Thứ ba 18/08/2026 10:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến các quy định của pháp luật hiện hành về khiếu nại, tố cáo về người ứng cử và việc lập danh sách người ứng cử trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; đề xuất, kiến nghị nhằm bảo đảm tính khả thi của các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong bầu cử.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến các quy định của pháp luật hiện hành về khiếu nại, tố cáo về người ứng cử và việc lập danh sách người ứng cử trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; đề xuất, kiến nghị nhằm bảo đảm tính khả thi của các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong bầu cử.

Abstract: Within the scope of this article, the author refers to the current legal provisions on complaints and denunciations about candidates and the compilation of the list of candidates in the election of deputies to the People's Councils at all levels; proposals and recommendations are made to ensure the feasibility of legal provisions on complaints and denunciations in the election.

1. Các quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Công tác giải quyết các khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp với mục đích bảo đảm cho các bước, các công đoạn trong quá trình tổ chức bầu cử được tiến hành đúng quy định của pháp luật; việc xem xét, xác định trách nhiệm cụ thể của các cá nhân, tổ chức có vi phạm, theo pháp luật hiện hành được quy định cụ thể tại Điều 55 và Điều 61 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015. Theo đó, tại Điều 55 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về việc xác minh và trả lời các vụ việc mà cử tri nêu đối với người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phát sinh trong quá trình giới thiệu, hiệp thương, lựa chọn người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Điều luật này đã nêu rõ trách nhiệm và thời hạn xác minh, trả lời đối với các vụ việc khiếu nại, tố cáo. Kết quả xác minh, trả lời về các vụ việc nói trên là cơ sở để hội nghị hiệp thương lần thứ ba xem xét, quyết định danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình.

Điều 61 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định chung về khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử. Theo đó, công dân có quyền tố cáo về người ứng cử, khiếu nại, tố cáo về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử không phân biệt về thời điểm thực hiện việc khiếu nại, tố cáo. Ủy ban bầu cử, ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân là các cơ quan chịu trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình.

Như vậy, các khiếu nại, tố cáo liên quan đến người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đều phải được ban bầu cử, Ủy ban bầu cử tương ứng tiếp nhận, ghi vào sổ, chuyển đến các cơ quan, tổ chức hữu quan để thực hiện việc xác minh, trả lời làm cơ sở cho việc giải quyết của các cơ quan phụ trách bầu cử theo thẩm quyền. Đối với các vụ việc cử tri nêu lên về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong thời gian tiến hành hiệp thương thì việc xác minh và trả lời được thực hiện theo quy định tại Điều 55 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015. Kết quả xác minh, trả lời được gửi cho Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương để làm cơ sở cho Hội nghị hiệp thương lần thứ ba xem xét, quyết định danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình. Các tố cáo về người ứng cử từ sau khi kết thúc Hội nghị hiệp thương lần thứ ba hoặc việc xử lý kết quả xác minh những vụ việc cử tri mà chưa được trả lời theo thời hạn quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật này đều thuộc thẩm quyền xem xét, giải quyết của Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử theo quy định Điều 61 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015. Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử ngừng việc xem xét, giải quyết mọi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử và việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân 10 ngày trước ngày bầu cử. Các khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết được chuyển đến Thường trực Hội đồng nhân dân khóa mới để tiếp tục xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

Về nguyên tắc, các khiếu nại, tố cáo về tư cách của người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, liên quan đến việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các thông tin trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban bầu cử nơi đã lập và công bố danh sách này. Khi tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo này, Ban bầu cử phải chuyển ngay cho Ủy ban bầu cử để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền (điểm e khoản 2 Điều 24 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015). Căn cứ vào kết quả xác minh, trả lời của các cơ quan hữu quan, Ủy ban bầu cử có thể quyết định xóa tên người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong danh sách chính thức những người ứng cử hoặc thực hiện việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các nội dung cần thiết trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Quyết định của Ủy ban bầu cử là quyết định cuối cùng. Ban bầu cử chỉ giải quyết những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị mang tính kỹ thuật liên quan đến việc công bố, niêm yết danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử (ví dụ như, về thời điểm niêm yết, vị trí, cách thức niêm yết danh sách, các sai sót in ấn trong danh sách đã niêm yết…). Trong trường hợp người dân không đồng ý với giải quyết của Ban bầu cử thì Ủy ban bầu cử cấp tương ứng giải quyết; trình tự giải quyết được căn cứ vào nội dung vụ việc khiếu nại hay tố cáo. Các tố cáo liên quan đến sai phạm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hiệp thương, đến thành viên của Ủy ban bầu cử, đến các Ban bầu cử, Tổ bầu cử đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng. Tuy nhiên, Ủy ban bầu cử chỉ xem xét, quyết định về các nội dung liên quan trực tiếp đến việc tổ chức bầu cử; việc xem xét, xác định trách nhiệm cụ thể của các cá nhân, tổ chức có vi phạm được thực hiện theo các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Đáng chú ý, tuy Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 không quy định về thời hạn khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử và danh sách người ứng cử nhưng trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, việc xem xét, giải quyết mọi tố cáo, khiếu nại liên quan đến người ứng cử, việc lập danh sách người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp sẽ phải ngừng cho đến khi bầu cử xong. Những trường hợp tố cáo đã rõ, đủ cơ sở để kết luận người ứng cử không đáp ứng đủ tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân thì thông báo với Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng xem xét, quyết định theo thẩm quyền về việc xóa tên người đó trong danh sách chính thức những người ứng cử.

Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử và việc lập danh sách người ứng cử trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Hội đồng Bầu cử quốc gia. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Ủy ban Bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Hội đồng Bầu cử quốc gia. Về khiếu nại, tố cáo liên quan đến người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp nào thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp đó. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Ủy ban Bầu cử ở cấp tương ứng.

Khiếu nại, tố cáo trong bầu cử không chỉ để xác minh rằng các hoạt động và quyết định bầu cử cụ thể được thực hiện theo khuôn khổ pháp luật mà còn tạo điều kiện giám sát pháp lý sự hợp hiến của luật bầu cử và các đạo luật liên quan. Trên thế giới, những khiếu nại, tố cáo như vậy thường thuộc thẩm quyền của các Tòa án hoặc Hội đồng Hiến pháp, hoặc Tòa án cấp cao nhất trong bộ máy tư pháp của một quốc gia có thẩm quyền xem xét các đạo luật và các quy định chung đối với tất cả các lĩnh vực của pháp luật, không chỉ các vấn đề bầu cử. Quy định này ở Việt Nam có sự khác biệt so với quy định ở một số nước trên thế giới. Ví dụ như: ở Nam Phi, cơ quan cuối cùng đứng ra bảo vệ quyền bầu cử là Tòa án Bầu cử, trong khi cơ quan có thẩm quyền đối với tất cả các quyền chính trị cơ bản khác là Tòa án Tư pháp Tối cao; ở một số quốc gia châu Âu, bao gồm Đức và Tây Ban Nha, có các cơ quan thấp hơn khác nhau để bảo vệ các quyền, tùy thuộc vào quyền bầu cử hay quyền chính trị khác, tuy nhiên, Tòa án Hiến pháp là cơ quan xét xử cuối cùng trong cả hai trường hợp[1].

2. Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử trong bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong thời gian vừa qua

Xác định công tác bầu cử là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, trong cuộc bầu cử gần đây nhất là bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 thì Ủy ban bầu cử tại 63 tỉnh, thành phố đã tập trung quán triệt Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, các văn bản của trung ương và Ủy ban bầu cử cấp tỉnh về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, trong đó tập trung quán triệt sâu Hướng dẫn số 13-HD/UBKTTW ngày 02/12/2020 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về giải quyết tố cáo, khiếu nại về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 của cấp ủy, tổ chức đảng, Ủy ban Kiểm tra các cấp.

Bên cạnh đó, Ủy ban bầu cử các tỉnh đã thành lập tiểu ban chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, để giúp Ủy ban bầu cử cấp tỉnh chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; 100% Ủy ban bầu cử cấp huyện, xã đã thành lập tiểu ban giải quyết khiếu nại, tố cáo để tham mưu, giúp Ủy ban bầu cử cấp mình chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Ủy ban bầu cử cấp tỉnh đã ban hành kế hoạch chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; phân công cơ quan thường trực tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo về bầu cử, giúp theo dõi, đôn đốc chỉ đạo việc giải quyết đối với những đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực, thẩm quyền của ngành, đơn vị mình phụ trách, tổ chức phân công cán bộ trực tiếp công dân, xử lý đơn thư hàng ngày phục vụ bầu cử; chỉ đạo cán bộ kiểm tra tăng cường đi cơ sở, nắm bắt tình hình công tác chuẩn bị bầu cử. Trong ngày tổ chức bầu cử, 100% cán bộ theo dõi địa bàn phải đi cơ sở để theo dõi, giám sát công tác bầu cử. Ủy ban bầu cử cấp tỉnh tăng cường kiểm tra, giám sát về công tác bầu cử để kịp thời chỉ đạo cấp dưới thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bầu cử, đặc biệt nhắc nhở, chấn chỉnh, hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp ủy[2].

Tính đến ngày 02/7/2021, Hội đồng bầu cử quốc gia tiếp nhận tổng số 220 đơn thư của công dân có nội dung khiếu nại, tố cáo và phản ánh về bầu cử và ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 (còn ở kỳ bầu cử trước là kỳ bầu cử nhiệm kỳ 2016 -2021, Hội đồng bầu cử tiếp nhận được 998 đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ảnh về bầu cử)[3]. Qua nghiên cứu kết quả thẩm tra, xác minh, giải quyết của cơ quan có thẩm quyền, nội dung công dân thông tin, phản ánh về các nhân sự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cho thấy, các cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện trình tự thủ tục xem xét, giải quyết và trả lời đúng theo quy định của pháp luật. Trong số 142 đơn tố cáo, phản ánh về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân chủ yếu liên quan đến nhân sự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, chiếm đến 78,2% tổng số ứng cử viên có đơn tố cáo, phản ánh. Nội dung tố cáo, phản ánh về người ứng cử chủ yếu liên quan cho rằng một số ứng cử viên có phẩm chất đạo đức yếu kém; vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm; lợi dụng chức vụ quyền hạn trong lĩnh vực quản lý đất đai như trong thực hiện công vụ công tác thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện dồn thửa, đổi ruộng, tranh chấp đất đai; tiêu cực trong quản lý tài chính, đầu tư, xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách xã hội, công tác cán bộ; thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, bao che người bị tố cáo, không xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật… Đối tượng bị tố cáo, phản ánh chủ yếu là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cấp xã, công chức địa chính, cán bộ chuyên môn cấp xã, trưởng thôn, bí thư chi bộ thôn; một số đối tượng bị tố cáo là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cấp huyện. Số đơn thư trùng lặp về nội dung, đơn không liên quan đến bầu cử do nội dung tố cáo của công dân xuất phát từ việc khiếu nại, tố cáo không đạt được mục đích, nên chuyển sang tố cáo người đứng đầu cơ quan, tổ chức giải quyết mà không đưa ra được căn cứ tố cáo. Số vụ việc khiếu nại, tố cáo về bầu cử, nhất là các đoàn đông người, phức tạp giảm nhiều, số lượng đơn thư gửi Hội đồng Bầu cử quốc gia chỉ bằng 18% so với kỳ bầu cử trước. Điều này cho thấy cấp ủy, chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương đã thực hiện tốt công tác chuẩn bị nhân sự để giới thiệu, lựa chọn người ứng cử; làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là những vụ việc đông người, phức tạp đã được các cấp ủy, chính quyền địa phương tập trung xem xét, chỉ đạo dứt điểm ngay từ cơ sở.

3. Một số kiến nghị

Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị, pháp lý, các vấn đề liên quan đến bầu cử phải được quy định chặt chẽ trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia. Những phân tích trên đã cho thấy, hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử ở Việt Nam đã được quan tâm, được quy định trong một số văn bản pháp luật về bầu cử. Mặc dù vậy, trong quá trình thi hành còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Để hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, việc lập danh sách người ứng cử trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cần lưu ý một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, công tác nhân sự, hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử cần được triển khai bài bản, dân chủ, khách quan, thận trọng, khoa học, bảo đảm nguyên tắc và quy trình, thủ tục. Công tác chuẩn bị nhân sự tham gia ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cần được tiến hành thận trọng, bảo đảm đúng quy trình, phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, toàn diện của Đảng trong công tác cán bộ; giới thiệu những người tiêu biểu về phẩm chất, đạo đức, năng lực, có quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, đủ điều kiện, tiêu chuẩn thực hiện nhiệm vụ đại biểu, xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cần được tiến hành điều chỉnh dự kiến phù hợp với yêu cầu và tình hình công tác nhân sự cụ thể ở địa phương.

Thứ hai, để bảo đảm thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, việc lập danh sách người ứng cử trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, Hội đồng Bầu cử quốc gia cần chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phối hợp tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý những đơn, thư khiếu nại, tố cáo về bầu cử. Trong đó, cần phải bám sát các quy định pháp luật hiện hành về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động bầu cử để chủ động xây dựng kế hoạch tiếp công dân, phân công cán bộ tiếp nhận, xử lý đơn thư để bảo đảm giải quyết kịp thời, khách quan, chính xác các đơn thư, phản ánh, tố cáo về nhân sự ứng cử, về công tác bầu cử. Có thể thấy, các quy định về khiếu nại, tố cáo trong hoạt động bầu cử có vai trò rất quan trọng để bảo đảm tối đa việc tuân thủ nguyên tắc dân chủ trong việc tổ chức các cuộc bầu cử tự do, công bằng và trung thực và bảo vệ các quyền bầu cử, do đó cần được quy định rõ ràng hơn, hoàn thiện hơn và dễ tiếp cận đối với mọi cá nhân, tổ chức.

Thứ ba, cần có quy định phân biệt giữa chủ thể quyền khiếu nại với chủ thể tố cáo về người ứng cử và việc lập danh sách người ứng cử trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Hiện nay, bất kỳ cá nhân nào biết về các vi phạm pháp luật của người ứng cử đều được thực hiện quyền tố cáo. Do việc khiếu nại phải gắn với yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại nên pháp luật bầu cử cần phải xác định rõ quyền khiếu nại thuộc về chủ thể nào[4]. Điều này không chỉ giúp cá nhân, tổ chức hiểu được quyền, nghĩa vụ của mình mà còn làm căn cứ để cơ quan có thẩm quyền có thể từ chối giải quyết những khiếu nại do người không có quyền khiếu nại gửi đến, cũng như hạn chế trường hợp cá nhân, tổ chức lợi dụng quyền khiếu nại làm cản trở hoạt động bầu cử. Trong việc lập danh sách người ứng cử, người khiếu nại phải là người đã được giới thiệu ứng cử hoặc tự ứng cử khi phát hiện có sai sót trong danh sách người ứng cử liên quan đến mình; các cơ quan, tổ chức giới thiệu người ứng cử cũng có quyền khiếu nại về danh sách người ứng cử liên quan đến người ứng cử do cơ quan, tổ chức đã giới thiệu.

Thứ tư, pháp luật bầu cử cần bổ sung quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử và việc lập danh sách người ứng cử trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Do pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể, trực tiếp về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử và việc lập danh sách người ứng cử trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Dương Thị Thân Thương
Phân hiệu Đại học Luật Hà Nội tại Đắk Lắk



[1]. Tư pháp bầu cử: Sổ tay IDEA quốc tế, tr. 15.

[2]. https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-doan-dai-bieu-quoc-hoi.aspx?ItemID=56883.

[3]. Báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 ngày 14/7/2021 của Hội đồng Bầu cử quốc gia.

[4]. TS. Nguyễn Ngọc Bích, Khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 05, tháng 03/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: