Thứ tư 18/03/2026 01:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hợp đồng cho thuê lại lao động và một số kiến nghị

Cho thuê lại lao động về bản chất là quan hệ ba bên: Bên cho thuê lao động (doanh nghiệp cho thuê lao động), người lao động được cho thuê lại và bên thuê lại lao động (doanh nghiệp thuê lại lao động). Hợp đồng cho thuê lại lao động là văn bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp cho thuê và doanh nghiệp thuê lại lao động về việc cho thuê lại lao động, theo đó bên cho thuê lao động cung ứng lao động còn bên thuê lao động phải trả tiền dịch vụ cho bên cho thuê lao động. Hợp đồng cho thuê lại lao động là hình thức pháp lý của quan hệ giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với người lao động tham gia quan hệ cho thuê lại lao động. Bài viết này phân tích các quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật lao động hiện hành về hợp đồng cho thuê lại lao động, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.


Để đáp ứng nhu cầu nhân sự của mình thì đơn vị sử dụng lao động có nhiều lựa chọn khác nhau và một trong các hình thức có thể đáp ứng nhu cầu cho doanh nghiệp là thông qua quan hệ cho thuê lại lao động. Xét dưới góc độ lao động việc làm, cho thuê lại lao động là quan hệ việc làm đặc thù, quan hệ việc làm ba bên: Bên cho thuê lại lao động - Người lao động - Bên thuê lại lao động. Tương ứng với mỗi mối quan hệ nói trên là các hình thức pháp lý khác nhau. Bài viết này đi sâu phân tích hình thức pháp lý của mối quan hệ giữa doanh nghiệp cho thuê lao động và bên thuê lại lao động - Đó là hợp đồng cho thuê lại lao động.

1. Quy định của pháp luật về hợp đồng cho thuê lại lao động

1.1. Khái niệm hợp đồng cho thuê lại lao động

Hợp đồng cho thuê lại lao động được ký kết giữa bên cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động. Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 thì bên cho thuê lao động phải là doanh nghiệp và cho thuê lại lao động là ngành nghề kinh doanh có điều kiện[1].

Pháp luật lao động hiện không có quy định về khái niệm hợp đồng cho thuê lại lao động. Tuy nhiên, xét về bản chất quan hệ, chủ thể và khách thể mà các bên hướng tới trong quan hệ cũng như quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, tác giả đồng tình với khái niệm hợp đồng cho thuê lại lao động như sau: “Hợp đồng cho thuê lại lao động là sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp cho thuê lao động và bên thuê lại lao động về việc cho thuê lại lao động, theo đó, doanh nghiệp cho thuê lao động có trách nhiệm cung ứng lao động còn bên thuê lại lao động có quyền sử dụng lao động và phải trả tiền dịch vụ cho doanh nghiệp cho thuê lao động”[2]. Với khái niệm nói trên, hợp đồng cho thuê lại lao động có những đặc trưng sau đây:

Thứ nhất, theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam hiện nay, chủ thể ký kết hợp đồng cho thuê lại lao động là doanh nghiệp cho thuê lại lao động[3] và bên thuê lại lao động (là bất kỳ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nào sử dụng dịch vụ cho thuê lại lao động do doanh nghiệp cho thuê lại lao động cung cấp).

Thứ hai, hình thức của hợp đồng cho thuê lại lao động là bằng văn bản. Hợp đồng cho thuê lại lao động là sự biểu hiện bên ngoài của quan hệ dịch vụ cung ứng - sử dụng người lao động thuê lại nên việc quy định hình thức hợp đồng bằng văn bản là cần thiết. Quy định này nhằm minh bạch quyền và nghĩa vụ các bên theo quan hệ cho thuê lại lao động và là cơ sở pháp lý quan trọng để các bên giải quyết quyền và nghĩa vụ của nhau theo đúng thỏa thuận: Vừa tránh những mâu thuẫn không đáng có xảy ra, vừa có cơ sở bảo vệ quyền lợi các bên khi xảy ra tranh chấp. Đây cũng là nội dung tương đồng với pháp luật cho thuê lại lao động của nhiều quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản[4].

Thứ ba, nội dung của hợp đồng cho thuê lại lao động không chỉ liên quan đến quyền và nghĩa vụ có tính thương mại giữa hai bên cho thuê và đi thuê lao động mà còn là những cam kết của hai bên về quyền và lợi ích của người lao động. Khi tham gia vào quan hệ thuê lại lao động, người lao động vốn luôn ở vị trí yếu thế hơn trong quan hệ việc làm truyền thống, sẽ rủi ro hơn khi tham gia vào quan hệ thuê lại lao động: Có thể không được bảo đảm tương xứng về tiền lương, an sinh xã hội; không được tiếp cận với các phúc lợi, đào tạo, thăng tiến trong nghề nghiệp; có thể không được bảo đảm các quyền cơ bản tại nơi làm việc khi mà người lao động ký hợp đồng lao động với một bên, nhưng lại làm việc cho một bên thứ ba. Do đó, pháp luật về thuê lại lao động đưa ra nguyên tắc bảo vệ quyền cơ bản tại nơi làm việc của người lao động thuê lại và ràng buộc trách nhiệm này với cả hai bên cho thuê và thuê lại lao động.

1.2. Nội dung của hợp đồng cho thuê lại lao động

Về nội dung, hợp đồng cho thuê lại lao động nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp cho thuê lại lao động với bên thuê lại lao động nhưng lại gắn liền với quyền, lợi ích của người lao động cho thuê lại. Chính vì vậy, cho dù tên gọi có thể khác nhau nhưng pháp luật các nước khi quy định về nội dung hợp đồng giữa bên cho thuê lao động và bên thuê lao động đều lưu ý đến việc bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động cho thuê lại (Luật Lao động phái cử của Nhật Bản (Điều 26), Luật Bảo vệ lao động phái cử của Hàn Quốc (Điều 20), Luật về hợp đồng lao động của Trung Quốc (năm 2007)[5]).

Pháp luật cho thuê lại lao động Việt Nam[6] quy định nội dung chủ yếu của hợp đồng cho thuê lại lao động bao gồm:

- Nơi làm việc, vị trí việc làm cần sử dụng lao động thuê lại, nội dung cụ thể của công việc, yêu cầu cụ thể đối với người lao động thuê lại;

- Thời hạn thuê lại lao động; thời gian bắt đầu làm việc của người lao động;

- Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc;

- Nghĩa vụ của mỗi bên đối với người lao động.

Hợp đồng cho thuê lại lao động không được có những thỏa thuận về quyền, lợi ích của người lao động thấp hơn so với hợp đồng lao động mà doanh nghiệp cho thuê lại đã ký với người lao động.

2. Thực trạng thực hiện hợp đồng cho thuê lại lao động

Theo báo cáo hoạt động cho thuê lại lao động của Cục Quan hệ Lao động - Tiền lương, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì 100% hợp đồng cho thuê lại lao động đã ký kết bằng văn bản; các nội dung của hợp đồng cho thuê lại lao động đã thể hiện chi tiết, đầy đủ các nội dung pháp luật quy định[7]. Điểm tích cực là hợp đồng cho thuê lại lao động đã thể hiện nội dung quy định về trách nhiệm bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của người lao động thuê lại với bên thuê lại lao động: Đa số thỏa thuận doanh nghiệp cho thuê lại lao động chịu trách nhiệm thanh toán mọi chi phí cho người lao động trước, sau đó xem xét nguyên nhân và lỗi xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp để thỏa thuận với bên thuê lại lao động mức chi trả. Nhiều bản hợp đồng cho thuê lại lao động có ghi nhận nội dung và hình thức xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện như: Trường hợp người lao động không đáp ứng được yêu cầu công việc hoặc có thái độ không phù hợp trong môi trường làm việc tại doanh nghiệp… Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện hợp đồng cho thuê lại lao động cũng phát sinh một số bất cập về quy định cũng như áp dụng pháp luật. Cụ thể:

Một là, nội dung hợp đồng cho thuê lại lao động liên quan đến mối quan hệ của hai chủ thể là doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động. Tuy nhiên, Bộ luật Lao động năm 2019 không quy định xác định rõ những nội dung liên quan đến mối quan hệ của hai chủ thể này dưới góc độ quan hệ thương mại, dịch vụ như: Cung ứng dịch vụ đó là cho bên thuê lại lao động hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam hay ở nước ngoài; giá dịch vụ; thời hạn thanh toán dịch vụ…

Hai là, không quy định về việc ký kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng cho thuê lại lao động và cơ chế xử lý khi xảy ra khi có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng cho thuê lại lao động.

Ba là, pháp luật hiện hành chưa có quy định về hợp đồng cho thuê lại lao động vô hiệu: Trường hợp nào được coi là vô hiệu? Thẩm quyền tuyên bố vô hiệu thuộc về cơ quan nào? Xử lý trách nhiệm của mỗi bên, nhất là với quyền lợi của người lao động trong thời gian làm việc theo hợp đồng cho thuê lại lao động vô hiệu là ra sao?...

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho thuê lại lao động

3.1. Về nội dung hợp đồng cho thuê lại lao động

Dưới góc độ lao động - việc làm, thì việc Bộ luật Lao động năm 2019 chỉ quy định những nội dung liên quan đến mối quan hệ lao động giữa người lao động với các bên còn lại của quan hệ cho thuê lại lao động cũng có thể giải thích được. Tuy nhiên, về bản chất hợp đồng cho thuê lại lao động là hợp đồng thương mại, dịch vụ và với doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động thì nội dung kinh doanh trong lĩnh vực này được quan tâm đặc biệt. Do đó, dưới góc độ thương mại, dịch vụ thì nội dung hợp đồng cho thuê lại lao động cần bổ sung nội dung về phí dịch vụ cho thuê lại lao động như: Mức phí, phương thức thanh toán, trách nhiệm nếu vi phạm. Trên thực tế, phí dịch vụ là vấn đề mà bất kỳ doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động nào cũng đặc biệt quan tâm. Vì vậy, việc không quy định cụ thể về phí dịch vụ trong hợp đồng cho thuê lại lao động như hiện nay đã dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở pháp lý trong việc bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp cho thuê lại lao động và xác định trách nhiệm của bên cho thuê lại lao động. Đây cũng là vấn đề cần được thỏa thuận rõ ràng nhằm khắc phục tình trạng chậm trả lương do bên thuê lao động chậm trả phí thuê lao động nên doanh nghiệp cho thuê lại lao động không có đủ tiền để trả lương cho người lao động đúng hạn.

3.2. Về hợp đồng cho thuê lại lao động vô hiệu

Để có cơ sở giải quyết khi hợp đồng cho thuê lại lao động vô hiệu thì cần có quy định về căn cứ xác định hợp đồng cho thuê lại lao động vô hiệu từng phần hoặc toàn bộ. Trên cơ sở quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về hợp đồng lao động vô hiệu[8], có thể quy định về hợp đồng cho thuê lại lao động vô hiệu như sau:

- Quy định về các trường hợp hợp đồng cho thuê lại lao động vô hiệu toàn bộ: (i) Toàn bộ nội dung của hợp đồng cho thuê lại lao động trái pháp luật; (ii) Người ký kết hợp đồng cho thuê lại lao động không đúng thẩm quyền; (iii) Vi phạm các trường hợp không được cho thuê lại lao động theo quy định của pháp luật; (iv) Doanh nghiệp cho thuê lại lao động hoạt động không có giấy phép lao động.

- Hợp đồng cho thuê lại lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.

Việc xử lý hợp đồng cho thuê lại lao động cần áp dụng các quy định chung của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, nếu liên quan đến quyền và lợi ích của người lao động thì cần ưu tiên bảo vệ người lao động.

3.3. Về các trường hợp chấm dứt hợp đồng cho thuê lại lao động

Việc quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng cho thuê lại lao động là rất quan trọng để xác định hậu quả pháp lý của các chủ thể, đặc biệt đối với NLĐ thuê lại. Các trường hợp chấm dứt có thể bao gồm:

- Hết hạn hợp đồng cho thuê lại lao động;

- Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng cho thuê lại lao động;

- Bên thuê lại lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; bên thuê lại lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

- Doanh nghiệp cho thuê lại lao động chấm dứt hoạt động;

- Doanh nghiệp cho thuê lại lao động bị thu hồi hoặc không được gia hạn, cấp lại giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động.

Trên cơ sở các trường hợp chấm dứt nói trên nhằm xác định việc chấm dứt hợp đồng cho thuê lại lao động là đúng hay trái pháp luật, từ đó xác định quyền, trách nhiệm các bên khi chấm dứt hợp đồng - đặc biệt là quyền lợi của người lao động tham gia quan hệ cho thuê lại lao động.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí
Đại học Luật Hà Nội



[1]. Khoản 2 Điều 52, Điều 54 Bộ luật Lao động năm 2019.

[2]. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Lao động tập 2, PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí và PGS.TS. Trần Thị Thúy Lâm (đồng chủ biên), Nxb. Công an nhân dân, năm 2021, tr. 44.

[3]. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và pháp luật nhiều nước quy định bên cho thuê lao động không nhất thiết là doanh nghiệp (Điều 1 Công ước 181 về các cơ quan dịch vụ việc làm tư nhân, 1997 của ILO; Anh, Thụy Sỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…).

[4]. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Tài liệu tham khảo pháp luật lao động nước ngoài, Nxb. Lao động - Xã hội, năm 2010, tr. 59, 60.

[5]. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Nxb. Lao động - Xã hội, Tài liệu nghiên cứu cho thuê lại lao động, năm 2011, tr. 334, 418, 446.

[6]. Khoản 2, 3 Điều 55 Bộ luật Lao động năm 2019.

[7]. Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội kiểm tra một số công ty hoạt động cho thuê lại lao động quy mô lớn như Công ty cổ phần L&A, Công ty Harvey Nash, Công ty cổ phần kết nối nhân tài -Talent net, năm 2019.

[8]. Điều 49 đến Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: