tranh cãi này.

Abstract: The Law on marriage and family of 2014 (effective since 1st January 2015) provides many new regulations compared to the Law on marriage and family of 2000. After two years of implementation, there are, however, different opinions and understandings in the society about the issue of same-sex marriage and the right of the same-sex marriage. This article provides readers with some basic information to help them in better understanding of this controversy issue in the society.

1. Hôn nhân và hôn nhân cùng giới

Hôn nhân theo quan niệm truyền thống ở tất cả các quốc gia là mối quan hệ tình cảm, sinh lý giữa một người đàn ông và một người đàn bà phát sinh trong quá trình chung sống với nhau và mối quan hệ này tạo ra quyền lợi và nghĩa vụ giữa hai bên. Thông thường, lễ cưới là sự kiện đánh dấu hôn nhân trên thực tế, còn đăng ký kết hôn là sự kiện pháp lý được Nhà nước công nhận. Như vậy, về mặt truyền thống, hôn nhân là sự chung sống giữa một người đàn ông - chồng và một người đàn bà - vợ (tức là mối quan hệ giữa hai người có giới tính sinh học tự nhiên khác nhau với mục đích tạo lập gia đình, sinh con để duy trì nòi giống - chức năng xã hội cơ bản của gia đình). Ngoài ra, hiện nay trên thế giới vẫn còn tồn tại chế độ hôn nhân đa thê (polygamy - một người đàn ông có nhiều vợ), hôn nhân cùng giới (same sex marriage - hai người đàn ông hay hai người đàn bà có cùng giới tính sinh học[1] kết hôn với nhau). Trong trào lưu dân chủ, tiến bộ hiện nay thì chế độ hôn nhân đa thê ngày càng bị lên án mạnh mẽ và có xu hướng giảm dần, trong khi việc hôn nhân cùng giới ngày càng phổ biến và được ủng hộ, mở rộng. Bằng chứng là kể từ những năm 2000 trở đi, vấn đề hôn nhân cùng giới đã được nhiều nước nhìn nhận lại theo hướng ít khắt khe hơn, cởi mở hơn. Nhiều nước đã có những bước đi đột phá như: Hủy bỏ việc cấm, việc trừng phạt hôn nhân cùng giới và công nhận chính thức vấn đề xã hội này về mặt pháp lý; nhiều nước đang có những sự chuẩn bị về mặt pháp lý để xem xét lại có nên tiếp tục duy trì việc cấm đoán như trước kia.

2. Hôn nhân đồng giới trên thế giới

Tùy thuộc vào đặc điểm truyền thống, văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo mà các nước có cách nhìn nhận về vấn đề này khác nhau. Hiện nay, 21 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới chính thức cho phép hôn nhân cùng giới. Năm 2001, Hà Lan trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép hôn nhân cùng giới và sau đó là một loạt các nước khác: Bỉ (2003), Tây Ban Nha (2005), Canada (2005), Nam Phi (2006), Na Uy (2009), Thụy Điển (2009), Bồ Đào Nha (2010), Argentina (2010), Mỹ[2] (2010), Đan Mạch (2012), Anh và Xứ Wales (2013), Brazil (2013), Uruguay (2013), New Zealand (2013), Pháp (2013), Luxembourg (2014), Scotland (2014), Ireland (2015), Greenland (2015), Phần Lan (2015). Cách thức các nước công nhận và cho phép hôn nhân cùng giới cũng khác nhau. Có nước, việc cho phép được thể hiện thông qua một đạo luật riêng biệt (Pháp[3]); có nước, việc cho phép được thể hiện bằng một phán quyết của Tòa án (Nam Phi); có nước, việc cho phép chỉ giới hạn trong phạm vi địa phương (một số bang ở Mỹ[4]), có nước, hôn nhân cùng giới được cho phép thông qua trưng cầu ý dân[5]. Đám cưới đầu tiên của cặp đôi cùng giới Pháp tại Tòa Thị chính thành phố Montpellier ngày 29/5/2013. Hai người đàn ông là Vincent Autin và Bruno Boileau cùng ký vào sổ đăng ký kết hôn.

Hiện nay, chưa có quốc gia nào ở châu Á thừa nhận, cho phép hôn nhân cùng giới. Ở nhiều nước (đặc biệt là các nước hồi giáo ở châu Phi, Tây Á và Nam Á), thậm chí hôn nhân cùng giới bị xã hội nhìn nhận như một thứ “bệnh hoạn” và bị ngăn cấm, trừng phạt nghiêm khắc[6]. Tuy nhiên về bản chất, hôn nhân là một quyền tự nhiên của con người và thuộc phạm trù quyền con người[7], do vậy việc cấm đoán này được coi là sự giới hạn, thậm chí là sự vi phạm quyền con người. Vì vậy, phong trào đấu tranh ở nhiều mức độ khác nhau (trong đó có Việt Nam) đòi quyền kết hôn cùng giới diễn ra ở nhiều nơi, yêu cầu Nhà nước phải xem xét lại vấn đề xã hội này. Dự báo trong tương lai gần, vấn đề kết hôn cùng giới có xu hướng sẽ được mở rộng ở nhiều quốc gia.

3. Hôn nhân đồng giới theo quy định của pháp luật Việt Nam

Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của Việt Nam quy định 05 trường hợp bị cấm kết hôn, trong đó có kết hôn giữa những người cùng giới tính[8]. Tuy nhiên, theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định cấm này đã bị loại bỏ. Điều này thể hiện sự thay đổi trong quan niệm, nhận thức của xã hội ta nói chung, đặc biệt là những nhà làm luật về quyền kết hôn, sự bình đẳng của người đồng tính và các cặp đôi cùng giới[9]. Về mặt pháp lý, hiện nay pháp luật nước ta không còn cấm hôn nhân cùng giới. Tuy nhiên, không cấm không có nghĩa là cho phép các cặp đôi cùng giới có thể đăng ký kết hôn, vì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định rất rõ: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (Điều 8). Bằng việc “không thừa nhận”, Nhà nước Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm, lập trường của mình về vấn đề này. So với “cấm”, “không thừa nhận” nhẹ nhàng, nhân văn, nhân đạo hơn. Tuy nhiên, “không thừa nhận” ở đây cần được hiểu là Nhà nước không khuyến khích[10] và sẽ không thực hiện việc đăng ký kết hôn cho các cặp đôi cùng giới, do đó, giữa họ không phát sinh quan hệ về quyền và nghĩa vụ nếu chung sống với nhau như vợ chồng.

Hôn nhân thực tế là hiện tượng hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực) nhưng không đăng ký kết hôn, thì được Tòa án công nhận là vợ chồng khi ly hôn[11]. Theo kịch bản tương tự, thực tế đã, đang và sẽ xuất hiện tình trạng “hôn nhân cùng giới thực tế”. Điều này có nghĩa là: Tuy không thể đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không được pháp luật công nhận là “vợ chồng”, nhưng các cặp đôi cùng giới hoàn toàn có thể làm đám cưới hay tổ chức hôn lễ theo phong tục truyền thống, sau đó chung sống với nhau như vợ chồng (tất nhiên việc này Nhà nước không khuyến khích). Các trường hợp kết hôn cùng giới cần lưu ý rằng, bình thường thì sự chung sống giữa họ nếu “suôn sẻ” thì không sao, nhưng nếu trục trặc mà phải chia tay, hay khi một bên mất thì có thể sẽ phát sinh không ít hệ lụy phức tạp, nhất là về tài sản và con cái (có thể là con nuôi), vì hiện nay pháp luật chưa quy định việc giải quyết hậu quả từ việc sống chung của người đồng tính.

Trong hoàn cảnh hiện nay, pháp luật nước ta chưa cho phép kết hôn cùng giới. Tuy nhiên, việc hủy bỏ quy định cấm kết hôn cùng giới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã giúp cộng đồng những người đồng tính và các cặp đôi cùng giới bớt đi phần nào tâm lý bị xã hội, cộng đồng phân biệt đối xử; cho phép họ hy vọng về một sự thay đổi theo chiều hướng tích cực trong tương lai.

TS. Ngô Văn Thìn

Văn phòng Tỉnh ủy Vĩnh Phúc



Tài liệu tham khảo:

[1]. Giới tính sinh học của một người được xác định ngay từ lúc sinh ra và được thể hiện trên giấy khai sinh; giới tính cũng có thể được xác định lại (ví dụ do phẫu thuật thay đổi giới tính) và được pháp luật công nhận (thông qua thủ tục xác định lại giới tính).

[2]. Kể từ 2010 đến nay, đã có 35 bang của Mỹ cho phép kết hôn đồng tính.

[3]. Ngày 23/4/2013, Quốc hội Pháp đã thông qua Luật số no 2013-404 mở đường cho việc thừa nhận quyền kết hôn đồng giới (luật này được Hội đồng bảo hiến ra phán quyết ngày 17/5/2013 là hợp hiến).

[4]. Ở Mỹ, các bang cho phép hôn nhân đồng giới thông qua các hình thức khác nhau: Bằng quyết định của Tòa án tối cao liên bang, bằng Luật của bang hay bằng trưng cầu dân ý tại các bang.

[5]. Ireland trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính thông qua trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức hôm 22/5/2015 cho thấy 62,1% cử tri Ireland đồng ý thay đổi hiến pháp quốc gia để định nghĩa lại khái niệm hôn nhân. Theo đó, hôn nhân là sự kết hợp giữa hai con người không phân biệt giới tính của họ.

[6]. Hiện ở 10 nước, kết hôn đồng tính có thể bị xử tử: Yemen, Iran, Iraq, Mauritania, Nigeria, Qatar, Ả Rập Xê út, Somali, Sudan, Các Tiểu Vương Quốc Ả rập thống nhất.

[7]. Theo khoản 1 Điều 16 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948: Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo.

[8]. Khoản 5, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

[9]. Theo ông Phil Robertson, Phó Giám đốc khu vực châu Á của tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch thì “không một quốc gia nào khác trong khu vực Đông Nam Á tiến bộ bằng Việt Nam trong việc chấp nhận hôn nhân đồng tính”. Theo chuyên gia nhân quyền này, tại Thái Lan, những nỗ lực để ra những đạo luật về người đồng tính đã bị đình trệ kể từ ngày giới quân đội đảo chánh vào tháng 5/2014, còn Cam-Pu-Chia, Myanma và Lào thì không đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự của Quốc hội. Thậm chí, theo một chiều hướng ngược lại của mình, Philippines đang xem xét luật cấm hôn nhân đồng tính, Indonesia và Malaysia, 2 quốc gia hồi giáo thì vẫn duy trì “quan điểm phân biệt đối xử cố hữu” chống lại người đồng tính, trong khi Brunei thì ra Luật Hình sự mới, phạt đánh roi và tù nặng đối với giới đồng tính (theo RFI- http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150109-viet-nam-vo-dich-chau-a-ve-ton-trong-nguoi-dong-tinh/).

[10]. Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định: “…Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng…”. Với quy định này, ta có thể hiểu rằng Nhà nước ta vừa không cho phép chế độ đa thê, vừa không chấp nhận hôn nhân đồng tính, vì “vợ”, “chồng” theo cách hiểu truyền thống là “đàn ông” và “đàn bà”.

[11]. Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: