Thứ ba 22/09/2026 19:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kết hôn khi một trong hai bên hoặc cả hai bên bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi và hướng giải quyết

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, một trong những điều kiện kết hôn là không bị mất năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, từ quy định của pháp luật dân sự có thể thấy rằng, chỉ những người bị Tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự thì mới không được kết hôn, còn trường hợp những người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi nhưng chưa có quyết định của Tòa án thì vẫn được kết hôn.

Chính điều này đã gây ra một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết của cơ quan chức năng khi không thể thực hiện hủy kết hôn trái pháp luật do không có cơ sở pháp luật, còn nếu qua thủ tục đề nghị Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự và sau đó mới giải quyết ly hôn thì tốn kém về kinh tế, thời gian, công sức của chủ thể, trong khi đó, nếu muốn giải quyết theo thủ tục thuận tình ly hôn thì cũng chỉ áp dụng đối với trường hợp hai bên gia đình phải cùng thống nhất được việc giải quyết ly hôn. Trong bài viết, tác giả phân tích những khó khăn, bất cập đối với trường hợp các chủ thể không đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi khi đăng ký kết hôn, từ đó đề xuất hướng giải quyết.

1. Một số vướng mắc trong trường hợp các chủ thể không đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi khi đăng ký kết hôn

Trước đây, theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự thuộc diện cấm kết hôn. Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không đưa vào trường hợp cấm nữa mà là một điều kiện kết hôn. Sở dĩ pháp luật không cho phép những người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn bởi vì mục đích của hôn nhân chính là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vì vậy, nếu những người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn sẽ không đảm bảo được mục đích của hôn nhân. Có quan điểm cho rằng, “đối tượng này không nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, không bày tỏ được ý chí, nên không thỏa mãn điều kiện kết hôn là tự nguyện, không đạt được mục đích của việc kết hôn. Mặt khác, nếu cho đối tượng này được kết hôn vừa không đảm bảo nòi giống vừa rất dễ bị lợi dụng”[1]. Ngoài ra, khi nam, nữ kết hôn sẽ làm phát sinh quan hệ hôn nhân và gia đình, phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình và nếu cho phép những người này kết hôn thì họ không thể làm trọn nghĩa vụ trong gia đình. Hơn nữa, bệnh tâm thần có tính di truyền cao nên không cho phép người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là hoàn toàn phù hợp. “Đây là giải pháp khá riêng của luật Việt Nam, bởi trong luật của nhiều nước, người mất năng lực hành vi không bị mất năng lực kết hôn: Luật của Pháp thừa nhận rằng, người mất năng lực hành vi vẫn có thể kết hôn một khi có ý kiến thuận lợi của bác sĩ điều trị và sự cho phép của gia đình”[2].

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần” (khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015). Rõ ràng, nếu căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chỉ có những người đã có quyết định của Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự mới bị cấm kết hôn, còn đối với những người dù có bị bệnh tâm thần hay bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình nhưng chưa có quyết định của Tòa án thì vẫn có thể kết hôn. Với quy định này, đã làm phát sinh nhiều hậu quả đáng tiếc xảy ra và hành vi kết hôn của những người này xét dưới góc độ pháp luật không phải là kết hôn trái pháp luật. Điều này đồng nghĩa với việc Tòa án sẽ không có cơ sở để xem xét yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Về cơ bản, mục đích của việc kết hôn là sự chia sẻ, giúp đỡ và cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Nếu như ở mức độ bệnh nhẹ thì việc san sẻ giữa vợ, chồng là một điều khó khăn và trách nhiệm về các vấn đề kinh tế con cái sẽ đè nặng lên vai của người còn lại. Còn nếu trong trường hợp người bị bệnh nặng, bên cạnh những khó khăn đó còn để lại cho người vợ hoặc chồng những bất an, lo lắng và thậm chí có thể ảnh hưởng tới tính mạng xuất phát từ tình trạng không thể nhận thức được lời nói cũng như hành động của người bệnh. Khi rơi vào trường hợp này, người vợ hoặc chồng không thể tiếp tục chung sống và thường có mong muốn ly hôn. Tuy nhiên, việc muốn ly hôn đối với những trường hợp này không phải đơn giản và nếu muốn yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật cũng là điều không thể vì không có căn cứ để hủy.

Chẳng hạn, Tòa án nhân dân huyện B, thành phố H đã thụ lý đơn xin ly hôn của chị N.T.Y và anh T với nội dung như sau: Chị Y quen biết anh T trong một lần tới ngân hàng, khi đó anh T là nhân viên giao dịch tại ngân hàng. Sau 04 tháng tìm hiểu, hai người đã kết hôn. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng của họ thường xuyên cãi vã, xô xát do anh T liên tục ghen tuông vô cớ và thường xuyên giấu quần áo của chị Y và không cho chị mặc đi làm. Hơn nữa, anh T thường xuyên tính toán sai và hay quát nạt khách hàng một cách vô cớ nên anh T đã bị đuổi việc. Lúc bấy giờ, gia đình anh T thừa nhận rằng, anh T có tiền sử bị bệnh tâm thần sau cú sốc thi trượt đại học và gia đình chạy chữa nhưng không khỏi. Sau ba năm kết hôn, chị Y cảm thấy không thể kéo dài đời sống hôn nhân với người chồng mắc bệnh tâm thần. Qua quá trình tìm hiểu vụ việc, khi biết tin chị Y sẽ ly hôn với lý do anh T bị bệnh tâm thần thì gia đình đã đưa anh T về quê để giấu chị Y[3]. Như vậy, rõ ràng đời sống hôn nhân của chị Y và anh T không có sự yêu thương, giúp đỡ, chia sẻ trọn vẹn với nhau và thường xuyên có những biểu hiện, triệu chứng của bệnh tâm thần khiến chị Y hoang mang, lo sợ.

Trong thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp, người chồng có biểu hiện mất năng lực hành vi, chỉ biết gật và lắc đầu khi Tòa án hỏi, biểu hiện này có từ trước khi kết hôn, sau nhiều năm chung sống, người vợ không chịu được nữa nên đã làm đơn xin ly hôn. Tòa án mời đại diện gia đình của người chồng đến trao đổi thì đại diện gia đình cũng thống nhất đề nghị Tòa giải quyết cho vợ chồng họ được ly hôn. Vì không có quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với người chồng của Tòa án tại thời điểm kết hôn nên không thực hiện được thủ tục hủy kết hôn trái pháp luật. Còn nếu qua thủ tục đề nghị Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, sau đó mới giải quyết ly hôn thì tốn kém về kinh tế, thời gian, công sức cho người vợ. Vì vậy, Tòa án thường giải thích pháp luật để người vợ cũng như đại diện gia đình người chồng lựa chọn phương án giải quyết theo thủ tục thuận tình ly hôn và ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự[4]. Tuy nhiên, phương án này chỉ áp dụng đối với trường hợp người vợ và bên gia đình người mất năng lực hành vi cùng thống nhất việc giải quyết ly hôn.

Còn giả sử như, trường hợp bà A muốn con là Nguyễn Văn B ly hôn vì anh B có biểu hiện của người mất năng lực hành vi dân sự từ bé. Anh B đã kết hôn với chị Lê Thị T. Sau khi kết hôn, chị T đối xử tệ bạc với anh B và gia đình nhà chồng nên bà A không chịu được nữa. Vì vậy, bà A muốn cho anh B ly hôn chị T. Nhưng bà A không có giấy tờ gì chứng minh anh B mất năng lực hành vi dân sự từ khi kết hôn. Nếu yêu cầu Tòa án tuyên bố anh B mất năng lực hành vi dân sự thì người mất năng lực hành vi dân sự cũng không được làm đơn xin ly hôn. Việc hủy hôn trong trường hợp này cũng không có tính khả thi.

Có thể thấy rằng, việc kết hôn với những người có tình trạng bệnh tâm thần, mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để lại nhiều hậu quả đau thương cho cả hai người và cho cả con cái của họ. Do đó, cần phải có những quy định chặt chẽ hơn về điều kiện đăng ký kết hôn. Thực tế cho thấy, nhiều vụ việc, Tòa án thụ lý giải quyết theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền hủy kết hôn do người chồng/vợ bị bệnh tâm thần nhưng bản thân đương sự, gia đình đã phản đối và Ủy ban nhân dân nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cũng đã không đồng ý với quyết định của Tòa án vì cho rằng, việc kết hôn trong trường hợp này là đúng luật.

2. Đề xuất hướng giải quyết

Có thể khẳng định rằng, quan hệ hôn nhân của người bị Tòa án tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự là kết hôn trái pháp luật. Với quy định về việc xác định cá nhân mất năng lực hành vi dân sự như hiện nay cho phép chúng ta hiểu, nếu như một người xét dưới góc độ thực tế là người mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa có quyết định của Tòa án thì mặc nhiên việc kết hôn của họ không bị xem là kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, theo tác giả, dù chưa có quyết định của Tòa án thì việc kết hôn của những người đó vẫn bị xem là kết hôn trái pháp luật và vẫn có thể bị hủy, bởi vì, thủ tục đăng ký kết hôn yêu cầu cả hai bên kết hôn phải tới cơ quan nhà nước trước sự chứng giám của cơ quan hộ tịch và trong khả năng có thể, cơ quan hộ tịch có thể nhận diện được người đó có khả năng mất năng lực hành vi dân sự hay không. Để đảm bảo được quy định về điều kiện đăng ký kết hôn đối với những chủ thể mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện một cách nghiêm minh, tác giả đưa ra hướng giải quyết cụ thể như sau:

Thay vì quy định không cho phép người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn thì quy định những người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình cũng không được phép kết hôn. Hay nói cách khác, trong trường hợp một cá nhân dưới góc độ thực tế đã rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa có quyết định của Tòa án thì những trường hợp này cũng không được phép kết hôn. Nếu như những trường hợp này đăng ký kết hôn thì cũng xem như là kết hôn trái pháp luật và phải xử lý. Tuy nhiên, với quy định như vậy thì cũng rất khó để cho cán bộ hộ tịch xác định chính xác một cá nhân có mất khả năng nhận thức thực sự hay không? Vấn đề này đòi hỏi về mặt hồ sơ đăng ký kết hôn cần có thêm yêu cầu về giấy khám sức khỏe tiền hôn nhân. Thiết nghĩ, trong hồ sơ đăng ký kết hôn nên có quy định phải có giấy khám sức khỏe. Nếu kết quả khám sức khỏe thể hiện chủ thể mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình thì không được phép kết hôn.

Những quy định về điều kiện sức khỏe khi đăng ký kết hôn đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình trước đây, cụ thể, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: “Những người bất lực hoàn toàn về sinh lý; mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc, mà chưa chữa khỏi thì không được kết hôn”. Hay điểm b Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: “Cấm kết hôn trong những trường hợp đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu”. Khoản 1 Điều 6 Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993 cũng quy định: “Không được kết hôn khi bị nhiễm HIV”. Hiện nay, pháp luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài yêu cầu trong hồ sơ phải có giấy xác nhận tình trạng sức khỏe. Cụ thể, điểm c khoản 1 Điều 20 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định một trong những loại giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn đó là: “Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá sáu tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình”.

Như vậy, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, pháp luật yêu cầu phải là người không mất năng lực hành vi dân sự, tức là, đã có quyết định của Tòa án mà những trường hợp mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khắc không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cũng không được phép kết hôn. Để có căn cứ không cho phép những trường hợp này kết hôn, pháp luật đã yêu cầu phải có giấy xác nhận tình trạng sức khỏe của người đi đăng ký kết hôn. Theo tác giả, việc đăng ký kết hôn giữa các công dân Việt Nam cũng nên quy định như vậy.

Với việc sửa đổi theo hướng cần có yêu cầu đủ sức khỏe để đăng ký kết hôn, cán bộ hộ tịch có thể căn cứ vào biểu hiện của người kết hôn mà yêu cầu giấy chứng nhận sức khỏe. Từ đó, có thể xác định được trường hợp kết hôn trái pháp luật do vi phạm điều kiện kết hôn và có căn cứ để Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật. Thiết nghĩ, việc sửa đổi này là cần thiết để đảm bảo cho một quan hệ hôn nhân đúng nghĩa. Các bên không có nhận thức và không thực hiện được trách nhiệm làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ nếu cho phép họ kết hôn sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khỏe của vợ, chồng và con cái họ.

ThS. Nguyễn Thị Phương

Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh



[1]. Tiến Long & Duy Kiên (2013), “Một số vấn đề về điều kiện kết hôn và hướng xử lý những trường hợp kết hôn vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình hoặc chung sống với nhau như vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và những kiến nghị”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1, tr. 9.

[2]. Nguyễn Ngọc Điện, “Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình” tập 1, truy cập tại địa chỉ: https://tailieu.vn/doc/ giao-trinh-luat-hon-nhan-va-gia-dinh-tap-1-nguyen-ngoc-dien-1390430.html, truy cập ngày 06/4/2019, tr. 7.

[3]. Tuyết Dân, “Kết hôn… với người bệnh tâm thần”, đăng tại https://www.giaoduc.edu.vn/ket-hon-voi-nguoi-benh-tam-than.htm, truy cập ngày 09/6/2020.

[4]. Phạm Thị Lan Anh (2014), Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 - Vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn thạc sĩ, tr. 82.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: