Thứ ba 03/03/2026 14:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hợp đồng lập hội

Tóm tắt: Trong khoa học pháp lý, hợp đồng lập hội luôn được xem là cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lập hội, tuy nhiên, hiện nay, Bộ luật Dân sự vẫn đang bỏ ngỏ vấn đề này. Để cụ thể hóa các nguyên tắc hiến định về quyền tự do lập hội và quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong Điều 25, Điều 33 Hiến pháp năm 2013 và làm nền tảng pháp lý cho các luật chuyên ngành, Bộ luật Dân sự cần được nghiên cứu để bổ sung các quy định về hợp đồng lập hội.

Abstract: In the legal science, the contract of association is always considered as a theoretical basis and the practice of association but now, the Civil Code still overlooks this problem. Therefore, in order to concretize the constitutional principles about the right of freedom of association and the right of freedom of business, which are recognized in the Article 25, Article 33 of Constitution of 2013 and to make the legal basis for specialized laws, there is a need to research the contract of association to add this regulations about contract of association in the Civil Code.


1. Khái quát về hội
Hội xét chung trong tổng thể việc đáp ứng các nhu cầu sống của con người là một trong những phương tiện quan trọng giúp con người thỏa mãn các nhu cầu đó[1], mà trong chúng bao gồm cả các nhu cầu về vật chất và các nhu cầu về tinh thần. Tuy nhiên, bản chất pháp lý của hội vẫn còn là một vấn đề gây tranh luận. Có lẽ việc xem xét bản chất của hội trước hết bắt đầu từ việc phân loại hội.

Với tính cách là một phương tiện chung nhằm đáp ứng các nhu cầu sống, nhưng do cách thức của sự đáp ứng từng loại nhu cầu có sự khác nhau nên phản ánh về mặt hình thức, hội được chia thành hai loại cơ bản là hội có mục đích kinh tế và hội không có mục đích kinh tế. Điều 21, 22 Bộ luật Dân sự Đức năm 2002 cũng quy định phân loại hội như vậy để thiết lập quy chế thủ đắc năng lực pháp lý riêng biệt của từng loại hội. Các điều luật này có nội dung như sau: “Một hội mà mục tiêu của nó không phải là hoạt động thương mại thì có tư cách pháp lý bởi việc được ghi vào sổ đăng ký hội tại tòa án địa phương có thẩm quyền” (Điều 21); “Một hội mà mục tiêu hoạt động của nó là hoạt động thương mại thì có tư cách pháp lý được cấp bởi tiểu bang, nếu không có các quy định đặc biệt của luật liên bang” (Điều 22). Cách phân loại này không giúp xác định được bản chất pháp lý của hội, mà chỉ cho biết sự lựa chọn của nhà làm luật về cách thức cấp năng lực pháp lý cho hội.

Xét từ căn cứ tạo lập nên hội, có thể chia hội thành hai loại là hội được tạo lập bởi hợp đồng và hội được tạo lập bởi pháp luật. Tuy nhiên, hội là một tổ chức phi Chính phủ, nên việc pháp luật quy định về việc thành lập một hội cụ thể hay Nhà nước quyết định thành lập hội mà không có sự tự nguyện tham dự của các thành viên là điều ít xảy ra. Vì thế, về cơ bản hội mang bản chất hợp đồng. Bộ luật Dân sự của nhiều nước trên thế giới đều có chương nói về hội hay hợp đồng lập hội, trong đó mô tả chung các đặc điểm pháp lý của hội. Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1931, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ năm 1936 và Bộ luật Dân sự năm 1972 của Chính quyền Sài Gòn (cũ) theo mô hình Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 đều có một chương như vậy, tuy nhiên, các bộ luật này chủ yếu quy định về hợp đồng lập hội có mục đích kinh tế. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 có một chương nói về hội với tính chất là hợp đồng, sau đó mở rộng ra với tính chất là hành vi pháp lý (bao gồm cả hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương), bởi vì về sau này nhà làm luật chấp nhận hội thương mại có thể chỉ có một thành viên (là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên).

2. Một số khía cạnh pháp lý của hợp đồng lập hội

Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1931 định nghĩa: “Khế ước lập hội là khế ước do hai hay nhiều người đồng ý xuất tài sản chung nhau để lấy lợi mà chia nhau” (Điều thứ 1200). Các quy định này được sao chép nguyên văn vào Điều thứ 1425 của Bộ luật Dân sự Trung Kỳ năm 1936. Các định nghĩa này chưa làm rõ được nội hàm của khái niệm hợp đồng lập hội. Theo định nghĩa của hai bộ luật này, hai hay nhiều người cùng tiết kiệm bằng cách bỏ tiền cùng nhau gửi tiết kiệm rồi lấy tiền lãi chia nhau phải chăng cũng được xem là hợp đồng lập hội? Khắc phục những khiếm khuyết của định nghĩa trong hai bộ luật nêu trên, Bộ luật Dân sự năm 1972 đã chuyển hóa những đặc trưng của hội theo Điều 1832 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 để định nghĩa hợp đồng lập hội như sau: “Khế ước lập hội là khế ước theo đó hai hay nhiều người đồng ý góp công, góp của để hoạt động với mục đích kiếm được lời cùng chia nhưng nếu thua lỗ cùng chịu” (Điều thứ 1264). Theo định nghĩa này, hợp đồng lập hội có các dấu hiệu như: (i) Hai hay nhiều người cùng nhau góp vốn (có thể bằng công sức hoặc bằng tài sản); (ii) Hai hay nhiều người đó cùng nhau hoạt động trên căn bản sự góp vốn đó; (iii) Các hoạt động cùng nhau này phải nhằm mục đích sinh lời để chia nhau; (iv) Nếu hoạt động chung này bị thua lỗ thì hai hay nhiều người đó phải cùng nhau gánh chịu.

Nếu xét từ việc tổ chức hội, hợp đồng lập hội có thể được phân chia thành hai loại: Loại thứ nhất là hợp đồng tạo lập nên một hội nhất định được giao kết giữa các thành viên sáng lập ra hội với nhau; loại thứ hai là hợp đồng gia nhập một hội nhất định được giao kết giữa một thành viên gia nhập một hội nhất định với chính hội đó. Khái niệm về hợp đồng lập hội trong các Bộ luật Dân sự thuộc về loại thứ nhất. Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản hợp đồng lập hội là loại hợp đồng tạo lập nên một hội. Tuy nhiên, các định nghĩa nêu trên mới chỉ nhằm tới các hội có mục đích kinh tế. Vậy việc xây dựng một định nghĩa cho hợp đồng lập hội nói chung không kể hội có mục đích kinh tế hay không là một việc cần thiết, trước hết để phân biệt hợp đồng lập hội với các loại hợp đồng khác, sau đó để nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như xây dựng quy chế pháp lý cho loại hợp đồng này.

Hợp đồng lập hội nói chung là một sự thỏa thuận của hai hay nhiều người cùng nhau đóng góp công sức, tri thức, tiền bạc hay các lợi ích vật chất khác để cùng nhau hoạt động nhằm các mục tiêu chung và phải chịu trách nhiệm về các hoạt động đó theo quy định của pháp luật. Thực tế, bất kể hội nào (nhằm mục đích kinh tế hay không) đều phải có kinh phí hoạt động, kinh phí ấy thu được từ sự đóng góp của các thành viên hoặc từ tài trợ của người khác. Do đó, việc đóng góp tiền không phải là dấu hiệu riêng của hội nhằm mục đích kinh tế. Việc đóng góp tiền thành lập hội nhằm mục đích kinh tế là tạo thành vốn để kinh doanh sinh lời. Còn sự đóng góp tiền bạc thành lập hội không nhằm mục đích kinh tế là sự chi tiêu cho các nhu cầu về tinh thần trong khuôn khổ các mục tiêu hoạt động của hội.

Nguồn pháp luật của hợp đồng lập hội khá phong phú so với các loại hợp đồng khác. Cả ở phương diện triết học, kinh tế, văn hóa, xã hội, cũng như pháp lý, Amy Gutmann cho rằng: “Quyền tự do lập hội (Freedom of Association) có bản chất gia tăng của một phương tiện thu hút sự tham gia của mọi người vào hoạt động từ thiện, thương mại, công nghiệp, giáo dục, y tế, chung sống, thực hành tín ngưỡng, chuyên môn, âm nhạc và nghệ thuật, vui chơi giải trí và thể thao”[2]. Như vậy có thể thấy, quyền tự do lập hội là nền tảng triết lý chung của hội hay hợp đồng lập hội mà không kể hội đó có phải là hội nhằm mục đích kinh tế hay không. Theo cuốn hướng dẫn người lao động lập hội và thương lượng tập thể thì: “Tự do lập hội có nghĩa là sự cho phép những người lao động tạo lập và gia nhập công đoàn, những hiệp hội và những hội đồng hay những ủy ban của người lao động theo sự lựa chọn của họ. Mục đích là có thông tin hai chiều giữa quản lý và những người lao động”[3]. Qua các trích dẫn này thấy rằng, quyền tự do lập hội là nền tảng triết lý không chỉ của hợp đồng tạo lập nên một hội nhất định, mà còn của hợp đồng được giao kết giữa một thành viên gia nhập một hội nhất định với chính hội đó. Các khảo sát sơ bộ này cho thấy, trước tiên nguồn của hợp đồng lập hội là Hiến pháp, nơi chuyển hóa cơ sơ triết học này thành nguyên tắc hiến định. Điều 25 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 có quy định về quyền tự do lập hội. Lẽ ra, sau đó Bộ luật Dân sự năm 2015 phải quy định tổng quát về hợp đồng lập hội, nhưng Bộ luật này không có các quy định như vậy. Trong khi đó, các đạo luật hiện hành như Luật Doanh nghiệp, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, Luật Hợp tác xã… đều có các quy định về hợp đồng lập hội. Hiện nay, đạo luật về hội (không nhằm mục đích kinh tế) đang trong quá trình xây dựng. Một loại nguồn quan trọng, phổ biến và được ưu tiên áp dụng đầu tiên liên quan tới những tranh chấp về hội là điều lệ của hội. Thực chất, đây là một bản văn chứa đựng các điều kiện của hợp đồng lập hội theo pháp luật Việt Nam. Thông thường, các bản điều lệ này phải được chấp nhận bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chẳng hạn, trong bộ hồ sơ đăng ký kinh doanh Luật Doanh nghiệp năm 2014 đòi hỏi phải có dự thảo điều lệ doanh nghiệp. Ngoài văn bản quy phạm pháp luật, các loại nguồn bổ sung khác của hợp đồng lập hội có thể bao gồm các loại nguồn được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 như tập quán, án lệ và lẽ công bằng.

Hợp đồng lập hội là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba. Đây là đặc điểm nổi trội nhất của loại hợp đồng này. Khác với hợp đồng mua bán hay hợp đồng dịch vụ, các bên giao kết hợp đồng lập hội không trở thành trái chủ và thụ trái của nhau mà lại trở thành trái chủ và thụ trái của hội do chính sự giao kết hợp đồng của họ tạo lập ra[4]. Tuy nhiên, nội dung cụ thể của đặc điểm này trong hợp đồng lập hội phụ thuộc vào các hình thức pháp lý của hội. Các hình thức này được quy định rất cụ thể đối với thương hội. Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định thương hội có các hình thức: Công ty hợp danh, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Riêng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, đạo luật này nói tới hai loại là công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Như trên đã nói, hội có thể là một hành vi pháp lý, có nghĩa là công ty trách nhiệm hữu hạn là một hợp đồng lập hội; còn công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một hành vi pháp lý đơn phương lập hội. Cách thức tư duy này khác với quan niệm thông thường cho rằng hội là một tổ chức của hai hay nhiều người. Đối với các hình thức công ty nói trên, ta có thể thấy sự khác biệt về nội dung của đặc điểm hợp đồng lập hội là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba giữa hình thức công ty đối nhân và hình thức công ty đối vốn. Đối với công ty hợp danh (công ty đối nhân), khi các thành viên đã cam kết với nhau, thành lập công ty có nghĩa là họ đã rằng buộc với nhau, chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn định với các khoản nợ của công ty. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần (công ty đối vốn), sự ràng buộc lẫn nhau giữa các thành viên công ty bị giảm dần từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần.

Các phân tích ở trên cho thấy, hợp đồng lập hội là một loại hợp đồng quan trọng không thể thiếu được trong đời sống xã hội, do chính nhu cầu khách quan của con người. Đây là một loại hợp đồng có phạm vi tác động sâu rộng, do đó cần phải nghiên cứu bổ sung vào Bộ luật Dân sự để làm nền tảng pháp lý cho các luật chuyên ngành.

Đào Thị Hồng Phương

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nộị

Tài liệu tham khảo:

[1]. Ngô Huy Cương (2015), “Bình luận các quy định về pháp nhân trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)” (tr. 38 - 49), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 38.

[2]. Amy Gutmann (1998), Freedom of Association, Princeton University Press, New Jersey, p. 4.

[3]. Sedex Information Exchange Ltd (2017), “Freedom of Asociation and Collective Bargaining”, Sedex Suplier Workbook, http://www.Sedexglobal.com, p. 1.

[4]. Ngô Huy Cương (2016), Lý thuyết chung về nghĩa vụ, Bài giảng điện tử.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam khi trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp tại Việt Nam Khung pháp lý về mua lại và sáp nhập Ngân hàng thương mại ở Việt Nam Quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất đô thị và hướng hoàn thiện Một số bất cập của pháp luật cạnh tranh hiện hành Định giá tài sản theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự Hoàn thiện các quy định về chế tài trong thương mại theo Luật Thương mại năm 2005 Địa vị pháp lý của Tổ quản lý và thanh lý tài sản theo pháp luật phá sản Những bất cập trong quy định của pháp luật về tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: