Chủ nhật 15/03/2026 15:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khắc phục bất cập và sai sót trong áp dụng pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính

Giải quyết khiếu nại hành chính là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trong việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại của cá nhân, tổ chức đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Thống kê cho thấy, khiếu nại hành chính tại các địa phương chủ yếu liên quan đến lĩnh vực đất đai, nhà ở đặc biệt là vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Thời gian qua, việc giải quyết khiếu nại hành chính cũng đã có những chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả nhất định như đã giải quyết được số lượng lớn đơn khiếu nại, chất lượng giải quyết được nâng lên, nhiều vụ việc tồn đọng kéo dài đã được giải quyết dứt điểm… Mặc dù vậy, việc giải quyết khiếu nại hành chính cũng vẫn còn tồn tại những hạn chế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Bài viết này sẽ nêu lên, phân tích, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm khắc phục bất cập và sai sót trong áp dụng pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính.

Sau khi Luật Khiếu nại năm 2011 có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại; Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính (Thông tư số 07/2013/TT-TTCP) và Thông tư 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh (Thông tư 07/2014/TT-TTCP). Đây là bộ khung pháp lý để công dân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại của mình, đồng thời cũng là thước đo để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng để xử lý đơn và giải quyết khiếu nại.

Về nguyên tắc, khi ban hành một quyết định hành chính để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, thì cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đều rất thận trọng và kỹ lưỡng, đảm bảo việc ban hành là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung, thậm chí phải đảm bảo đúng cả thể thức trình bày của một văn bản theo quy định và khi thực hiện hành vi hành chính cũng vậy[1]. Mặc dù, đã rất thận trọng và kỹ lưỡng, nhưng có một thực tế là, các cơ quan hành chính nhà nước, ngay cả các cơ quan bảo vệ pháp luật khác, không phải lúc nào cũng chính xác khi quyết định các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân. Do đó, phát sinh quyền khiếu nại của công dân. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến một số bất cập về mặt pháp lý và những sai sót thường gặp khi áp dụng pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính.

1. Một số bất cập của pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính hiện nay

Một là, việc ủy quyền khiếu nại chưa được quy định cụ thể rõ ràng. Điều 12 của Luật Khiếu nại quy định người khiếu nại có quyền: “Tự mình khiếu nại hoặc ủy quyền cho người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để thực hiện việc khiếu nại; hoặc ủy quyền cho luật sư, trợ giúp viên pháp lý khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Tuy nhiên, việc ủy quyền khiếu nại theo câu chữ quy định tại Điều 12 Luật Khiếu nại nêu trên còn chưa rõ, dẫn đến cách hiểu chưa thống nhất, cụ thể có 02 quan điểm như sau:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng: Dựa vào câu chữ của Điều 12 Luật Khiếu nại thì ủy quyền để thực hiện việc khiếu nại; ủy quyền khiếu nại được hiểu là ủy quyền toàn bộ, từ việc ký tên hoặc điểm chỉ trong đơn khiếu nại, cho đến làm việc với các cơ quan có liên quan, được biết các thông tin, tài liệu, tham gia đối thoại… và khiếu nại lần hai theo quy định. Tức là, khi người khiếu nại có Giấy ủy quyền hợp lệ cho người được ủy quyền, thì người được ủy quyền đó, đương nhiên sẽ có đầy đủ các quyền mà Luật Khiếu nại đã ghi nhận cho người khiếu nại.

- Quan điểm thứ hai cơ bản thống nhất quan điểm thứ nhất, chỉ có một điểm khác biệt là: Dù người khiếu nại đã ủy quyền cho người khác để thực hiện việc khiếu nại theo quy định tại Điều 12 của Luật Khiếu nại, thì người khiếu nại cũng phải tự mình ký tên hoặc điểm chỉ trong đơn khiếu nại, nghĩa là người được ủy quyền cũng sẽ có đầy đủ các quyền mà Luật Khiếu nại đã ghi nhận cho người khiếu nại, trừ quyền ký tên hoặc điểm chỉ trong đơn khiếu nại. Những người theo quan điểm thứ hai này đã viện dẫn quy định về điều kiện xử lý đơn khiếu nại[2]. Do đó, dù là người khiếu nại tự mình khiếu nại hay ủy quyền cho người khác thì người khiếu nại cũng phải tự mình ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn khiếu nại, lúc đó đơn khiếu nại đó mới đủ điều kiện xử lý và thụ lý giải quyết.

Chính vì sự chưa rõ ràng về mặt pháp lý như trên, dẫn đến có sự xung đột về quan điểm trong quá trình tiếp nhận, xử lý đơn, thư khiếu nại. Cụ thể, người được ủy quyền khiếu nại (sau khi được người khiếu nại ủy quyền hợp lệ) thường ký tên của mình trong đơn khiếu nại, nhưng khi gửi đến cơ quan có thẩm quyền thì người tiếp nhận đơn không nhận đơn vì cho rằng đơn không đủ điều kiện xử lý theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Thông tư 07/2014/TT-TTCP nêu trên.

Qua nghiên cứu các quy định của Luật Khiếu nại, cá nhân tác giả thống nhất quan điểm thứ nhất. Bởi vì, Luật Khiếu nại quy định ủy quyền để thực hiện việc khiếu nại; ủy quyền khiếu nại, chứ không quy định ủy quyền tham gia khiếu nại, hay đại diện tham gia khiếu nại. Do vậy, một khi đã có Giấy ủy quyền hợp lệ theo quy định pháp luật thì người được ủy quyền đương nhiên sẽ có đầy đủ các quyền mà Luật Khiếu nại đã ghi nhận cho người khiếu nại, kể cả quyền ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn khiếu nại. Thuật ngữ “người khiếu nại” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Thông tư 07/2014/TT-TTCP nêu trên là người khiếu nại nói chung, phải được hiểu theo nghĩa rộng, trong đó, có cả người được ủy quyền khiếu nại. Tuy nhiên, để đảm bảo sự thống nhất, tránh xung đột về quan điểm nhận thức, cần phải sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 12 của Luật Khiếu nại theo hướng: Khi được ủy quyền khiếu nại, người được ủy quyền ký tên hoặc điểm chỉ của mình vào đơn khiếu nại; người được ủy quyền khiếu nại có đầy đủ các quyền của người khiếu nại theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật khiếu nại.

Hai là, thiếu căn cứ đình chỉ giải quyết khiếu nại: Hiện nay, Luật Khiếu nại chỉ mới ghi nhận 01 căn cứ duy nhất để người giải quyết khiếu nại được quyền đình chỉ việc giải quyết khiếu nại, đó là khi người khiếu nại nhận được đơn xin rút khiếu nại[3]. Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết khiếu nại phát sinh nhiều căn cứ khác có thể đình chỉ giải quyết khiếu nại, nhưng Luật Khiếu nại chưa ghi nhận, như: Người giải quyết khiếu nại chết mà không có người thừa kế quyền và nghĩa vụ; người khiếu nại đã chấm dứt việc ủy quyền khiếu nại đối với người được ủy quyền; người khiếu nại đã được người giải quyết khiếu nại tống đạt giấy mời làm việc hợp lệ 02 lần liên tục mà vẫn vắng mặt… Do vậy, tác giả kiến nghị, cần ghi nhận bổ sung các căn cứ đã nêu trong Luật Khiếu nại, làm căn cứ để người giải quyết khiếu nại có thể đình chỉ việc giải quyết khiếu nại, điều này sẽ góp phần hạn chế số lượng vụ việc khiếu nại tồn đọng tại một số cơ quan, đơn vị trong thời gian tới.

Ba là, thiếu cơ chế thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật. Luật Khiếu nại, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại đã quy định các quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, qua thực tiễn cho thấy, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vẫn còn thiếu các quy định cần thiết làm căn cứ cho việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật. Vì một vụ việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật mà không tổ chức thực hiện được, thì việc giải quyết đó chỉ mới đạt hiệu quả 50%, 50% còn lại phụ thuộc vào việc tổ chức thực hiện triệt để quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật đó. Do vậy, theo tác giả, cần thiết phải có thông tư quy định quy trình thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật, trong đó, quy định cụ thể nguyên tắc tổ chức thực hiện, phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho cơ quan, tổ chức thực hiện, trình tự, thủ tục tổ chức thực hiện… để đảm bảo 100% các quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật được thi hành, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác giải quyết khiếu nại và quản lý nhà nước về khiếu nại.

2. Một số sai sót khi áp dụng pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính hiện nay

Thứ nhất, vi phạm thời hạn xử lý đơn. Luật Khiếu nại quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền mà không thuộc một trong các trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết[4], thì người giải quyết khiếu nại phải có thông báo thụ lý hoặc không thụ lý giải quyết khiếu nại[5]. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, nhiều cơ quan, đơn vị đã vi phạm về thời hạn xử lý đơn, có trường hợp ra thông báo thụ lý hoặc không thụ lý giải quyết khiếu nại chậm vài ngày, thậm chí vài tháng so với quy định của Luật.

Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 7, Điều 8 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân quy định Ban Tiếp công dân cấp tỉnh, huyện có nhiệm vụ phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được tiếp nhận trực tiếp tại Trụ sở tiếp công dân hoặc qua đường bưu điện hoặc do các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chuyển đến Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện, tỉnh... Tuy nhiên, có trường hợp, Ban Tiếp công dân cấp huyện, tỉnh không xử lý đơn, thư theo quy định mà tham mưu cho người có thẩm quyền chuyển đơn cho cơ quan chuyên môn trực thuộc xử lý, dẫn đến thời gian kéo dài, vi phạm thời hạn xử lý đơn, thư, ảnh hưởng đến quyền khiếu nại của công dân.

Thứ hai, vẫn còn quan niệm quyết định hành chính phải là văn bản được ban hành với hình thức quyết định: Văn bản được thể hiện với bất kỳ hình thức nào như công văn, thông báo, kết luận… mà do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể, thì đó là quyết định hành chính[6]. Tuy nhiên, trên thực tế một số cán bộ xử lý đơn khiếu nại chưa nắm chặt quy định này, dẫn đến đề xuất không thụ lý đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền, đối với khiếu nại các văn bản không phải với hình thức quyết định, gây ảnh hướng đến quyền khiếu nại của công dân.

Thứ ba, kiểm tra không đầy đủ điều kiện thụ lý nên thụ lý sai, dẫn đến giải quyết không đúng quy định. Dưới đây là một ví dụ:

Ngày 25/6/2015, ông Lê Tiến Mạnh, ngụ phường A, quận B, thành phố C gửi đơn phản ánh đến UBND quận B về việc ông Trần Tuấn Minh có hành vi thi công xây dựng cầu qua con rạch/kênh trên địa bàn phường A, quận B không có giấy phép. Cùng ngày, Đội Quản lý trật tự đô thị quận B kết hợp với phường A kiểm tra hiện trạng thi công xây dựng cầu của ông Minh và lập Biên bản xác định ông Minh có hành vi thi công xây dựng cầu không có giấy phép xây dựng và đề nghị ngừng xây dựng. Trong thời gian này, ông Minh lập thủ tục xin phép xây dựng. Ngày 07/8/2015, UBND quận B ban hành Công văn số 2371/UBND-XDCB chấp thuận cho ông Minh được phép xây dựng cầu. Công văn này cũng xác định rõ quy mô, vị trí xây dựng…

Ngày 25/8/2015, ông Mạnh gửi đơn yêu cầu UBND quận B, buộc ông Minh dừng thi công xây dựng cầu vì xây dựng không đúng vị trí đã được UBND quận B chấp thuận tại Công văn số 2371/UBND-XDCB; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đối với ông Minh, buộc phá dỡ công trình, khắc phục hậu quả khôi phục lại hiện trạng ban đầu.

Trên cơ sở kiểm tra xác minh, ngày 09/10/2015, Chủ tịch UBND quận B ban hành Công văn số 257/UBND-TD trả lời đơn ông Lê Tiến Mạnh, xác định ông Minh xây dựng cầu đúng theo nội dung chấp thuận của quận tại Công văn số 2371/UBND-XDCB. Không đồng ý, ngày 21/10/2015, ông Mạnh có đơn khiếu nại và yêu cầu hủy bỏ Công văn số số 257/UBND-TD nêu trên. Vụ việc khiếu nại được Chủ tịch UBND quận B thụ lý giải quyết. Kết quả, ngày 21/01/2016, Chủ tịch UBND quận B ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 259/QĐ-UBND có nội dung bác yêu cầu của ông Lê Tiến Mạnh, giữ nguyên Công văn số số 257/UBND-TD.

Qua ví dụ trên, chỉ bàn đến việc Chủ tịch UBND quận B thụ lý khiếu nại của ông Mạnh để giải quyết có đúng quy định pháp luật hay không. Có ý kiến cho rằng Công văn số 257/UBND-TD ngày 09/10/2015 của Chủ tịch UBND quận B về việc trả lời đơn ông Lê Tiến Mạnh là một quyết định hành chính, do đó, khi quyết định hành chính của mình bị khiếu nại, thì Chủ tịch UBND quận B thụ lý để giải quyết là đúng quy định của Luật Khiếu nại.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định về điều kiện thụ lý giải quyết một vụ việc khiếu nại hành chính, cá nhân tác giả nhận thấy như sau: Về nguyên tắc khi quyết định hành chính của mình bị khiếu nại, thì Chủ tịch UBND quận B thụ lý để giải quyết là đúng quy định, nhưng không phải quyết định hành chính nào bị khiếu nại cũng được thụ lý giải quyết. Luật Khiếu nại đã quy định 09 trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền nhưng không được thụ lý giải quyết, trong đó có trường hợp “quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại”[7]. Đối chiếu quy định này, với trường hợp ông Lê Tiến Mạnh khiếu nại Công văn số 257/UBND-TD ngày 09/10/2015 của Chủ tịch UBND quận B về việc trả lời đơn của ông Lê Tiến Mạnh, thì thấy rằng Công văn số 257/UBND-TD xác định ông Minh xây dựng cầu đúng theo nội dung chấp thuận của quận tại Công văn số 2371/UBND-XDCB, không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông Mạnh. Do đó, khiếu nại của ông Mạnh đối với Công văn số số 257/UBND-TD nêu trên, thuộc trường hợp không được thụ lý giải quyết. Việc Chủ tịch UBND quận B thụ lý khiếu nại của ông Mạnh để giải quyết là không đúng quy định pháp luật.

Bốn là, vấn đề tổ chức đối thoại trong giải quyết khiếu nại. Theo quy định của Thông tư 07/2013/TT-TTCP có 03 trường hợp phải tổ chức đối thoại trong quy trình giải quyết khiếu nại như sau[8]:

(i) Trong quá trình giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính, người giải quyết khiếu nại lần đầu tổ chức đối thoại nếu yêu cầu của người giải quyết khiếu nại và kết quả xác minh nội dung giải quyết khiếu nại còn khác nhau.

(ii) Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, người giải quyết khiếu nại hoặc người có trách nhiệm xác minh tổ chức đối thoại.

(iii) Trong quá trình giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu, lần hai phải tổ chức đối thoại.

Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết khiếu nại, nhất là giải quyết khiếu nại lần đầu, cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ xác minh đề xuất bác nội dung khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu giải quyết quyết định bác nội dung khiếu nại, nhưng không tổ chức đối thoại với người khiếu nại, hoặc có tổ chức đối thoại nhưng không đúng thành phần, lập biên bản không theo biểu mẫu quy định. Dẫn đến hậu quả pháp lý là người giải quyết khiếu nại lần hai phải yêu cầu người giải quyết khiếu nại lần đầu hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.

Năm là, vi phạm về thẩm quyền sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính bị khiếu nại. Tại điểm h khoản 2 Điều 40 Luật Khiếu nại quy định: “… Trường hợp khiếu nại là đúng hoặc đúng một phần thì yêu cầu người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại…”. Như vậy, nếu khiếu nại là đúng toàn bộ hoặc đúng một phần thì người giải quyết khiếu nại lần hai phải yêu cầu người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại. Tuy nhiên, trong thực tiễn có nhiều trường hợp, trong quyết định giải quyết khiếu nại lần hai của mình, người giải quyết khiếu nại lần hai đã tự mình quyết định sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính bị khiếu nại mà không yêu cầu người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính. Nghĩa là, người giải quyết khiếu nại lần hai đã “làm thay” công việc của người giải quyết khiếu nại lần đầu, việc “làm thay” này là trái quy định pháp luật và thực tiễn cũng đã phát sinh nhiều trường hợp Tòa án nhân dân có thẩm quyền phải tuyên hủy một phần giải quyết khiếu nại trái pháp luật do vi phạm nêu trên.

Sáu là, yêu cầu người khiếu nại khi rút khiếu nại phải nêu rõ lý do. Tại Điều 10 Luật Khiếu nại quy định: “Người khiếu nại có thể rút khiếu nại tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại; việc rút khiếu nại phải được thực hiện bằng đơn có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại…”. Như vậy, về nguyên tắc, khiếu nại là quyền và rút khiếu nại cũng đương nhiên là quyền của người khiếu nại, do đó, Luật Khiếu nại đã quy định người khiếu nại có thể rút khiếu nại tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Luật Khiếu nại không quy định việc rút khiếu nại phải thể hiện lý do vì sao rút khiếu nại, chỉ cần thể hiện việc xin rút khiếu nại bằng đơn có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại là đúng quy định. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có trường hợp cán bộ, công chức (CBCC), người được phân công tham mưu giải quyết khiếu nại yêu cầu người khiếu nại phải nêu rõ lý do rút khiếu nại, việc làm này là trái quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền định đoạt của công dân trong việc khiếu nại.

Để hạn chế những sai sót trong áp dụng pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính hiện nay, tác giả có một số kiến nghị đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền như sau:

Một là, cần rà soát, tổng hợp đội ngũ CBCC làm công tác tham mưu giải quyết khiếu nại không đạt hiệu quả, có nhiều sai sót do lỗi chủ quan để xem xét từng trường hợp cụ thể, thực hiện việc điều động, luân chuyển và bố trí CBCC có năng lực tham mưu, phụ trách, nhất thiết CBCC làm công tác tiếp công dân, tham mưu giải quyết khiếu nại phải có trình độ chuyên môn là cử nhân luật trở lên.

Hai là, quy định ràng buộc trách nhiệm người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong công tác giải quyết khiếu nại đối với cấp trên trực tiếp, để đảm bảo việc giải quyết khiếu nại là nghiêm túc, nâng cao hiệu quả, chất lượng trong công tác giải quyết khiếu nại.

Ba là, phải đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đánh giá CBCC đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch, lấy hiệu quả công tác làm thước đo phẩm chất, năng lực CBCC, không nặng về cơ cấu, tổ chức, cần chú trọng chuyên môn, hiệu quả công việc.

Bốn là, cơ quan có thẩm quyền phải quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, kiện toàn, bổ sung CBCC cho các cơ quan trực tiếp làm công tác tiếp công dân, tham mưu giải quyết khiếu nại theo hướng chuyên nghiệp và ổn định, đảm bảo đủ sức làm tham mưu cho người có thẩm quyền trong công tác giải quyết khiếu nại. Đồng thời, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại cũng phải kiểm tra, xem xét kỹ lưỡng trước khi ký ban hành các văn bản trong giải quyết khiếu nại, hạn chế trường hợp phụ thuộc hoàn toàn vào bộ phận tham mưu.

ThS. Phan Thị Thùy Trang

Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân 3

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Vũ Bảo, Phan Thị Thùy Trang, Vấn đề kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại trong giải quyết khiếu nại hành chính - thực trạng và giải pháp, Tạp chí Thanh tra, Thanh tra Chính phủ, số 09-2015, tr. 27.

[2]. Xem: Điểm a khoản 2 Điều 6 Thông tư 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh.

[3]. Xem: Điều 10 Luật Khiếu nại năm 2011.

[4]. Điều 11 Luật Khiếu nại năm 2011.

[5]. Điều 27 Luật Khiếu nại năm 2011.

[6] Xem: Khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại.

[7]. Điều 11 Luật Khiếu nại 2011.

[8]. Điều 21 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại Vướng mắc trong thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thụ lý ly hôn Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào? Mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không? Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: