Thứ năm 05/03/2026 02:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khiếu nại, tố cáo và bồi thường nhà nước trong thi hành án dân sự

Công tác bồi thường trong thi hành án dân sự lâu nay vẫn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, nhất là sau khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 có hiệu lực thi hành.

Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn có vụ việc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo né tránh nội dung giải quyết bồi thường. Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo với việc giải quyết bồi thường của Nhà nước về thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, tác giả phân tích tổng quan thực trạng pháp luật về khiếu nại, tố cáo và công tác bồi thường của Nhà nước trong thi hành án dân sự, nêu ra một số bất cập trong quá trình thực thi pháp luật, đồng thời kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện.

1. Pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác bồi thường trong thi hành án dân sự

Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, thì người khiếu nại được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm và được bồi thường thiệt hại, nếu có (điểm đ khoản 1 Điều 143), người bị khiếu nại có nghĩa vụ bồi thường, bồi hoàn, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật (điểm c khoản 2 Điều 144). Quyết định giải quyết khiếu nại có nội dung bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra (khoản 8 Điều 151 và khoản 8 Điều 153). Người bị tố cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật (điểm c khoản 2 Điều 156). Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết khiếu nại của mình (điểm c khoản 2 Điều 145). Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 158).

Điều 38 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự, cụ thể: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp: (i) Ra hoặc cố ý không ra quyết định: Thi hành án; thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án; áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án; cưỡng chế thi hành án; thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án; hoãn thi hành án; tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án; tiếp tục thi hành án; (ii) Tổ chức thi hành hoặc cố ý không tổ chức thi hành quyết định quy định tại khoản 1 Điều này.

Việc xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án phải có các căn cứ: (i) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại các điều 13, 28, 38 và 39 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; (ii) Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại (khoản 1 Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước).

Văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (khoản 3 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước).

Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật là các văn bản đã có hiệu lực pháp luật sau đây[1]:

Một là, quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy các quyết định trái pháp luật về thi hành án dân sự;

Hai là, quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Ba là, kết luận nội dung tố cáo của người có thẩm quyền theo quy định của Luật Thi hành án dân sự;

Bốn là, kết luận thanh tra giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về thanh tra;

Năm là, văn bản của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trả lời chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền đã ra kháng nghị theo quy định của Luật Thi hành án dân sự;

Sáu là, bản án, quyết định của Toà án có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật.

Khi người bị thiệt hại có 1 trong 6 văn bản trên và có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra, thì có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường. Cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường phải lập hồ sơ giải quyết bồi thường theo đúng trình tự quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BTP-BQP ngày 07/12/2015 của Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự. Do kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo là căn cứ đầu tiên để đối tượng (người có đơn khiếu nại, tố cáo) được chấp nhận tiếp tục làm đơn yêu cầu giải quyết bồi thường nên người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo phải giải quyết khiếu nại và tố cáo theo đúng quy định pháp luật[2]. Việc hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự về xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường; hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết bồi thường; giải đáp vướng mắc về việc thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và thống kê, tổng hợp, báo cáo về công tác bồi thường nhà nước, được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-BTP-BQP ngày 01/02/2013 của Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự và Thông tư liên tịch số 16/2015/TTLT-BTP-BQP ngày 19/11/2015 của Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-BTP-BQP ngày 01/02/2013.

2. Mối quan hệ giữa khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo với việc giải quyết bồi thường của Nhà nước về thi hành án dân sự

Nghiên cứu quy định pháp luật nêu trên cho thấy, khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo có mối liên hệ chặt chẽ với việc giải quyết bồi thường của Nhà nước trong thi hành án dân sự, cụ thể:

- Người có trách nhiệm giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự chính là người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo (khoản 1 Điều 15 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; điểm c khoản 2 Điều 145, khoản 2 Điều 158 Luật Thi hành án dân sự);

- Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại[3]. Trường hợp cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể hoặc người thi hành công vụ gây ra thiệt hại không còn làm việc tại cơ quan đó tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu bồi thường hoặc có sự ủy quyền, uỷ thác thực hiện công vụ, thì việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường được thực hiện theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 14 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Điều 40 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước);

- Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết việc bồi thường khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật (Điều 4 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước). Trong quá trình khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hoặc Tòa án giải quyết việc bồi thường;

- Thủ tục xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Trong quyết định giải quyết khiếu nại phải xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại (khoản 3 Điều 15 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước);

- Quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật, kết luận nội dung tố cáo của người có thẩm quyền theo quy định của Luật Thi hành án dân sự là các văn bản của cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan quản lý thi hành án dân sự xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ;

- Quyết định hoàn trả của cơ quan có thẩm quyền ra quyết định bồi thường nhà nước bị khiếu nại, tố cáo thì việc giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo pháp luật về khiếu nại, tố cáo hiện hành[4].

Hiện nay, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành về khiếu nại trong thi hành án dân sự chưa quy định cụ thể về vấn đề xác định bồi thường.

3. Thực trạng pháp luật về khiếu nại, tố cáo và công tác bồi thường của Nhà nước trong thi hành án dân sự và một số kiến nghị

Qua hơn 5 năm thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, các cơ quan thi hành án dân sự trong cả nước đã thụ lý, theo dõi và giải quyết 48 vụ việc (trong đó, năm 2012 là 14 vụ việc, năm 2013 là 17 vụ việc, năm 2014 là 3 vụ việc, năm 2015 là 14 vụ việc). Kết quả phân loại và xử lý là đã giải quyết xong hoàn toàn 25 vụ việc, còn lại 23 vụ việc (trong đó có 6 vụ việc đã thụ lý nhưng chưa ra quyết định bồi thường, 5 vụ việc đã ra quyết định giải quyết bồi thường nhưng đương sự không đồng ý và có đơn khởi kiện ra Tòa án và 12 vụ việc đang giải quyết). Số lượng hồ sơ được duyệt cấp phát kinh phí chi trả bồi thường là 25 việc, số tiền được cấp đã chi trả bồi thường là 9.691.106.000 đồng. Tình hình xác định và thực hiện trách nhiệm hoàn trả mới thực hiện được 12 việc hoàn trả với số tiền rất nhỏ là 280.000.000 đồng. Một số vụ việc người có trách nhiệm hoàn trả đã chết, nghỉ việc, điều kiện kinh tế khó khăn, thương binh, nên chưa thực hiện được trách nhiệm hoàn trả[5].

Qua thực thi có thể thấy, pháp luật về khiếu nại, tố cáo và công tác bồi thường nhà nước trong thi hành án dân sự có một số bất cập, cụ thể như:

Thứ nhất, theo Điều 10 Luật Thi hành án dân sự quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì: “Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”, khoản 8 Điều 151 và khoản 8 Điều 153 Luật Thi hành án dân sự quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải có nội dung: “… Việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra”. Tuy nhiên, thực tế còn có vụ việc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đã né tránh nội dung giải quyết bồi thường.

Thứ hai, trên cơ sở quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật và kết luận nội dung tố cáo của người có thẩm quyền, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Quy trình để giải quyết bồi thường rất chặt chẽ, việc xác định đối tượng được bồi thường luôn đảm bảo phải chính xác, khi xác định không đúng đối tượng, mà vẫn lập hồ sơ giải quyết bồi thường sẽ dẫn đến mất nhiều thời gian cho cơ quan thẩm định và đôi khi còn làm mất quyền lợi của người bị thiệt hại, vì chính người bị thiệt hại không nắm bắt được quy định của pháp luật nên không thực hiện được việc yêu cầu giải quyết bồi thường theo đúng thời hiệu quy định.

Thực tế có trường hợp, quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền theo quy định tại Điều 142 Luật Thi hành án dân sự đã có hiệu lực pháp luật và trong quyết định giải quyết khiếu nại này đã xác định hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại, đồng thời quy định cho người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nhưng người bị thiệt hại không chấp hành quyết định này, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, mà tiếp tục gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan, ban, ngành ở tỉnh cũng như ở trung ương để khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, gây khó khăn cho công tác giải quyết bồi thường. Sau khi nhận đơn khiếu nại của đương sự, thì các cơ quan, ban, ngành chuyển đến cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường yêu cầu xem xét, giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại. Sau khi kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ yêu cầu bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường hướng dẫn cho người bị thiệt hại bổ sung hồ sơ yêu cầu bồi thường đúng quy định tại Điều 41 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nhưng người bị thiệt hại không thực hiện, vì cho rằng quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền (căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường) không khách quan, gây khó khăn cho công tác giải quyết bồi thường trong thực tế.

Từ thực trạng khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bồi thường của Nhà nước nêu trên có thể thấy rằng, để khắc phục một số khó khăn trong công tác giải quyết bồi thường về thi hành án dân sự, Ngành Thi hành án dân sự cần tổng kết thực tiễn, rà soát một cách đầy đủ, toàn diện các văn bản pháp luật có liên quan đến khiếu nại, tố cáo và bồi thường của Nhà nước trong thi hành án dân sự để xây dựng, hoàn thiện pháp luật, đảm bảo tính khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước (sửa đổi); tiến hành việc rà soát, đánh giá, làm cơ chế bồi thường theo Luật Thi hành án dân sự về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự, xác định rõ mối quan hệ giữa giải quyết khiếu nại, tố cáo và bồi thường của Nhà nước trong thi hành án dân sự; đề nghị có quy định về việc kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động giải quyết yêu cầu bồi thường, thực hiện trách nhiệm hoàn trả để nâng cao ý thức, trách nhiệm, chất lượng quản lý nhà nước về công tác bồi thường.

Nguyễn Thanh Thủy

Tổng cục Thi hành án dân sự

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 3 Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BTP-BQP ngày 07/12/2015 của Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự.

[2]. Luật Thi hành án dân sự, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, Thông tư số 02/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định quy trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự và pháp luật về tố cáo.

[3]. Điều 7 Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BTP-BQP quy định:

1. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự giao cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện nhiệm vụ liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự mà gây ra thiệt hại trong phạm vi trách nhiệm bồi thường theo quy định của Luật thì cơ quan thi hành án dân sự đó có trách nhiệm bồi thường.

2. Trường hợp gây ra thiệt hại khi tổ chức bán đấu giá tài sản thi hành án thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường được xác định như sau:

a) Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự và tổ chức bán đấu giá cùng gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại trong quá trình bán đấu giá tài sản kê biên thì phải liên đới bồi thường. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra sau đó yêu cầu tổ chức bán đấu giá phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới đối với mình theo quy định của Bộ luật Dân sự;

b) Trường hợp thiệt hại xảy ra do cơ quan thi hành án dân sự có hành vi trái pháp luật trong việc ký hợp đồng thuê thẩm định giá tài sản; bán đấu giá tài sản; ủy quyền bán đấu giá tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;

c) Trường hợp thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật của tổ chức bán đấu giá trong quá trình tổ chức bán đấu giá tài sản thi hành án thì tổ chức bán đấu giá có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự.

3. Trường hợp người bị thiệt hại không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc không có sự thống nhất về cơ quan có trách nhiệm bồi thường thì việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

[4]. Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 60 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009; Thông tư liên tịch số 06/2014/TTLT-BTP-TTCP-BQP ngày 14/02/2014 giữa Bộ Tư pháp - Thanh tra Chính phủ - Bộ Quốc phòng hướng dẫn khiếu nại, giải quyết khiếu nại về bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án dân sự.

[5]. Tài liệu Hội nghị tổng kết 6 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tr. 162 và tr. 163.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: