Thứ sáu 11/09/2026 05:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kết quả 5 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp và 4 năm thi hành Nghị định số 111/2010/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Sau khi Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 có hiệu lực thi hành, để triển khai thực hiện và nâng cao hiệu quả công tác cấp phiếu lý lịch tư pháp và công tác xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin lý lịch tư pháp, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan trong việc xác minh, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị về việc triển khai thực hiện Luật Lý lịch tư pháp trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 4660/QĐ-UBND về việc ban hành kế hoạch triển khai thực hiện chiến lược phát triển lý lịch tư pháp đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2013 - 2015 và phân công trách nhiệm cụ thể cho các ngành có liên quan triển khai thực hiện.

1. Các giải pháp đồng bộ đã làm tăng cường mối quan hệ phối hợp

Xác định để luật sớm đi vào cuộc sống, Sở Tư pháp với trách nhiệm cơ quan tham mưu giúp UBND tỉnh trong tổ chức thực hiện, đã phối hợp với các ngành liên quan tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các nội dung cơ bản của Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn liên quan bằng nhiều hình thức như: Tổ chức hội nghị quán triệt cấp tỉnh; tổ chức các đợt tập huấn chuyên sâu cho các đối tượng liên quan; phát hành tập san pháp luật chuyên đề; thông qua “Ngày pháp luật” tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức cuộc thi cải cách hành chính của tỉnh...; thông qua các cuộc tuyên truyền giúp cán bộ, công chức và nhân dân nắm được những nội dung cơ bản của các văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp để thực hiện việc yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp (LLTP) khi có nhu cầu theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Công tác cấp phiếu LLTP cho cá nhân, tổ chức có yêu cầu đã được thực hiện nghiêm túc. Từ ngày 01/7/2010 đến nay, Sở Tư pháp đã phối hợp với công an tỉnh thụ lý 53.759 hồ sơ yêu cầu và cấp 53.750 phiếu LLTP cho công dân. Một trong những kết quả nổi bật của Sở Tư pháp và các ngành trong lĩnh vực này là nỗ lực thực hiện việc cải cách thủ tục hành chính trong công tác cấp phiếu LLTP cho công dân. Việc tiếp nhận hồ sơ yêu cầu cấp phiếu của công dân được thực hiện bằng 3 hình thức: Trực tiếp tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả theo cơ chế một cửa; qua dịch vụ bưu chính hoặc qua mạng trực tuyến. Kết quả sẽ được trả trực tiếp tại bộ phận một cửa hoặc qua hệ thống bưu chính. Từ tháng 6/2016, Sở Tư pháp đã tích cực phối hợp với Công an tỉnh giảm thời hạn cấp phiếu LLTP cho công dân từ 15 ngày làm việc xuống 7 ngày làm việc.
Để khắc phục tình trạng chậm cấp phiếu LLTP cho công dân trong một số trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 47 Luật Lý lịch tư pháp khi phải tra cứu tại Công an tỉnh, Sở Tư pháp đã tham mưu UBND tỉnh có giải pháp xây dựng cơ chế phối hợp giữa Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia với Cục Hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát được gọi là Đề án “kiềng ba chân” rất có hiệu quả. Những trường hợp ghi thông tin có thời gian cư trú ở nhiều tỉnh, thành hoặc ở nước ngoài sẽ được chuyển ra Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia để xác minh với thời gian là không quá 15 ngày theo đúng quy định của pháp luật. Đây là bước đột phá mới trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính về lĩnh vực LLTP, đem lại sự hài lòng cho người dân và nâng cao vai trò, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ.
Công tác phối hợp cung cấp thông tin LLTP giữa các cơ quan Tòa án, Công an, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan đăng ký hộ tịch với Sở Tư pháp được thực hiện tích cực, nghiêm túc theo đúng quy định của pháp luật. Tính từ 01/7/2010 đến 31/12/2015, các cơ quan liên quan đã cung cấp cho Sở Tư pháp tổng cộng 42.826 thông tin lý lịch tư pháp. Việc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia cũng được thực hiện tích cực, đúng tiến độ. Tính đến 31/12/2015, Sở Tư pháp Nghệ An đã cung cấp cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia 15.700 bản LLTP và 3.314 thông tin LLTP bổ sung. Từ 01/5/2015 đến 31/12/2015, tổng số thông tin cung cấp dưới dạng dữ liệu điện tử là 2.200 bản. Đặc biệt năm 2016, thực hiện Chỉ thị số 02/CT-BTP ngày 09/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về tăng cường xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, UBND tỉnh đã ký Quyết định số 699/QĐ-UBND ban hành Đề án “Tăng cường thực hiện công tác xây dựng, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, trong đó có quy định trong năm 2016, bổ sung cho Sở Tư pháp 3 biên chế để thực hiện việc xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Ghi nhận kết quả đạt được tại Hội nghị tổng kết 5 năm thi hành Luật lý lịch tư pháp và 4 năm thi hành Nghị định số 111/2010/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật lý lịch Tư pháp vừa được UBND tỉnh tổ chức vào cuối tháng 4 vừa qua, UBND tỉnh đã tặng bằng khen cho 5 tập thể, 9 cá nhân có thành tích trong việc thực hiện Luật lý lịch tư pháp năm 2009.
2. Những hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác LLTP trên địa bàn tỉnh Nghệ An vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục đó là: Các thông tin LLTP chưa được cập nhật, quản lý theo đúng quy định. Đến nay còn tồn đọng lượng thông tin mà Sở Tư pháp tiếp nhận trong 5 năm qua là 27.126 thông tin; chưa bổ sung biên chế cho Phòng Hành chính Tư pháp thuộc Sở Tư pháp để thực hiện nhiệm vụ cập nhật, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu LLTP; cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí phục vụ công tác này chưa đáp ứng yêu cầu đề ra; sự phối hợp giữa các ngành, các cấp có liên quan trong việc cung cấp thông tin, xác minh thông tin theo quy định của luật còn thiếu đồng bộ, chưa có quy chế phối hợp cụ thể, hiệu quả chưa cao.
3. Một số giải pháp trong thời gian tới
Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về LLTP, trong thời gian tới, Sở Tư pháp và các ngành có liên quan tiếp tục nỗ lực tham mưu thực hiện các giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả giữa Sở Tư pháp với các ngành Công an, Tòa án, Viện kiểm sát và hệ thống Thi hành án dân sự tỉnh trong việc tra cứu, xác minh, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để hoàn thiện cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, cấp phiếu lý lịch tư pháp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Thứ hai, tham mưu tổ chức các lớp tập huấn triển khai các văn bản có liên quan đến Luật Lý lịch tư pháp và các lớp tập huấn nhằm nâng cao kỹ năng cho cán bộ làm công tác tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp. Bên cạnh đó, cần tăng cường học tập, ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện công tác lưu trữ, tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin LLTP.
Thứ ba, triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án “Tăng cường công tác xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trên địa bàn tỉnh”, có giải pháp giải quyết toàn bộ các thông tin còn tồn đọng, bổ sung kịp thời biên chế, cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ theo quy định. Tiến hành sơ, tổng kết đánh giá hiệu quả thực hiện Đề án theo lộ trình đề ra.
Với những giải pháp đồng bộ và sự vào cuộc của các ngành, các cấp; sự tham mưu tích cực của Sở Tư pháp, tin tưởng trong thời gian tới công tác này sẽ được thực hiện ngày càng tốt hơn, đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân cơ quan, tổ chức trên địa bàn.

Nguyễn Quế Anh
Sở Tư pháp Nghệ An

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: