Thứ hai 17/08/2026 08:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kết quả thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Sau khi được Quốc hội thông qua, để quán triệt đầy đủ các nội dung của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và vai trò, ý nghĩa của công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động lập pháp ở nước ta, ra đời trên cơ sở hợp nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004, trong đó, đối với chính quyền địa phương, đã có sự tách bạch giữa quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, tập trung quy định về quy trình xây dựng chính sách, theo hướng chính sách được thông qua, phê duyệt trước khi bắt đầu soạn thảo văn bản; đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của một số chủ thể theo hướng đơn giản, linh hoạt hơn; quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật…, qua đó, góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành ở trung ương và địa phương về ý nghĩa, vai trò của công tác xây dựng pháp luật, về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động xây dựng pháp luật và nâng cao chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có nhiều điểm mới quan trọng, mang tính đột phá nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc, tồn tại nhiều năm trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

1. Những kết quả đạt được

Sau khi được Quốc hội thông qua, để quán triệt đầy đủ các nội dung của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và vai trò, ý nghĩa của công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; xác định cụ thể các nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả ở địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành các văn bản để triển khai thực hiện như: Kế hoạch số 5832/KH-UBND ngày 16/11/2015 thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; Công văn số 3133/UBND-NC ngày 17/6/2016 về việc tổ chức triển khai thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh… Trong thời gian đầu triển khai thực hiện các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, để đảm bảo thực hiện nghiêm túc và đúng đắn những những điểm mới của Luật, trên cơ sở chức năng và trách nhiệm được giao, Sở Tư pháp đã chủ động ban hành Công văn số 70/STP-VBPQ ngày 23/01/2017 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP), nhằm từng bước đưa công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Sở Tư pháp tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức 02 hội nghị triển khai, tập huấn cấp tỉnh cho các đại biểu là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, lãnh đạo Sở, ban, ngành của tỉnh và các hội đoàn thể, Trưởng phòng Tư pháp các huyện, thành phố, đại diện Hội đồng nhân dân tỉnh, Văn phòng Đoàn Đại biểu quốc hội, đội ngũ làm công tác pháp chế và báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh và 01 hội nghị tập huấn kỹ năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Sau khi tham dự hội nghị tập huấn do cấp tỉnh tổ chức, 14 huyện, thành phố đều có kế hoạch tổ chức hội nghị quán triệt nội dung thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 cho đại diện các cơ quan, đơn vị trực thuộc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn. Đồng thời, chỉ đạo Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh tăng cường thời lượng phát sóng để tuyên truyền, phổ biến những nội dung và điểm mới của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 cho cán bộ và nhân dân tìm hiểu.

Đến nay, việc triển khai thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được những kết quả nhất định. Ở cấp tỉnh, đã ban hành 256 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành 73 nghị quyết và Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 183 quyết định. Đối với Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, đến tháng 10/2017 đã ban hành 85 văn bản quy phạm pháp luật (45 nghị quyết và 40 quyết định); cấp xã đã ban hành 496 văn bản quy phạm pháp luật (407 nghị quyết và 89 quyết định). Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh ban hành cơ bản đảm bảo tuân thủ theo trình tự, thủ tục của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.

Đối với công tác tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 để đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới bảo đảm thi hành hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Sở Tư pháp đã chủ trì, phối hợp các Sở, ngành tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành có liên quan đến Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Trên cơ sở kết quả rà soát, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Tư pháp tiến hành kiểm tra, tổng hợp, xây dựng Danh mục các văn bản đã rà soát, gồm: Danh mục văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới bảo đảm phù hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Danh mục văn bản hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Trên cơ sở đó, Sở Tư pháp tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực toàn bộ và một phần năm 2015 và năm 2016.

2. Những khó khăn, vướng mắc

Bên cạnh những kết quả đạt được, qua hơn một năm triển khai thực hiện, công tác thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 ở Quảng Ngãi vẫn còn những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ những quy định mới của Luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, cụ thể:

Một là, một số nội dung mới chưa được hướng dẫn cụ thể

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP bổ sung quy trình mới, mang tính kỹ thuật cao trước khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đó là các biện pháp, chính sách đặc thù của địa phương cần phải lập đề nghị xây dựng nghị quyết trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định như: Đề xuất chính sách; xây dựng nội dung chính sách; quy trình xây dựng chính sách; báo cáo đánh giá tác động của chính sách, thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết và thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết. Tuy nhiên, những nội dung về báo cáo đánh giá tác động của chính sách chỉ mang tính nguyên tắc, quy định chung, chưa cụ thể, nên rất khó thực hiện như: Phương pháp đánh giá tác động chính sách trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; so sánh các chi phí về lợi ích... và hình thức của văn bản thông qua chính sách chưa được hướng dẫn và quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.

Hai là, quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, kể từ ngày 01/7/2016, văn bản quy phạm pháp luật của địa phương không được quy định thủ tục hành chính, trừ trường hợp được luật giao. Quy định này được hiểu là địa phương chỉ được quy định thủ tục hành chính khi được giao trong luật, không phải được giao trong các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 27 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì Hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành nghị quyết để quy định các biện pháp có tính chất đặc thù phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; khoản 3 Điều 28 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định Ủy ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền quy định các biện pháp để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Do vậy, để các biện pháp, chính sách đặc thù do địa phương ban hành đảm bảo tính khả thi, thì phải ban hành các quy định về trình tự, hồ sơ, yêu cầu, điều kiện và cách thức thực hiện... đã đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của một thủ tục hành chính, nhưng ở địa phương không được ban hành, vì vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và không được giao trong luật.

Ba là, về căn cứ pháp lý để ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì căn cứ pháp lý để ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn, không được căn cứ vào văn bản áp dụng pháp luật hoặc văn bản cá biệt có chứa quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trên. Trường hợp, nếu không tuân thủ đúng quy định thì các văn bản đã được ban hành đó là các văn bản có dấu hiệu trái pháp luật và phải được kiểm tra, xử lý theo quy định của Điều 103, Điều 104 và Điều 130 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong thực tiễn, hiện nay, nhiều văn bản không phải là văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương (ví dụ: Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình, mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020; Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp...) lại giao trách nhiệm cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành văn bản để quy định cụ thể các nội dung phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương. Do vậy, nếu không căn cứ vào các văn bản trên thì việc ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh thiếu tính thuyết phục và là thiếu sót trong việc xác định cơ sở pháp lý về nội dung.

Bốn là, việc xác định văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện, cấp xã

Theo quy định tại Điều 30 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết; Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc hiểu thế nào là “luật giao” để xác định thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện vẫn còn lúng túng và thiếu tính nhất quán như: Các quyết định quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội... Ngoài ra, một số nội dung luật không giao nhưng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp huyện, cấp xã và cần thiết phải ban hành các văn bản để điều chỉnh. Do vậy, việc ban hành văn bản trong trường hợp này gặp nhiều vướng mắc, còn nhiều quan điểm khác nhau. Nếu ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì trái với quy định của pháp luật, do chưa được luật giao; còn ban hành văn bản áp dụng thì lại chứa các quy phạm pháp luật.

Năm là, nội dung thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã quy định các nội dung thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện. Tuy nhiên, nội dung thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã chưa được quy định và hướng dẫn bằng văn bản. Đây là một nhiệm vụ mới của các ban của Hội đồng nhân dân cấp xã nhưng chưa được hướng dẫn cụ thể và rõ ràng nên gây khó khăn trong công tác tổ chức triển khai thực hiện và dẫn đến việc thực hiện qua loa, hình thức.

Sáu là, quy định về đăng tải dự thảo trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh trong thời hạn 30 ngày để các tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến. Tuy nhiên, việc đăng tải này chỉ mang tính hình thức, vì trong thời gian qua, không có cá nhân, tổ chức nào tham gia đóng góp ý kiến trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh. Đồng thời, việc lấy ý kiến tham gia góp ý chỉ thực hiện đối với các cơ quan, tổ chức có liên quan, chưa thực sự lấy ý kiến rộng rãi đối với các cá nhân là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Bảy là, liên quan đến vấn đề kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định tại Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì “Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật”. Như vậy, các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành nhưng không tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, nếu không phải là văn bản quy phạm pháp luật thì sẽ được xem là văn bản gì, đây cũng là một vướng mắc lớn trong công tác thực hiện kiểm tra và xử lý văn bản trên địa bàn tỉnh hiện nay. Bởi vì, văn bản này không được xây dựng theo trình tự, thủ tục nhất định và không được gửi cho cơ quan kiểm tra nên việc phát hiện và xử lý là rất khó khăn.

Khoản 1 Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền”. Tuy nhiên, các hình thức xử lý văn bản được quy định tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP bao gồm: Đình chỉ việc thi hành; bãi bỏ văn bản trái pháp luật và đính chính văn bản. Từ quy định không thống nhất này đã dẫn đến việc áp dụng các biện pháp xử lý văn bản trái pháp luật còn vướng mắc, ví dụ: Qua kiểm tra văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đã phát hiện văn bản có nội dung sai sót nhỏ hoặc thiếu một số chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Cơ quan kiểm tra văn bản kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới để thay thế, nhưng các hình thức kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế lại không được quy định trong Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Do vậy, trong thời gian qua, cơ sở pháp lý để cơ quan tiến hành kiểm tra kiến nghị xử lý chưa đảm bảo, không phù hợp với thực tiễn.

Tám là, quy định về bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật

Khoản 1 Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền”. Tuy nhiên, văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật lại không đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của một văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 2 và khoản 1 Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Đồng thời, văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật không chứa các quy phạm pháp luật nhưng phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật nên mất thời gian và phải thực hiện các thủ tục không cần thiết. Đặc biệt, việc bải bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì phải thành lập Hội đồng Tư vấn thẩm định, nhưng ý kiến của Hội đồng Tư vấn thẩm định lại không có nội dung thẩm định, vì nội dung văn bản bãi bỏ không chứa các quy phạm pháp luật.

Chín là, liên quan đến vấn đề quy định hiệu lực trở về trước

Điều 152 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước” và “Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở về trước”. Tuy nhiên, trong thực tiễn, các văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương được ban hành trên cơ sở phân cấp, ủy quyền của các cơ quan Trung ương. Do vậy, thời điểm có hiệu lực của văn bản ở địa phương sẽ chậm hơn văn bản của các cơ quan cấp trên và sẽ có hiệu lực muộn hơn văn bản của Trung ương nhưng không được quy định hiệu lực trở về trước nên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các đối tượng được áp dụng, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Để khắc phục một số khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và các địa phương nói chung, cần phải có những giải pháp cơ bản theo hướng:

Một là, trong thời gian tới, Bộ Tư pháp cần tiếp tục khảo sát, đánh giá tình hình triển khai thi hành luật ở các địa phương, từ đó có được cái nhìn tổng quan nhất về những vấn đề địa phương còn vướng mắc để đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, trường hợp cần thiết thì tham mưu Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Hai là, với những vấn đề địa phương còn lúng túng như phân tích, xây dựng nội dung chính sách; thực hiện đánh giá tác động của chính sách trước khi soạn thảo dự án, dự thảo văn bản; thẩm định chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; vấn đề quy định hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương, vấn đề áp dụng pháp luật… hoặc còn có nhiều cách hiểu khác nhau thì cần giải đáp, hướng dẫn cho địa phương kịp thời để việc triển khai thi hành Luật được đầy đủ, đồng bộ, thống nhất trên cả nước.

Ba là, cần thường xuyên tổ chức các hội nghị tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật ở địa phương về các kỹ năng xây dựng, phân tích chính sách; xây dựng báo cáo đánh giá tác động của chính sách; kỹ thuật soạn thảo, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật…

Nguyễn Thị Hoa

Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: