Chủ nhật 15/03/2026 09:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khái luận chung về quyền con người và thế hệ quyền con người

Khái luận chung về quyền con người và thế hệ quyền con người

1. Quan niệm về quyền con người

Trong lịch sử chính trị tư tưởng của nhân loại, thuật ngữ “quyền con người” thường được sử dụng, nhưng cho đến nay chưa có quan niệm thống nhất. Phải đến thế kỷ XVII, XVIII, quyền con người mới được các nhà tư tưởng bàn đến như một học thuyết[1]. Có nhiều cách tiếp cận dẫn tới những định nghĩa khác nhau về quyền con người (human rights)[2]. Các cuộc tranh luận về chủ đề này thường tập trung vào vấn đề: Quyền con người có nguồn gốc tự nhiên hay do pháp luật quy định? Cách tiếp cận thứ nhất nhấn mạnh thuộc tính tự nhiên của các quyền con người (đã là con người thì có các quyền). Cách tiếp cận thứ hai nhấn mạnh thuộc tính nhân tạo của quyền con người, cho rằng các quyền là do con người thỏa thuận với nhau hoặc do Nhà nước quy định trong pháp luật. Theo Văn phòng Cao ủy Liên Hợp quốc thì: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý mang tính phổ quát (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm và tự do cơ bản của con người”[3]. Cách định nghĩa này có thể bị phê phán vì cho rằng quyền con người là có sau luật pháp, có sau sự bảo vệ ở phạm vi quốc tế. Tuy nhiên, định nghĩa này nhấn mạnh tính chuẩn mực chung (phổ quát) của các quyền con người và dễ làm căn cứ cho sự đồng thuận, cũng như thuận tiện cho việc vận động các quốc gia tôn trọng tiêu chuẩn chung trong hoạt động lập pháp (xây dựng pháp luật) và thực tiễn[4]. Bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, ở Việt Nam còn hay sử dụng thuật ngữ “nhân quyền” (từ Hán - Việt). Cả hai đều có nội hàm như nhau và tương ứng với thuật ngữ “human rights” trong tiếng Anh.

Khi tranh luận về “quyền con người”, có hai trường phái trái ngược nhau. Những người theo học thuyết về quyền tự nhiên (natural rights) - mà tiêu biểu là các tác giả như Zeno (333 - 264 TCN), Thomas Hobbes, Thomas Paine (1731 - 1809)... cho rằng quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng, chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại. Các quyền con người không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay Nhà nước nào và không một chủ thể nào có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người. Ngược lại, những người theo học thuyết về các quyền pháp lý (legal rights) mà tiêu biểu là các tác giả như Edmund Burke (1729 - 1797), Jeremy Bentham (1748 - 1832)... cho rằng các quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các Nhà nước quy định trong pháp luật. Như vậy, theo học thuyết này, phạm vi, giới hạn và ở góc độ nhất định, cả thời hạn hiệu lực của các quyền con người phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa... của các xã hội.

Cho đến nay, cuộc tranh luận về tính đúng đắn của hai học thuyết kể trên vẫn còn tiếp tục. Việc phân định tính chất đúng, sai, hợp lý và không hợp lý của hai học thuyết này là không đơn giản do chúng liên quan đến một phạm vi rộng lớn các vấn đề triết học, chính trị, xã hội, đạo đức, pháp lý… Mặc dù vậy, dường như quan điểm cực đoan phủ nhận hoàn toàn bất cứ học thuyết nào đều không phù hợp, bởi lẽ trong khi về hình thức, hầu hết các văn kiện pháp luật của các quốc gia đều thể hiện các quyền con người là các quyền pháp lý, thì trong Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người năm 1948, một số văn kiện pháp luật và văn kiện chính trị pháp lý ở một số quốc gia, quyền con người được khẳng định một cách rõ ràng là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể chuyển nhượng được của các cá nhân[5].

Theo tác giả, quan điểm hài hòa nhất là dung hòa hai trường phái nói trên, theo đó quyền con người là đặc quyền (quyền tự nhiên) nhưng để hiện thực hóa thì phải được pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia ghi nhận và bảo đảm thực thi[6]. Con người sinh ra là “bẩm sinh”, “tự nhiên” đã có quyền, Nhà nước không thể không ghi nhận[7]. Sự ghi nhận, bảo đảm thực thi quyền ở mỗi quốc gia có thể khác nhau ở từng giai đoạn[8]. Việc pháp luật ghi nhận quyền không phủ nhận bản chất đặc quyền tự nhiên của quyền con người mà nó còn phụ thuộc vào đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi quốc gia. Ở mỗi quốc gia, do hoàn cảnh lịch sử, điều kiện khác nhau, nên hệ thống các quyền không hoàn toàn giống nhau, nhưng những quyền cơ bản nhất thì có sự tương đồng.

Quyền con người trước hết được hiểu là những đặc quyền (quyền tự nhiên) mà con người có. Đó là khả năng hành động một cách có ý thức, trách nhiệm, nhất là khả năng tự bảo vệ. Nhưng tự bản thân chúng, đặc quyền chưa phải đã là quyền của con người. Để đạt tới cái gọi là “quyền” thì cần phải có yếu tố thứ hai đó là quy chế pháp lý (pháp luật). Các đặc quyền khi trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật, tức là, được pháp luật ghi nhận, thì mới trở thành các quyền của con người thực sự. “Không có pháp luật thì không có quyền, và khó có quyền nào mà lại không phải là một đặc quyền, nhưng không nhất thiết là ngược lại, mà chỉ là những đặc quyền thuộc phạm vi và chịu sự chi phối của pháp luật mới là quyền”[9]. Cách lý giải như vậy về quyền con người chỉ ra rằng, quan niệm của thuyết pháp luật tự nhiên về quyền con người phải tồn tại trong mối quan hệ với quan niệm về quyền con người gắn với thiết chế quyền lực nhà nước và pháp luật.

Về tính chất, nhận thức phổ biến của cộng đồng quốc tế cho rằng quyền con người có những tính chất (còn được gọi là những nguyên tắc) cơ bản sau đây:

- Tính phổ quát (universal): Thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì. Tuy nhiên, cần chú ý là sự bình đẳng không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ, mà là bình đẳng về tư cách chủ thể và cơ hội thụ hưởng các quyền con người.

- Tính không thể chuyển nhượng (inalienable): Các quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả bởi các Nhà nước. Mọi giới hạn, hạn chế hay tước bỏ quyền của một cá nhân đều phải do luật quy định và chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng, tương xứng của cộng đồng hay của cá nhân khác.

- Tính không thể phân chia, phụ thuộc lẫn nhau (inpisible, interdependent): Các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác.

Khi nhắc đến quyền con người, chúng ta có thể đề cập khái niệm tự do (freedom). Có nhiều định nghĩa về tự do, tuy nhiên, ở góc độ chung nhất, có thể hiểu tự do là tình trạng một cá nhân có thể và có khả năng hành động theo ý chí, nguyện vọng của mình phù hợp với các quy phạm pháp lý và đạo đức trong một xã hội dân chủ mà không bị cản trở bởi bất cứ chủ thể hay yếu tố nào. Tự do thường được phân thành tự do chủ động (positive freedom) và tự do thụ động (negative freedom). Tự do chủ động là tự do của cá nhân nhằm đạt được mục tiêu cụ thể nào đó (ví dụ như tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp…). Tự do thụ động là tự do của cá nhân khỏi bị các chủ thể khác xâm phạm đến (ví dụ như tự do thân thể…). Tự do mang tính chất của một sự lựa chọn hay một quyền cá nhân. Về khía cạnh này, J.S.Mill cho rằng cần bảo vệ tự do của các cá nhân để họ được “sống hạnh phúc theo ý của họ, hơn là bắt họ sống hạnh phúc theo ý những người xung quanh”[10]. Cũng về khía cạnh này, K.Marx và F.Engels mong muốn hướng đến một xã hội lý tưởng trong tương lai mà “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người” (Tuyên ngôn của Đảng cộng sản - 1848)[11]. Luật Nhân quyền quốc tế đề cập cả hai khái niệm: Các quyền (rights) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người. Tuy nhiên, trong thực tế hầu như không có sự phân biệt và khác biệt trong việc vận dụng các tiêu chuẩn quốc tế về quyền và tự do cơ bản của con người, bởi lẽ các tự do cơ bản thường được diễn đạt như là các quyền (ví dụ, tự do ngôn luận cũng thường được gọi là quyền tự do ngôn luận…). Ngoài ra, các quyền tự do thường được đồng nhất với các quyền dân sự và chính trị[12].

Khái niệm quyền con người cũng gắn liền với khái niệm quyền công dân (citizen’s rights). Đây là hai khái niệm gần gũi nhưng không hoàn toàn đồng nhất (xét ở cả hai phương diện chủ thể của quyền và nội dung của quyền)[13]. Quyền công dân là một khái niệm xuất hiện cùng cách mạng tư sản. Cách mạng tư sản đã đưa con người từ địa vị những thần dân trở thành những công dân (với tư cách là những thành viên bình đẳng trong một quốc gia) và pháp điển hóa các quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân. Như vậy, về bản chất, các quyền công dân chính là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình. Cách hiểu này cũng giống như học thuyết về quyền pháp lý về nguồn gốc của quyền con người. Về cơ bản, quyền công dân có phạm vi hẹp hơn quyền con người. Sự phân biệt này chỉ có thể nhận rõ trong một số bối cảnh[14]. Ví dụ, theo Luật Nhân quyền quốc tế, một cá nhân là người nước ngoài hiện diện hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia cũng được hưởng các quyền con người cơ bản mà cộng đồng quốc tế và quốc gia đó thừa nhận, chỉ trừ một số quyền dành riêng cho công dân như quyền bầu cử, quyền ứng cử, hay quyền về quốc tịch[15].

2. Các thế hệ quyền con người

2.1. Thế hệ quyền con người

Dựa trên những tiêu chí khác nhau, có thể chia quyền con người thành những nhóm khác nhau[16]. Theo quan niệm chung (lý thuyết về thế hệ quyền), quyền con người được chia thành ba thế hệ gắn liền với sự phát triển của xã hội. Sự phân chia quyền con người theo các thế hệ này được đề xuất vào năm 1977 bởi luật gia người Séc, ông Karel Vasak. Ý tưởng về ba “thế hệ nhân quyền” (generations of human rights) được ông đưa ra nhằm phân tích lịch sử phát triển của quyền con người. Mặc dù lý luận của Vasak bắt nguồn và phản ánh lịch sử phát triển của tư tưởng và pháp luật về quyền con người ở châu Âu, chúng vẫn có những ý nghĩa trong việc nghiên cứu về lịch sử phát triển của quyền con người nói chung trên thế giới. Ba thế hệ quyền này tương ứng với ba nguyên tắc của Cách mạng Pháp, đó là tự do, bình đẳng và bác ái[17]. Ba thế hệ quyền con người bao gồm:

Thế hệ thứ nhất, các quyền con người trong lĩnh vực dân sự - chính trị.

Thế hệ này bao gồm các quyền cá nhân trong lĩnh vực dân sự, chính trị, các quyền bình đẳng và tự do cá nhân. Chúng giải quyết những vấn đề liên quan đến tự do và sự tham gia vào đời sống chính trị của cá nhân. Thế hệ quyền này mang đậm chủ nghĩa cá nhân và được xây dựng để hạn chế, ngăn chặn sự lạm quyền và sự tùy tiện xâm hại đến cuộc sống tự do của cá nhân con người từ phía các quan chức và cơ quan nhà nước. Thế hệ quyền con người này hướng vào hai vấn đề chính, đó là tự do và sự tham gia vào đời sống chính trị của các cá nhân. Nó bao gồm các quyền và tự do cá nhân về phương diện dân sự và chính trị mà tiêu biểu như quyền sống, quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo tín ngưỡng, tự do biểu đạt, quyền được bầu cử, ứng cử, quyền được xét xử công bằng... Xét trên các phương diện chính trị và lịch sử, sự phát triển của thế hệ quyền con người thứ nhất gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản lật đổ chế độ phong kiến. Các quyền thuộc thế hệ này về bản chất chính là những tư tưởng về các quyền tự nhiên được hình thành và được cổ vũ trước và trong các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu, sau đó được ghi nhận trong các văn bản pháp luật về quyền công dân của các nhà tư sản. Cùng với hệ thống quyền con người nói chung, các quyền dân sự, chính trị được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt với việc Liên Hợp quốc thông qua Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.

Thế hệ thứ hai, các quyền con người trong lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hóa.

Thế hệ này được thiết kế nhằm bảo đảm bình đẳng về điều kiện và đối xử đối với con người. Cá nhân không trực tiếp sở hữu quyền mà nội dung của quyền là những bổn phận tích cực mà Nhà nước phải tôn trọng và thực hiện (ví dụ, người dân có quyền được tiếp cận giáo dục, quyền này được thực hiện thông qua việc Nhà nước xây dựng các cơ sở giáo dục và tạo điều kiện để người dân tiếp cận chúng). Thế hệ quyền con người này được đề xướng và vận động từ cuối thế kỷ XIX và bắt đầu được quan tâm bởi một số chính phủ kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên (nước Nga Xô viết) vào năm 1917 và sau đó là hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới trong nửa sau thế kỷ XX đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình pháp điển hóa thế hệ quyền này trong pháp luật quốc gia và quốc tế. Cùng với hệ thống quyền con người nói chung, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được hính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với việc Liên Hợp quốc thông qua Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 và đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966.

Thế hệ thứ ba, các quyền tập thể - phát triển.

Thế hệ này bao gồm các quyền tiêu biểu như quyền tự quyết dân tộc (right to self-determination); quyền phát triển (right development); quyền với các nguồn tài nguyên thiên nhiên (right to natural resources); quyền được sống trong hòa bình (right to peace); quyền được sống trong môi trường trong lành (right to a healthy environment)… Danh mục các quyền thuộc thế hệ quyền này vẫn đang được bổ sung, trong đó những quyền được đề cập gần đây bao gồm: Quyền được thông tin và các quyền về thông tin (right to communicate; communication rights); quyền được hưởng thụ các giá trị văn hóa (right to participation in cultural heritage)… Những văn kiện cơ bản phản ánh thế hệ quyền này bao gồm: Tuyên bố trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa năm 1960[18]; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Điều 1) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 (Điều 1); Tuyên bố về quyền của các dân tộc đối với hòa bình năm 1984[19]; Tuyên bố về quyền phát triển năm 1986[20]. Cơ sở hình thành thế hệ quyền con người thứ ba là sự liên đới, những quyền này bao quát quyền tập thể của một xã hội hoặc một dân tộc, như quyền phát triển bền vững, quyền sống trong hòa bình hoặc một môi trường trong lành. Ở nhiều nơi trên thế giới, nghèo đói cùng cực, chiến tranh, thảm họa sinh thái và thảm họa thiên nhiên cũng đồng nghĩa rằng việc bảo đảm thực hiện quyền con người sẽ bị hạn chế. Vì vậy, nhiều người cảm thấy cần thiết phải công nhận một loại quyền mới. Nhóm quyền này sẽ bảo đảm những điều kiện thích hợp cho các xã hội thụ hưởng các nhóm quyền con người thế hệ thứ nhất và thứ hai đã được ghi nhận, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Xét về tính chất, thế hệ quyền con người thứ ba là sự trung hòa nội dung của cả hai nhóm quyền dân sự, chính trị và quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, song đặt chúng trong những bối cảnh mới và trong khuôn khổ các quyền của nhóm. Về tính pháp lý, ngoại trừ một số quyền như quyền tự quyết dân tộc, hầu hết các quyền trong thế hệ thứ ba chưa được pháp điển hóa bằng các điều ước quốc tế mà mới chỉ được đề cập trong các tuyên bố, tuyên ngôn (các văn kiện luật mềm (soft law), không có hiệu lực ràng buộc về pháp lý). Tính pháp lý và tính hiện thực của hầu hết các quyền trong thế hệ này hiện vẫn đang là chủ đề gây tranh cãi.

Các thế hệ quyền con người được nêu trong hệ thống luật nhân quyền quốc tế khá đa dạng và phong phú. Vào ngày 10/12/1948, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua bản Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người (UDHR). Mặc dù không phải là một công ước, bản Tuyên ngôn này được coi là có giá trị như là một điều ước quốc tế, đóng vai trò nền tảng để xây dựng nên hệ thống hàng trăm văn kiện pháp luật nhân quyền quốc tế hiện đại, bao gồm hơn 30 điều ước và nhiều hình thức văn bản khác (tuyên ngôn, khuyến nghị, bộ quy tắc, bộ nguyên tắc…)[21]. Hiện nay có 9 công ước quốc tế về quyền con người được coi là cơ bản nhất (cốt lõi), bao gồm: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR)[22]; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 (ICESCR)[23]; Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt về chủng tộc năm 1965 (ICERD)[24]; Công ước về xóa bỏ mọi các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW)[25]; Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 (CRC)[26]; Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984 (CAT)[27]; Công ước về quyền của những người khuyết tật năm 2006 (CRPD)[28]; Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ năm 1990 (ICRMW)[29]; Công ước quốc tế về bảo vệ tất cả mọi người khỏi bị đưa đi mất tích năm 2006 (ICPPED)[30].

2.2. Một số vấn đề liên quan đến thế hệ quyền con người

Thứ nhất, về sự phân chia thế hệ quyền con người.

Có thể thấy, pháp luật quốc tế về quyền con người vẫn trong giai đoạn phát triển và chắc chắn rằng trong tương lai sẽ xuất hiện những quyền con người mới. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng có nên đề xuất những thế hệ quyền mới cũng như có nên phân loại các thế hệ quyền[31]? Khái niệm “thế hệ” thường làm cho người đọc liên tưởng đến sự kế thừa, chuyển tiếp và đôi khi là thay thế. Đặt trong trường hợp “thế hệ quyền con người”, điều này không hoàn toàn hợp lý ở khía cạnh các thế hệ quyền con người sau không thể thay thế được các thế hệ quyền con người trước. Vì vậy, có ý kiến cho rằng nên phân chia thành những “nhóm quyền” (không gọi là thế hệ quyền) dựa vào những đặc điểm và bản chất của từng loại quyền[32]. Theo các tác giả, việc phân chia thế hệ quyền con người có nhiều khía cạnh hợp lý về sự kế thừa, chuyển tiếp (ví dụ thế hệ quyền con người thứ ba về bản chất là sự kế thừa hai thế hệ trước đó, thế hệ quyền con người thứ hai là sự chuyển tiếp từ thế hệ quyền con người thứ nhất), đồng thời, cũng nhấn mạnh yếu tố lịch sử trong quá trình ra đời, phát triển của các quyền con người. Tuy vậy, việc chia thành các “nhóm quyền con người” cũng góp phần khắc phục cách hiểu có sự thay thế giữa các quyền khi sử dụng “thế hệ quyền con người”. Cho dù phân chia, sử dụng thuật ngữ như thế nào thì phải bảo đảm đặc điểm và bản chất của từng loại quyền, mỗi quyền có giá trị riêng, không thể thay thế cho nhau và tất cả có tính liên kết, phụ thuộc lẫn nhau.

Thứ hai, về sự thừa nhận thế hệ quyền con người thứ ba.

Thế hệ quyền con người thứ ba ra đời trong bối cảnh các nước thế giới thứ ba đấu tranh đòi cơ hội bình đẳng trong quá trình phát triển[33]. Thế hệ quyền con người thứ ba mong muốn khắc phục được những khó khăn trong việc thực hiện các thế hệ quyền con người trước đó. Tuy vậy, trong nhiều năm qua, việc thừa nhận và thực thi thế hệ quyền con người thứ ba vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi, đặc biệt là xung quanh quyền phát triển. Những quan điểm trái chiều xung quanh quyền này đồng thời cũng là những câu hỏi mở cho những tranh luận, lý giải chặt chẽ hơn về một cơ chế hợp lý cho giám sát việc thực thi quyền con người thuộc thế hệ thứ ba này[34].

Thứ ba, quan điểm về cơ cấu và nội dung của ba thế hệ quyền con người chưa thống nhất dưới nhiều góc độ.

Nội dung của mỗi thế hệ quyền con người vẫn tiếp tục được bổ sung và phát triển. Ngày nay, việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người đã có sự phối hợp rộng rãi giữa các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Nội dung quyền con người được xác định ngày càng đầy đủ và cụ thể. Đó là thành quả của quá trình nhận thức và đấu tranh cho quyền con người của nhân loại tiến bộ, đồng thời góp phần thúc đẩy việc thực hiện, bảo vệ quyền con người ở các quốc gia[35].

Thứ tư, quyền con người, một mặt gắn với bản tính tự nhiên của con người, nhưng mặt khác gắn với sự phát triển của bản thân con người và xã hội loài người[36].

Con người càng phát triển, người ta càng nhận thức và ý thức một cách đầy đủ về các quyền của mình. Xã hội càng phát triển, các điều kiện đảm bảo cho quyền con người ngày càng được hoàn thiện hơn. Thực tế cho thấy, trong mỗi giai đoạn lịch sử, xã hội loài người tồn tại những quan niệm khác nhau về các quyền, tự do và nghĩa vụ, cũng như những quy phạm và cơ chế khác nhau để thực hiện, giám sát và bảo vệ các quyền, tự do và nghĩa vụ đó. Theo dòng lịch sử, ảnh hưởng và tác động của quyền con người ngày càng mở rộng, từ ý niệm, tư tưởng đến các quy tắc, quy phạm và cơ chế; từ cấp độ cộng đồng đến cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Trong suốt quá trình phát triển này, quyền con người luôn mang những dấu ấn về chính trị, kinh tế, văn hóa của từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử của xã hội loài người. Như vậy, cùng với sự phát triển của con người và xã hội loài người, nội dung của quyền con người cũng có sự phát triển theo hướng ngày càng tiến bộ hơn, nhân văn hơn. Chính sự phát triển của nội dung quyền con người trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của con người và xã hội loài người tạo nên tính đặc thù của quyền con người. Chẳng hạn, nội dung của quyền tự do, dân chủ, bình đẳng không phải ngay từ đầu đã đầy đủ và hoàn thiện như trong giai đoạn hiện nay, mà trong mỗi giai đoạn lại được điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện. Những dấu ấn của các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo… trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử tạo nên tính chất đặc thù của quyền con người. Mặt khác, các điều kiện để đảm bảo cho các quyền con người trong xã hội hiện nay cũng khác với các xã hội trước đó. Cùng với sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học và quá trình toàn cầu hóa, mỗi con người đều đã trở thành “công dân toàn cầu”, do đó quyền con người cũng đã và đang xuất hiện các xu hướng phát triển mới, gắn liền với sự phát triển không ngừng của xã hội loài người (về phát triển bền vững, về khoa học kỹ thuật, về nhóm đối tượng dễ bị tổn thương,…)[37]./.

TS. Trương Hồng Quang

Khoa Luật, Trường Đại học Mở Hà Nội


[1] Trần Ngọc Đường, Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 12. Theo tác giả này, có hai quan niệm chính về quyền con người: (1) Trường phái pháp luật tự nhiên xem quyền con người là đặc quyền tự nhiên; (2) Xem con người cũng như quyền con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội.

[2] Lã Khánh Tùng, Vũ Công Giao, ABC về các quyền dân sự chính trị cơ bản, iSEE (Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường), World Bank Group, tài liệu lưu hành nội bộ, 2017, tr. 15, http://isee.org.vn/wp-content/uploads/2018/11/abc-ve-cac-quyen-dan-su-chinh-tri-co-ban..pdf.

[3] United Nations, Human Rights, Questions and Answers, New York and Geneva, 2006, tr. 4.

[4] Lã Khánh Tùng, Vũ Công Giao, ABC về các quyền dân sự chính trị cơ bản, sđd, tr. 15.

[5] Tuyên ngôn phổ quát về quyền con con người năm 1948 (đoạn 1, Lời nói đầu) nêu rằng: "… Thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại". Ở góc độ quốc gia, Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 nêu rằng: "... Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…". Những tuyên bố này về sau được tái khẳng định trong bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền năm 1789 của nước Pháp và bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1946 của Việt Nam.

[6] Ví dụ, không phải nước nào cũng ghi nhận quyền kết hôn giữa những người cùng giới tính.

[7] Trần Ngọc Đường, Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Sách chuyên khảo), sđd, 2011, tr. 21.

[8] Ví dụ, đến năm 1928 phụ nữ nước Anh mới có quyền bầu cử, năm 1945 phụ nữ Italia mới có quyền bầu cử còn nước Pháp thì phải sau năm 1946 phụ nữ mới có quyền này.

[9] Trần Ngọc Đường, Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Sách chuyên khảo), sđd, 2011, tr. 20, 21.

[10] J.S. Mill, On Liberty, 1859, https://eet.pixel-online.org/files/etranslation/original/Mill,%20On%20Liberty.pdf.

[11] https://www.marxists.org/vietnamese/marx-engels/1840s/tuyen/index.htm.

[12] Lã Khánh Tùng, Vũ Công Giao, ABC về các quyền dân sự chính trị cơ bản, 2017, sđd, tr. 19.

[13] Trần Ngọc Đường, Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Sách chuyên khảo), sđd, 2011, tr. 27.

[14] Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm, Quyền công dân và cơ chế bảo vệ quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 2015, (11), tr. 11 - 19.

[15] Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền, 1948: Mục tiêu chung của nhân loại, Nxb. Lao động - xã hội, Hà Nội, 2011.

[16] Lã Khánh Tùng, Vũ Công Giao, ABC về các quyền dân sự chính trị cơ bản, 2017, sđd, tr. 21.

[17] Trong phần này các tác giả có tham khảo nội dung từ một số tài liệu: Adrian Vasile Cornescu, The generations of human’s rights, 2009, https://www.law.muni.cz/sborniky/dny_prava_2009/files/prispevky/tvorba_prava/Cornescu_Adrian_Vasile.pdf; Three Generations of Rights?, http://www.developmenteducation.ie/media/documents/human-rights/Sheet-2-Three-generations-of-rights.pdf; Patrick Macklem (2015), Human rights in international law: three generations or one?, Forthscoming in 3 London Review of International Law, https://www.law.umich.edu/workshopsandsymposia/intlworkshopseries/Documents/Macklem%20-%20Human%20Rights%20in%20Intl%20Law.pdf.

[18] Được thông qua theo Nghị quyết số 1514 (XV) ngày 01/4/1960 của Đại hội đồng Liên Hợp quốc.

[19] Được thông qua theo Nghị quyết số 39/11 ngày 12/11/1984 của Đại hội đồng Liên Hợp quốc.

[20] Được thông qua theo Nghị quyết số 41/128 ngày 04/12/1986 của Đại hội đồng Liên Hợp quốc.

[21] Sự ra đời của Tuyên ngôn này là thỏa thuận pháp lý quốc tế đầu tiên về quyền con người, đồng thời là bước tiến quan trọng của cộng đồng nhân loại khi xác định “phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng bất di bất dịch của tất cả các thành viên trong gia đình loài người là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới”. Xác định ấy có được bởi cộng đồng nhân loại đều thấy rằng: “Sự coi thường và xâm phạm các quyền con người dẫn đến những hành vi man rợ, xúc phạm tới lương tâm nhân loại, và việc tạo lập một thế giới trong đó con người sẽ được hưởng tự do ngôn luận, tín ngưỡng và tự do thoát khỏi nỗi sợ hãi và đói nghèo đã được tuyên bố như là khát vọng cao cả nhất của những người dân bình thường”... Dù là văn bản có tính khuyến nghị, cam kết về chính trị - đạo đức hơn là ràng buộc về chính trị - pháp lý, Tuyên ngôn cũng đã đưa ra các tiêu chí để đánh giá hành động của các Chính phủ trong phòng ngừa và ngăn chặn hành vi vi phạm quyền con người, đấu tranh với hành vi lạm dụng quyền lực và bạo lực để chà đạp lên nhân phẩm, tính mạng, tương lai của con người. Xem Nhân quyền - giá trị phổ quát và đặc thù, http://xaydungdang.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=13274&print=true, ngày 29/10/2019.

[22] Xem bản tiếng Anh tại địa chỉ: https://www.ohchr.org/en/professionalinterest/pages/ccpr.aspx.

[23] Xem bản tiếng Anh tại địa chỉ: https://www.ohchr.org/en/professionalinterest/pages/cescr.aspx.

[24] Xem bản tiếng Anh tại địa chỉ: https://www.ohchr.org/en/professionalinterest/pages/cerd.aspx.

[25] Xem bản tiếng Anh tại địa chỉ: https://www.ohchr.org/en/professionalinterest/pages/cedaw.aspx.

[26] Xem bản tiếng Anh tại địa chỉ: https://www.ohchr.org/en/professionalinterest/pages/crc.aspx.

[27] Xem bản tiếng Anh tại địa chỉ: https://www.ohchr.org/en/professionalinterest/pages/cat.aspx.

[28] Xem bản tiếng Anh tại địa chỉ:

https://www.ohchr.org/en/hrbodies/crpd/pages/conventionrightspersonswithdisabilities.aspx.

[29] Xem bản tiếng Anh tại địa chỉ: https://www.ohchr.org/en/professionalinterest/pages/cmw.aspx.

[30] Xem bản tiếng Anh tại địa chỉ: https://www.ohchr.org/en/hrbodies/ced/pages/conventionced.aspx.

[31] Trong phần này tác giả có tham khảo một số nội dung từ tài liệu: Nguyễn Hồng Anh, Sự phân chia các thế hệ quyền con người: Có thực sự cần thiết?; Võ Khánh Vinh (chủ biên), Quyền con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, tập I (tái bản lần thứ nhất), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011, tr. 52 - 68.

[32] Nguyễn Hồng Anh, Sự phân chia các thế hệ quyền con người: Có thực sự cần thiết?, sđd, tr. 66.

[33] Nguyễn Hồng Anh, Sự phân chia các thế hệ quyền con người: Có thực sự cần thiết?, sđd, tr. 63.

[34] Nguyễn Hồng Anh, Sự phân chia các thế hệ quyền con người: Có thực sự cần thiết?, sđd, tr. 65.

[35] Trần Ngọc Đường, Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Sách chuyên khảo), 2011, sđd, tr. 32.

[36] Phần này có tham khảo một số nội dung từ tài liệu: Tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người từ phương diện triết học, http://vusta.vn/chitiet/tin-tuyen-sinh-dao-tao/Tinh-pho-bien-va-tinh-dac-thu-cua-quyen-con-nguoi-tu-phuong-dien-triet-hoc-1011, ngày 18/10/2010.

[37] Trong phần này, tác giả có tham khảo một số nội dung từ tài liệu: Nguyễn Linh Giang, Một số xu hướng mới về quyền con người, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (Văn phòng Quốc hội), 23-2012, tr. 13-18, 36.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: