Thứ ba 26/05/2026 05:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về án phí thuận tình ly hôn có trái luật?

Tóm tắt: Trong các vụ án dân sự, án phí chính là chế tài, là công cụ thiết yếu góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân. Ngoài ra, án phí cũng tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước và cũng là “biện pháp kinh tế” làm giảm các tranh chấp không đáng có xảy ra trên thực tế. Tuy nhiên, Hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về việc áp dụng án phí thuận tình ly hôn lại không đúng pháp luật nên đã gây ra một số hệ lụy.

Abstract: In civil cases, the court fee is a sanction, an essential tool contributing to improving the sense of law enforcement for the people. In addition, the court fee generated revenue for the state budget and also as an “economic measure” to reduce undue disputes. However, the guidance of the Supreme People's Court on the application of court charges for porce was not in accordance with the law and caused some consequences.


Trong các vụ án dân sự, án phí chính là chế tài, là công cụ thiết yếu góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân. Ngoài ra, án phí cũng tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước và cũng là “biện pháp kinh tế” làm giảm các tranh chấp không đáng có xảy ra trên thực tế. Nếu án phí dân sự được áp dụng đúng pháp luật thì người dân thấy được những chế tài nghiêm minh của pháp luật, cũng như tính công bằng, bình đẳng của pháp luật; góp phần nâng cao lòng tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật của Nhà nước. Do đó, việc áp dụng mức tính án phí thống nhất và phù hợp với các quy định của pháp luật về án phí là rất cần thiết. Thi hành Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 (Nghị quyết số 326), các Tòa án địa phương áp dụng pháp luật về án phí trong trường hợp thuận tình ly hôn chưa thống nhất, còn nhiều quan điểm khác nhau. Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao đã có Công văn số 72/TANDTC-PC ngày 11/4/2017 về việc thống nhất áp dụng quy định về án phí trong vụ án hôn nhân (Công văn số 72). Theo đó, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng các đơn vị Tòa án nhân dân tối cao tổ chức quán triệt tới các thẩm phán, thẩm tra viên, thư ký trong cơ quan, đơn vị mình và Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ để áp dụng thống nhất theo đúng hướng dẫn tại khoản 2 Điều 16 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án (Nghị quyết số 01). Cụ thể, trong vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình thì được xem là các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa và các bên đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định). Căn cứ vào nội dung hướng dẫn như trên của Tòa án nhân dân tối cao thì khi nộp đơn khởi kiện trong một vụ án xin ly hôn, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí bằng với mức án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng[1]. Nếu trong vụ án này, các đương sự thỏa thuận thuận tình ly hôn và các vấn đề khác trong vụ án trước khi mở phiên tòa (tức là hòa giải thành) thì mỗi bên (bên nguyên đơn và bên bị đơn) phải chịu 25% mức án phí quy định. Tổng mức án phí hai bên phải chịu là 50% mức án phí không giá ngạch. Như vậy, trong trường hợp này, nếu tính theo mức án phí của Nghị quyết số 326, bên nguyên đơn (bên người nộp đơn khởi kiện) phải chịu 75.000 đồng án phí, bên bị đơn phải chịu 75.000 đồng án phí. Do khi khởi kiện, bên nguyên đơn đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí, nên họ được hoàn lại 225.000 đồng tiền tạm ứng án phí. Tuy nhiên, để thuận tiện việc thi hành án, thông thường thẩm phán trực tiếp hòa giải thuận tình ly hôn luôn vận động cho bên nguyên đơn chịu toàn bộ án phí, bên bị đơn không phải chịu án phí[2]. Do đó, trong trường hợp này, nguyên đơn tự nguyện 150.000 đồng, nhưng nguyên đơn đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí nên được hoàn lại 150.000 đồng, bị đơn không phải chịu án phí ly hôn. Nếu các Tòa án địa phương thực hiện theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao như trên thì việc hoàn 150.000 đồng tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn rất khó khăn, làm phát sinh thêm việc cho cơ quan thi hành án dân sự; làm thất thoát khoản thu của ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, hướng dẫn theo Nghị quyết số 01 đã không còn phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành về án phí.

Dưới đây, tác giả xin phân tích một số vấn đề liên quan đến giải quyết thuận tình ly hôn để chứng minh hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về án phí thuận tình ly hôn là trái luật:

Về các hình thức giải quyết thuận tình ly hôn tại Tòa án, xét về lý luận và thực tiễn thì thuận tình ly hôn được giải quyết tại Tòa án bằng hai hình thức giải quyết khác nhau: (i) Hai bên đương sự cùng yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một việc dân sự, cả hai vợ chồng đều thuận tình ly hôn trước khi đến nộp đơn tại Tòa án, cả hai vợ chồng cùng đứng đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Khi nộp đơn yêu cầu tại Tòa án thì các đương sự phải nộp “tạm ứng lệ phí” và phải “chịu lệ phí” giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật. (ii) Trong một vụ án ly hôn do một bên vợ hoặc chồng nộp đơn khởi kiện ly hôn với bên kia. Thời điểm trước khi nộp đơn khởi kiện tại Tòa án thì hai bên chưa thuận tình ly hôn, nhưng sau khi một trong hai bên nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, Tòa án tiến hành thủ tục hòa giải, tại buổi hòa giải thì bên còn lại cũng đồng ý ly hôn và hai bên cùng thỏa thuận thuận tình ly hôn và các vấn đề khác trong vụ án đó, thì thẩm phán sẽ ban hành quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự. Khi nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, người khởi kiện phải “nộp tạm ứng án phí” và phải “chịu án phí” theo quy định của pháp luật.

Về trình tự, thủ tục giải quyết thuận tình ly hôn bằng việc dân sự và cách áp dụng lệ phí thuận tình ly hôn:

- Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án (Pháp lệnh số 10): Các đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì phải nộp đơn theo quy định tại Điều 28, Điều 311, 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Khi nộp đơn yêu cầu thì hai vợ chồng cùng phải nộp mức tạm ứng lệ phí là 200.000 đồng[3]. Sau khi nộp đơn và nộp tiền lệ phí theo quy định, Tòa án sẽ tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự để xem xét chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của các đương sự; trong trường hợp này, nếu Tòa án chấp nhận nghĩa là giải quyết công nhận đương sự thuận tình ly hôn thì cả hai vợ chồng cùng phải chịu 200.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm[4].

- Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326, các đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một việc dân sự công nhận thuận tình ly hôn theo thủ tục quy định tại Điều 396 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, khi nộp đơn yêu cầu thì cả hai vợ chồng là người yêu cầu và cả hai vợ chồng phải nộp 300.000 đồng tiền lệ phí[5]. Trong trường hợp này, khi Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ, cả hai vợ chồng đều đồng ý đoàn tụ thì thẩm phán sẽ đình chỉ giải quyết yêu cầu của họ. Nhưng khi hòa giải đoàn tụ không thành thì thẩm phán ra quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, việc ban hành quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự trong trường hợp này tương đồng với việc Tòa án tiến hành mở phiên họp và chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của người yêu cầu, nên mức lệ phí mà hai vợ chồng phải chịu là 300.000 đồng[6]. Mặt khác, nếu hai bên yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn nhưng không thỏa thuận được người có nghĩa vụ chịu lệ phí thì mỗi bên phải chịu 50% mức lệ phí Tòa án[7] (mỗi bên phải chịu 150.000 đồng, tổng mức lệ phí hai vợ chồng phải chịu là 300.000 đồng).

Từ hai trường hợp, cả hai người yêu cầu cùng phải nộp tạm ứng lệ phí và cùng chịu mức lệ phí bằng mức án phí không có giá ngạch, nghĩa là khi thuận tình ly hôn được giải quyết bằng thủ tục giải quyết việc dân sự, mỗi bên phải chịu 50% lệ phí, tổng mức hai bên phải chịu là 100% lệ phí.

Về cách tính án phí thuận tình ly hôn trong vụ án ly hôn:

Khoản 4 Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trong trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm”. Quy định này là quy định được kế thừa từ các quy định trước đó quy về án phí, lệ phí Tòa án[8].

Trên thực tiễn, khi áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, khoản 3 Điều 17 Nghị định số 70-CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án (có hiệu lực đến khi Pháp lệnh số 10 có hiệu lực pháp luật), thì người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí bằng mức không có giá ngạch là 50.000 đồng, nếu trong quá trình giải quyết vụ án, hai bên thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa mức án phí sơ thẩm, tức là mỗi bên chịu 50% mức án phí sơ thẩm. Tổng mức án phí các đương sự phải chịu trong trường hợp này là 100%, trong khi đó, các vụ án dân sự khác nếu hòa giải thành trước khi mở phiên tòa thì các đương sự chỉ chịu tổng cộng 50% án phí[9]. Do vậy, mức án phí thuận tình ly hôn được xem là trường hợp riêng khác với mức án phí dân sự thông thường.

Khi Pháp lệnh số 10 có hiệu lực thi hành thì trong thời gian đầu, các Tòa án địa phương vẫn áp dụng mức án phí thuận tình ly hôn như khoản 4 Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định, mỗi bên phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm. Nghĩa là trong vụ án ly hôn tại thời điểm đó, người khởi kiện ly hôn phải nộp 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí (mức án phí không có giá ngạch), trong quá trình giải quyết vụ án, nếu các đương sự thuận tình ly hôn thì mỗi bên chịu là 50% mức án phí, tức là mỗi bên phải chịu 100.000 đồng án phí, do bên nguyên đơn đã nộp 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí nên được hoàn lại 100.000 đồng tiền tạm ứng, bị đơn phải nộp 100.000 đồng tiền án phí. Tổng số tiền phải thu nộp vào ngân sách là 200.000 đồng.

Tuy nhiên, nếu thực hiện đúng theo quy định này thì khi Tòa án chuyển quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cho cơ quan thi hành án để thi hành quyết định đó, cơ quan thi hành án sẽ hoàn lại cho bên nguyên đơn 100.000 đồng tiền tạm ứng án phí, đồng thời lập hồ sơ thi hành án để tiến hành thu 100.000 đồng án phí đối với bị đơn theo quy định của pháp luật. Việc này làm tốn công sức của cơ quan thi hành án, do đó, khi hòa giải thuận tình ly hôn, thẩm phán thường vận động, giải thích cho nguyên đơn tự nguyện chịu thay phần án phí của bị đơn, nghĩa là nguyên đơn tự nguyện chịu 200.000 đồng án phí và bị đơn không phải chịu án phí nhưng vẫn đảm bảo tổng số tiền án phí thu nộp ngân sách vẫn là 200.000 đồng.

Sau thời gian đầu áp dụng cách tính án phí thuận tình ly hôn như trên nhưng khoản 4 Điều 27 Pháp lệnh số 10 quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Như vậy, Pháp lệnh số 10 đã bỏ quy định “trong trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm”, nên lúc này việc áp dụng án phí thuận tình ly hôn xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau. Chính vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01 để hướng dẫn Pháp lệnh số 10. Theo đó, khoản 2 Điều 16 của Nghị quyết số 01 đã hướng dẫn: “Trong vụ án ly hôn mà các đương sự thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 90 của Luật Hôn nhân và gia đình 2000 thì được xem là các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên Tòa theo quy định tại khoản 11 Điều 27 của Pháp lệnh và các đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định)”, như vậy, mỗi bên vợ, chồng chịu 50.000 đồng án phí, tổng cộng hai vợ chồng chịu 100.000 đồng án phí, tương ứng mức án phí các đương sự phải chịu là 50% án phí. Trong trường hợp này, nguyên đơn sẽ được khấu trừ 50.000 đồng vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp nên được hoàn lại 150.000 đồng tiền tạm ứng án phí. Đồng thời, bị đơn phải nộp 50.000 đồng án phí.

Có thể nhận thấy, Pháp lệnh số 10 bỏ quy định cụ thể là “trong trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm”, không còn xem trường hợp thuận tình ly hôn là trường hợp đặc biệt như quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 là trái với đạo luật gốc vì các quy định về án phí phải dựa trên các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi Pháp lệnh số 10 có hiệu lực, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01 hướng dẫn cách tính án phí thuận tình ly hôn như đã nêu trên. Chính quy định này đã làm triệt tiêu đi trường hợp thuận tình ly hôn bằng thủ tục việc dân sự tại thời điểm đó vì:

- Trong thủ tục yêu cầu giải quyết thuận tình ly hôn bằng việc dân sự, mỗi người yêu cầu phải nộp 100.000 đồng tạm ứng, tổng mức tạm ứng lệ phí là 200.000 đồng[10]. Sau đó, Tòa án tiến hành thủ tục mở phiên họp giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của hai vợ chồng, Tòa án đã chấp nhận đơn yêu cầu và mỗi người phải chịu 100.000 đồng lệ phí. Tổng số tiền mà hai vợ chồng phải nộp vào ngân sách nhà nước là 200.000 đồng.

- Trong khi đó, trường hợp thuận tình ly hôn bằng một vụ án ly hôn thì mỗi bên chịu 25% án phí, tức là 50.000 đồng, tổng mức án phí hai bên phải chịu là 100.000 đồng. Như vậy, nếu thuận tình ly hôn bằng một vụ án thì đương sự sẽ ít tốn kém hơn 100.000 đồng.

Xuất phát từ những bất cập của Pháp lệnh số 10 và Nghị quyết số 01 nên Nghị quyết số 326 đã khôi phục lại tính chất đặc biệt của án phí thuận tình ly hôn theo đúng quy định gốc của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Cụ thể, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 đã quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí”. Quy định này là kế thừa từ những quy định về án phí, lệ phí theo khoản 4 Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004; khoản 3 Nghị định số 117-CP ngày 07/9/1994 về án phí và lệ phí Tòa án; khoản 3 Điều 11 Nghị định số 70-CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án và theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nó khác hoàn toàn so với quy định tại Pháp lệnh số 10. Do đó, những nội dung hướng dẫn tại Pháp lệnh số 10 sẽ không có giá trị hướng dẫn thi hành đối với Nghị quyết số 326.

Mặt khác, một số ý kiến lại cho rằng, việc áp dụng án phí thuận tình ly hôn như hiện nay vẫn còn mâu thuẫn nhau do khoản 7 Điều 26 Nghị quyết số 326 (nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm) và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 (nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong một số loại việc cụ thể) là “đá nhau”, khiến tòa này hiểu đương sự ly hôn chỉ nộp 75.000 đồng án phí, tòa kia lại cho rằng phải nộp 150.000 đồng… dẫn đến việc áp dụng pháp luật về án phí đối với trường hợp thuận tình ly hôn không thống nhất. Theo tác giả, hai quy định này không hề mâu thuẫn nhau vì khoản 7 Điều 26 Nghị quyết số 326 là quy định về nghĩa vụ chịu án phí đối với các vụ án dân sự nói chung, nó được hiểu là dân sự nghĩa rộng, còn quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326 là quy định riêng cho từng trường hợp cụ thể mang tính chất đặc thù chỉ được áp dụng đối với các vụ án ly hôn và thuận tình ly hôn. Do đó, khi áp dụng pháp luật, nếu trường hợp nào có quy định riêng thì chúng ta phải ưu tiên áp dụng quy định pháp luật đó, trường hợp nào không có quy định riêng, đặc thù thì chúng ta áp dụng quy định chung.

Từ những phân tích như trên cho thấy rằng, Pháp lệnh số 10 ban hành là văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, những quy định về án phí thuận tình ly hôn tại Pháp lệnh số 10 phải đảm bảo đầy đủ, đúng với đạo luật gốc (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004) nhưng Pháp lệnh số 10 lại bỏ sót quy định “trong trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm” do đạo luật gốc quy định. Vậy việc bỏ sót này là một sai sót lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc áp dụng án phí thuận tình ly hôn trong thời gian dài, nó dẫn đến việc công tác thi hành án dân sự vốn đã quá tải, càng trở nên quá tải hơn, mặt khác, với quy định này đã làm tốn kém chi phí thi hành án, tốn kém chi phí hoàn tiền tạm ứng cho đương sự, làm thất thoát khoản thu vào ngân sách nhà nước. Nghị quyết số 326 được ban hành đã bảo đảm được sự phù hợp, tuy nhiên, do một số người thực thi pháp luật chưa nắm vững pháp luật nên còn lúng túng, chưa thống nhất quy định này, nên Tòa án nhân dân tối cao đã vội vàng ban hành Công văn số 72 để hướng dẫn. Việc hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao như Công văn số 72 là chưa đúng với tinh thần của Nghị quyết số 326 và chưa phù hợp với các quy định pháp luật vì Nghị quyết số 01 là văn bản hướng dẫn Pháp lệnh số 10, trong khi đó, giữa Pháp lệnh số 10 và Nghị quyết số 326 có quy định khác nhau nên không thể lấy Nghị quyết số 01 để hướng dẫn Nghị quyết số 326 được. Từ những bất cập, vướng mắc như đã nêu trên, thiết nghĩ Tòa án nhân dân tôi cao cần thu hồi Công văn số 72; đồng thời khẩn trương nghiên cứu văn bản hướng dẫn về trường hợp này theo hướng “trong trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí” phù với quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326.

Huỳnh Minh Khánh

Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang


[1] Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 326: “Mức tạm ứng án phí dân sự sở thẩm trong vụ án dân sự không có giá ngạch bằng mức án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch”.

[2] Cơ quan thi hành án sẽ không phải thi hành án chủ động (phần án phí) mà bị đơn phải chịu.

[3] Khoản 1 Điều 39 Pháp lệnh số10.

[4] Khoản 2 Điều 39 Pháp lệnh số 10.

[5] Khoản 5 Điều 7 Nghị quyết số 326: “Mức tạm ứng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự bằng mức lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự”.

[6] Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326 hướng dẫn Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[7] Khoản 3 Điều 37 Nghị quyết 326: “… Trường hợp vợ, chồng không không thỏa thuận được người có nghĩa vụ chịu lệ phí Tòa án thì mỗi người phải chịu 50% mức lệ phí Tòa án”.

[8] Khoản 3 Nghị định số 117-CP ngày 07/9/1994 về án phí, lệ phí Tòa án; khoản 3 Điều 11 Nghị định số 70-CP ngày 12/6/1997 về án phí, lệ phí Tòa án.

[9] Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 70-CP ngày 12/6/1997 về án phí, lệ phí Tòa án: “Nếu trước khi mở phiên tòa, Tòa án tiến hành hòa giải mà các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thì các đương sự chỉ phải chịu 50% mức án phí quy định tại Điều 7 của Nghị định này. Các đương sự có thể thỏa thuận với nhau về mức án phí mà mỗi bên phải chịu; nếu họ không thỏa thuận được, thì Tòa án quyết định”.

[10] Theo hướng dẫn tại điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01: “Trường hợp cả vợ và chồng cùng có yêu cầu thì mỗi người phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 100.000 đồng”.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại Vướng mắc trong thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thụ lý ly hôn Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào? Mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không? Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: