Thứ bảy 08/08/2026 23:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hôn nhân cùng giới và quyền kết hôn cùng giới theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

Tóm tắt: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) có nhiều quy định mới so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Tuy nhiên, sau gần hai năm có hiệu lực trong xã hội vẫn còn nhiều ý kiến, cách hiểu khác nhau về vấn đề hôn nhân cùng giới và quyền kết hôn cùng giới. Bài viết này sẽ cung cấp cho độc giả một số thông tin cơ bản giúp hiểu rõ hơn về vấn đề xã hội còn đang có nhiều tranh cãi này.

Abstract: The Law on marriage and family of 2014 (effective since 1st January 2015) provides many new regulations compared to the Law on marriage and family of 2000. After two years of implementation, there are, however, different opinions and understandings in the society about the issue of same-sex marriage and the right of the same-sex marriage. This article provides readers with some basic information to help them in better understanding of this controversy issue in the society.

1. Hôn nhân và hôn nhân cùng giới

Hôn nhân theo quan niệm truyền thống ở tất cả các quốc gia là mối quan hệ tình cảm, sinh lý giữa một người đàn ông và một người đàn bà phát sinh trong quá trình chung sống với nhau và mối quan hệ này tạo ra quyền lợi và nghĩa vụ giữa hai bên. Thông thường, lễ cưới là sự kiện đánh dấu hôn nhân trên thực tế, còn đăng ký kết hôn là sự kiện pháp lý được Nhà nước công nhận. Như vậy, về mặt truyền thống, hôn nhân là sự chung sống giữa một người đàn ông - chồng và một người đàn bà - vợ (tức là mối quan hệ giữa hai người có giới tính sinh học tự nhiên khác nhau với mục đích tạo lập gia đình, sinh con để duy trì nòi giống - chức năng xã hội cơ bản của gia đình). Ngoài ra, hiện nay trên thế giới vẫn còn tồn tại chế độ hôn nhân đa thê (polygamy - một người đàn ông có nhiều vợ), hôn nhân cùng giới (same sex marriage - hai người đàn ông hay hai người đàn bà có cùng giới tính sinh học[1] kết hôn với nhau). Trong trào lưu dân chủ, tiến bộ hiện nay thì chế độ hôn nhân đa thê ngày càng bị lên án mạnh mẽ và có xu hướng giảm dần, trong khi việc hôn nhân cùng giới ngày càng phổ biến và được ủng hộ, mở rộng. Bằng chứng là kể từ những năm 2000 trở đi, vấn đề hôn nhân cùng giới đã được nhiều nước nhìn nhận lại theo hướng ít khắt khe hơn, cởi mở hơn. Nhiều nước đã có những bước đi đột phá như: Hủy bỏ việc cấm, việc trừng phạt hôn nhân cùng giới và công nhận chính thức vấn đề xã hội này về mặt pháp lý; nhiều nước đang có những sự chuẩn bị về mặt pháp lý để xem xét lại có nên tiếp tục duy trì việc cấm đoán như trước kia.

2. Hôn nhân đồng giới trên thế giới

Tùy thuộc vào đặc điểm truyền thống, văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo mà các nước có cách nhìn nhận về vấn đề này khác nhau. Hiện nay, 21 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới chính thức cho phép hôn nhân cùng giới. Năm 2001, Hà Lan trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép hôn nhân cùng giới và sau đó là một loạt các nước khác: Bỉ (2003), Tây Ban Nha (2005), Canada (2005), Nam Phi (2006), Na Uy (2009), Thụy Điển (2009), Bồ Đào Nha (2010), Argentina (2010), Mỹ[2] (2010), Đan Mạch (2012), Anh và Xứ Wales (2013), Brazil (2013), Uruguay (2013), New Zealand (2013), Pháp (2013), Luxembourg (2014), Scotland (2014), Ireland (2015), Greenland (2015), Phần Lan (2015). Cách thức các nước công nhận và cho phép hôn nhân cùng giới cũng khác nhau. Có nước, việc cho phép được thể hiện thông qua một đạo luật riêng biệt (Pháp[3]); có nước, việc cho phép được thể hiện bằng một phán quyết của Tòa án (Nam Phi); có nước, việc cho phép chỉ giới hạn trong phạm vi địa phương (một số bang ở Mỹ[4]), có nước, hôn nhân cùng giới được cho phép thông qua trưng cầu ý dân[5]. Đám cưới đầu tiên của cặp đôi cùng giới Pháp tại Tòa Thị chính thành phố Montpellier ngày 29/5/2013. Hai người đàn ông là Vincent Autin và Bruno Boileau cùng ký vào sổ đăng ký kết hôn.

Hiện nay, chưa có quốc gia nào ở châu Á thừa nhận, cho phép hôn nhân cùng giới. Ở nhiều nước (đặc biệt là các nước hồi giáo ở châu Phi, Tây Á và Nam Á), thậm chí hôn nhân cùng giới bị xã hội nhìn nhận như một thứ “bệnh hoạn” và bị ngăn cấm, trừng phạt nghiêm khắc[6]. Tuy nhiên về bản chất, hôn nhân là một quyền tự nhiên của con người và thuộc phạm trù quyền con người[7], do vậy việc cấm đoán này được coi là sự giới hạn, thậm chí là sự vi phạm quyền con người. Vì vậy, phong trào đấu tranh ở nhiều mức độ khác nhau (trong đó có Việt Nam) đòi quyền kết hôn cùng giới diễn ra ở nhiều nơi, yêu cầu Nhà nước phải xem xét lại vấn đề xã hội này. Dự báo trong tương lai gần, vấn đề kết hôn cùng giới có xu hướng sẽ được mở rộng ở nhiều quốc gia.

3. Hôn nhân đồng giới theo quy định của pháp luật Việt Nam

Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của Việt Nam quy định 05 trường hợp bị cấm kết hôn, trong đó có kết hôn giữa những người cùng giới tính[8]. Tuy nhiên, theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định cấm này đã bị loại bỏ. Điều này thể hiện sự thay đổi trong quan niệm, nhận thức của xã hội ta nói chung, đặc biệt là những nhà làm luật về quyền kết hôn, sự bình đẳng của người đồng tính và các cặp đôi cùng giới[9]. Về mặt pháp lý, hiện nay pháp luật nước ta không còn cấm hôn nhân cùng giới. Tuy nhiên, không cấm không có nghĩa là cho phép các cặp đôi cùng giới có thể đăng ký kết hôn, vì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định rất rõ: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (Điều 8). Bằng việc “không thừa nhận”, Nhà nước Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm, lập trường của mình về vấn đề này. So với “cấm”, “không thừa nhận” nhẹ nhàng, nhân văn, nhân đạo hơn. Tuy nhiên, “không thừa nhận” ở đây cần được hiểu là Nhà nước không khuyến khích[10] và sẽ không thực hiện việc đăng ký kết hôn cho các cặp đôi cùng giới, do đó, giữa họ không phát sinh quan hệ về quyền và nghĩa vụ nếu chung sống với nhau như vợ chồng.

Hôn nhân thực tế là hiện tượng hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực) nhưng không đăng ký kết hôn, thì được Tòa án công nhận là vợ chồng khi ly hôn[11]. Theo kịch bản tương tự, thực tế đã, đang và sẽ xuất hiện tình trạng “hôn nhân cùng giới thực tế”. Điều này có nghĩa là: Tuy không thể đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không được pháp luật công nhận là “vợ chồng”, nhưng các cặp đôi cùng giới hoàn toàn có thể làm đám cưới hay tổ chức hôn lễ theo phong tục truyền thống, sau đó chung sống với nhau như vợ chồng (tất nhiên việc này Nhà nước không khuyến khích). Các trường hợp kết hôn cùng giới cần lưu ý rằng, bình thường thì sự chung sống giữa họ nếu “suôn sẻ” thì không sao, nhưng nếu trục trặc mà phải chia tay, hay khi một bên mất thì có thể sẽ phát sinh không ít hệ lụy phức tạp, nhất là về tài sản và con cái (có thể là con nuôi), vì hiện nay pháp luật chưa quy định việc giải quyết hậu quả từ việc sống chung của người đồng tính.

Trong hoàn cảnh hiện nay, pháp luật nước ta chưa cho phép kết hôn cùng giới. Tuy nhiên, việc hủy bỏ quy định cấm kết hôn cùng giới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã giúp cộng đồng những người đồng tính và các cặp đôi cùng giới bớt đi phần nào tâm lý bị xã hội, cộng đồng phân biệt đối xử; cho phép họ hy vọng về một sự thay đổi theo chiều hướng tích cực trong tương lai.

TS. Ngô Văn Thìn

Văn phòng Tỉnh ủy Vĩnh Phúc



Tài liệu tham khảo:

[1]. Giới tính sinh học của một người được xác định ngay từ lúc sinh ra và được thể hiện trên giấy khai sinh; giới tính cũng có thể được xác định lại (ví dụ do phẫu thuật thay đổi giới tính) và được pháp luật công nhận (thông qua thủ tục xác định lại giới tính).

[2]. Kể từ 2010 đến nay, đã có 35 bang của Mỹ cho phép kết hôn đồng tính.

[3]. Ngày 23/4/2013, Quốc hội Pháp đã thông qua Luật số no 2013-404 mở đường cho việc thừa nhận quyền kết hôn đồng giới (luật này được Hội đồng bảo hiến ra phán quyết ngày 17/5/2013 là hợp hiến).

[4]. Ở Mỹ, các bang cho phép hôn nhân đồng giới thông qua các hình thức khác nhau: Bằng quyết định của Tòa án tối cao liên bang, bằng Luật của bang hay bằng trưng cầu dân ý tại các bang.

[5]. Ireland trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính thông qua trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức hôm 22/5/2015 cho thấy 62,1% cử tri Ireland đồng ý thay đổi hiến pháp quốc gia để định nghĩa lại khái niệm hôn nhân. Theo đó, hôn nhân là sự kết hợp giữa hai con người không phân biệt giới tính của họ.

[6]. Hiện ở 10 nước, kết hôn đồng tính có thể bị xử tử: Yemen, Iran, Iraq, Mauritania, Nigeria, Qatar, Ả Rập Xê út, Somali, Sudan, Các Tiểu Vương Quốc Ả rập thống nhất.

[7]. Theo khoản 1 Điều 16 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948: Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo.

[8]. Khoản 5, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

[9]. Theo ông Phil Robertson, Phó Giám đốc khu vực châu Á của tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch thì “không một quốc gia nào khác trong khu vực Đông Nam Á tiến bộ bằng Việt Nam trong việc chấp nhận hôn nhân đồng tính”. Theo chuyên gia nhân quyền này, tại Thái Lan, những nỗ lực để ra những đạo luật về người đồng tính đã bị đình trệ kể từ ngày giới quân đội đảo chánh vào tháng 5/2014, còn Cam-Pu-Chia, Myanma và Lào thì không đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự của Quốc hội. Thậm chí, theo một chiều hướng ngược lại của mình, Philippines đang xem xét luật cấm hôn nhân đồng tính, Indonesia và Malaysia, 2 quốc gia hồi giáo thì vẫn duy trì “quan điểm phân biệt đối xử cố hữu” chống lại người đồng tính, trong khi Brunei thì ra Luật Hình sự mới, phạt đánh roi và tù nặng đối với giới đồng tính (theo RFI- http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150109-viet-nam-vo-dich-chau-a-ve-ton-trong-nguoi-dong-tinh/).

[10]. Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định: “…Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng…”. Với quy định này, ta có thể hiểu rằng Nhà nước ta vừa không cho phép chế độ đa thê, vừa không chấp nhận hôn nhân đồng tính, vì “vợ”, “chồng” theo cách hiểu truyền thống là “đàn ông” và “đàn bà”.

[11]. Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: