Thứ bảy 30/05/2026 22:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kết hôn khi một trong hai bên hoặc cả hai bên bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi và hướng giải quyết

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, một trong những điều kiện kết hôn là không bị mất năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, từ quy định của pháp luật dân sự có thể thấy rằng, chỉ những người bị Tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự thì mới không được kết hôn, còn trường hợp những người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi nhưng chưa có quyết định của Tòa án thì vẫn được kết hôn.

Chính điều này đã gây ra một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết của cơ quan chức năng khi không thể thực hiện hủy kết hôn trái pháp luật do không có cơ sở pháp luật, còn nếu qua thủ tục đề nghị Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự và sau đó mới giải quyết ly hôn thì tốn kém về kinh tế, thời gian, công sức của chủ thể, trong khi đó, nếu muốn giải quyết theo thủ tục thuận tình ly hôn thì cũng chỉ áp dụng đối với trường hợp hai bên gia đình phải cùng thống nhất được việc giải quyết ly hôn. Trong bài viết, tác giả phân tích những khó khăn, bất cập đối với trường hợp các chủ thể không đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi khi đăng ký kết hôn, từ đó đề xuất hướng giải quyết.

1. Một số vướng mắc trong trường hợp các chủ thể không đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi khi đăng ký kết hôn

Trước đây, theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự thuộc diện cấm kết hôn. Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không đưa vào trường hợp cấm nữa mà là một điều kiện kết hôn. Sở dĩ pháp luật không cho phép những người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn bởi vì mục đích của hôn nhân chính là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vì vậy, nếu những người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn sẽ không đảm bảo được mục đích của hôn nhân. Có quan điểm cho rằng, “đối tượng này không nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, không bày tỏ được ý chí, nên không thỏa mãn điều kiện kết hôn là tự nguyện, không đạt được mục đích của việc kết hôn. Mặt khác, nếu cho đối tượng này được kết hôn vừa không đảm bảo nòi giống vừa rất dễ bị lợi dụng”[1]. Ngoài ra, khi nam, nữ kết hôn sẽ làm phát sinh quan hệ hôn nhân và gia đình, phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình và nếu cho phép những người này kết hôn thì họ không thể làm trọn nghĩa vụ trong gia đình. Hơn nữa, bệnh tâm thần có tính di truyền cao nên không cho phép người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là hoàn toàn phù hợp. “Đây là giải pháp khá riêng của luật Việt Nam, bởi trong luật của nhiều nước, người mất năng lực hành vi không bị mất năng lực kết hôn: Luật của Pháp thừa nhận rằng, người mất năng lực hành vi vẫn có thể kết hôn một khi có ý kiến thuận lợi của bác sĩ điều trị và sự cho phép của gia đình”[2].

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần” (khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015). Rõ ràng, nếu căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chỉ có những người đã có quyết định của Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự mới bị cấm kết hôn, còn đối với những người dù có bị bệnh tâm thần hay bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình nhưng chưa có quyết định của Tòa án thì vẫn có thể kết hôn. Với quy định này, đã làm phát sinh nhiều hậu quả đáng tiếc xảy ra và hành vi kết hôn của những người này xét dưới góc độ pháp luật không phải là kết hôn trái pháp luật. Điều này đồng nghĩa với việc Tòa án sẽ không có cơ sở để xem xét yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Về cơ bản, mục đích của việc kết hôn là sự chia sẻ, giúp đỡ và cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Nếu như ở mức độ bệnh nhẹ thì việc san sẻ giữa vợ, chồng là một điều khó khăn và trách nhiệm về các vấn đề kinh tế con cái sẽ đè nặng lên vai của người còn lại. Còn nếu trong trường hợp người bị bệnh nặng, bên cạnh những khó khăn đó còn để lại cho người vợ hoặc chồng những bất an, lo lắng và thậm chí có thể ảnh hưởng tới tính mạng xuất phát từ tình trạng không thể nhận thức được lời nói cũng như hành động của người bệnh. Khi rơi vào trường hợp này, người vợ hoặc chồng không thể tiếp tục chung sống và thường có mong muốn ly hôn. Tuy nhiên, việc muốn ly hôn đối với những trường hợp này không phải đơn giản và nếu muốn yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật cũng là điều không thể vì không có căn cứ để hủy.

Chẳng hạn, Tòa án nhân dân huyện B, thành phố H đã thụ lý đơn xin ly hôn của chị N.T.Y và anh T với nội dung như sau: Chị Y quen biết anh T trong một lần tới ngân hàng, khi đó anh T là nhân viên giao dịch tại ngân hàng. Sau 04 tháng tìm hiểu, hai người đã kết hôn. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng của họ thường xuyên cãi vã, xô xát do anh T liên tục ghen tuông vô cớ và thường xuyên giấu quần áo của chị Y và không cho chị mặc đi làm. Hơn nữa, anh T thường xuyên tính toán sai và hay quát nạt khách hàng một cách vô cớ nên anh T đã bị đuổi việc. Lúc bấy giờ, gia đình anh T thừa nhận rằng, anh T có tiền sử bị bệnh tâm thần sau cú sốc thi trượt đại học và gia đình chạy chữa nhưng không khỏi. Sau ba năm kết hôn, chị Y cảm thấy không thể kéo dài đời sống hôn nhân với người chồng mắc bệnh tâm thần. Qua quá trình tìm hiểu vụ việc, khi biết tin chị Y sẽ ly hôn với lý do anh T bị bệnh tâm thần thì gia đình đã đưa anh T về quê để giấu chị Y[3]. Như vậy, rõ ràng đời sống hôn nhân của chị Y và anh T không có sự yêu thương, giúp đỡ, chia sẻ trọn vẹn với nhau và thường xuyên có những biểu hiện, triệu chứng của bệnh tâm thần khiến chị Y hoang mang, lo sợ.

Trong thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp, người chồng có biểu hiện mất năng lực hành vi, chỉ biết gật và lắc đầu khi Tòa án hỏi, biểu hiện này có từ trước khi kết hôn, sau nhiều năm chung sống, người vợ không chịu được nữa nên đã làm đơn xin ly hôn. Tòa án mời đại diện gia đình của người chồng đến trao đổi thì đại diện gia đình cũng thống nhất đề nghị Tòa giải quyết cho vợ chồng họ được ly hôn. Vì không có quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với người chồng của Tòa án tại thời điểm kết hôn nên không thực hiện được thủ tục hủy kết hôn trái pháp luật. Còn nếu qua thủ tục đề nghị Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, sau đó mới giải quyết ly hôn thì tốn kém về kinh tế, thời gian, công sức cho người vợ. Vì vậy, Tòa án thường giải thích pháp luật để người vợ cũng như đại diện gia đình người chồng lựa chọn phương án giải quyết theo thủ tục thuận tình ly hôn và ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự[4]. Tuy nhiên, phương án này chỉ áp dụng đối với trường hợp người vợ và bên gia đình người mất năng lực hành vi cùng thống nhất việc giải quyết ly hôn.

Còn giả sử như, trường hợp bà A muốn con là Nguyễn Văn B ly hôn vì anh B có biểu hiện của người mất năng lực hành vi dân sự từ bé. Anh B đã kết hôn với chị Lê Thị T. Sau khi kết hôn, chị T đối xử tệ bạc với anh B và gia đình nhà chồng nên bà A không chịu được nữa. Vì vậy, bà A muốn cho anh B ly hôn chị T. Nhưng bà A không có giấy tờ gì chứng minh anh B mất năng lực hành vi dân sự từ khi kết hôn. Nếu yêu cầu Tòa án tuyên bố anh B mất năng lực hành vi dân sự thì người mất năng lực hành vi dân sự cũng không được làm đơn xin ly hôn. Việc hủy hôn trong trường hợp này cũng không có tính khả thi.

Có thể thấy rằng, việc kết hôn với những người có tình trạng bệnh tâm thần, mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để lại nhiều hậu quả đau thương cho cả hai người và cho cả con cái của họ. Do đó, cần phải có những quy định chặt chẽ hơn về điều kiện đăng ký kết hôn. Thực tế cho thấy, nhiều vụ việc, Tòa án thụ lý giải quyết theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền hủy kết hôn do người chồng/vợ bị bệnh tâm thần nhưng bản thân đương sự, gia đình đã phản đối và Ủy ban nhân dân nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cũng đã không đồng ý với quyết định của Tòa án vì cho rằng, việc kết hôn trong trường hợp này là đúng luật.

2. Đề xuất hướng giải quyết

Có thể khẳng định rằng, quan hệ hôn nhân của người bị Tòa án tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự là kết hôn trái pháp luật. Với quy định về việc xác định cá nhân mất năng lực hành vi dân sự như hiện nay cho phép chúng ta hiểu, nếu như một người xét dưới góc độ thực tế là người mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa có quyết định của Tòa án thì mặc nhiên việc kết hôn của họ không bị xem là kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, theo tác giả, dù chưa có quyết định của Tòa án thì việc kết hôn của những người đó vẫn bị xem là kết hôn trái pháp luật và vẫn có thể bị hủy, bởi vì, thủ tục đăng ký kết hôn yêu cầu cả hai bên kết hôn phải tới cơ quan nhà nước trước sự chứng giám của cơ quan hộ tịch và trong khả năng có thể, cơ quan hộ tịch có thể nhận diện được người đó có khả năng mất năng lực hành vi dân sự hay không. Để đảm bảo được quy định về điều kiện đăng ký kết hôn đối với những chủ thể mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện một cách nghiêm minh, tác giả đưa ra hướng giải quyết cụ thể như sau:

Thay vì quy định không cho phép người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn thì quy định những người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình cũng không được phép kết hôn. Hay nói cách khác, trong trường hợp một cá nhân dưới góc độ thực tế đã rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa có quyết định của Tòa án thì những trường hợp này cũng không được phép kết hôn. Nếu như những trường hợp này đăng ký kết hôn thì cũng xem như là kết hôn trái pháp luật và phải xử lý. Tuy nhiên, với quy định như vậy thì cũng rất khó để cho cán bộ hộ tịch xác định chính xác một cá nhân có mất khả năng nhận thức thực sự hay không? Vấn đề này đòi hỏi về mặt hồ sơ đăng ký kết hôn cần có thêm yêu cầu về giấy khám sức khỏe tiền hôn nhân. Thiết nghĩ, trong hồ sơ đăng ký kết hôn nên có quy định phải có giấy khám sức khỏe. Nếu kết quả khám sức khỏe thể hiện chủ thể mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình thì không được phép kết hôn.

Những quy định về điều kiện sức khỏe khi đăng ký kết hôn đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình trước đây, cụ thể, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: “Những người bất lực hoàn toàn về sinh lý; mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc, mà chưa chữa khỏi thì không được kết hôn”. Hay điểm b Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: “Cấm kết hôn trong những trường hợp đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu”. Khoản 1 Điều 6 Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993 cũng quy định: “Không được kết hôn khi bị nhiễm HIV”. Hiện nay, pháp luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài yêu cầu trong hồ sơ phải có giấy xác nhận tình trạng sức khỏe. Cụ thể, điểm c khoản 1 Điều 20 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định một trong những loại giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn đó là: “Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá sáu tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình”.

Như vậy, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, pháp luật yêu cầu phải là người không mất năng lực hành vi dân sự, tức là, đã có quyết định của Tòa án mà những trường hợp mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khắc không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cũng không được phép kết hôn. Để có căn cứ không cho phép những trường hợp này kết hôn, pháp luật đã yêu cầu phải có giấy xác nhận tình trạng sức khỏe của người đi đăng ký kết hôn. Theo tác giả, việc đăng ký kết hôn giữa các công dân Việt Nam cũng nên quy định như vậy.

Với việc sửa đổi theo hướng cần có yêu cầu đủ sức khỏe để đăng ký kết hôn, cán bộ hộ tịch có thể căn cứ vào biểu hiện của người kết hôn mà yêu cầu giấy chứng nhận sức khỏe. Từ đó, có thể xác định được trường hợp kết hôn trái pháp luật do vi phạm điều kiện kết hôn và có căn cứ để Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật. Thiết nghĩ, việc sửa đổi này là cần thiết để đảm bảo cho một quan hệ hôn nhân đúng nghĩa. Các bên không có nhận thức và không thực hiện được trách nhiệm làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ nếu cho phép họ kết hôn sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khỏe của vợ, chồng và con cái họ.

ThS. Nguyễn Thị Phương

Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh



[1]. Tiến Long & Duy Kiên (2013), “Một số vấn đề về điều kiện kết hôn và hướng xử lý những trường hợp kết hôn vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình hoặc chung sống với nhau như vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và những kiến nghị”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1, tr. 9.

[2]. Nguyễn Ngọc Điện, “Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình” tập 1, truy cập tại địa chỉ: https://tailieu.vn/doc/ giao-trinh-luat-hon-nhan-va-gia-dinh-tap-1-nguyen-ngoc-dien-1390430.html, truy cập ngày 06/4/2019, tr. 7.

[3]. Tuyết Dân, “Kết hôn… với người bệnh tâm thần”, đăng tại https://www.giaoduc.edu.vn/ket-hon-voi-nguoi-benh-tam-than.htm, truy cập ngày 09/6/2020.

[4]. Phạm Thị Lan Anh (2014), Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 - Vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn thạc sĩ, tr. 82.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: