Thứ ba 22/09/2026 14:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khó khăn, vướng mắc trong thi hành án dân sự khi người thừa kế từ chối nhận di sản do người được thi hành án chết để lại

Trên thực tế có nhiều trường hợp người được thi hành án sau khi đã làm đơn yêu cầu thi hành án nhưng vì một lý do nào đó lại yêu cầu cơ quan thi hành án không tiếp tục thi hành một phần hoặc toàn bộ việc thi hành án. Đối với những trường hợp như vậy, cơ quan thi hành án căn cứ quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) để ra quyết định đình chỉ thi hành, nếu có khoản tiền, tài sản thi hành án đã thu được thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ trả lại cho người phải thi hành án.

1. Tình huống phát sinh từ thực tiễn

Tuy nhiên, thực tiễn có những trường hợp, khi người được thi hành án chết thì người thừa kế của họ lại từ chối nhận di sản hoặc từ chối nhận chuyển giao quyền và nghĩa vụ phát sinh từ bản án, quyết định cơ quan thi hành án đang tổ chức thi hành, mặc dù cơ quan thi hành án đã thu được tiền, tài sản thi hành án từ người phải thi hành án. Hiện nay, các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự liên quan đến vấn đề này còn chưa cụ thể, rõ ràng. Do vậy, khi gặp phải trường hợp trên, cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên rất lúng túng trong cách giải quyết, thậm chí là có các cách hiểu và giải quyết khác nhau dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Để hiểu rõ hơn vấn đề trên, chúng ta xem xét một tình huống đã xảy ra trên thực tế tại một cơ quan thi hành án dân sự địa phương như sau:

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 528/DSST ngày 09/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tuyên buộc ông B phải trả cho ông T số tiền 185.000.000 đồng. Sau khi án có hiệu lực, ông T đã làm đơn yêu cầu thi hành án và Chi cục Thi hành án dân sự huyện D đã thụ lý và giao cho chấp hành viên tổ chức thi hành. Do ông B không có tiền trả nợ nên đã đồng ý để cơ quan thi hành án kê biên, xử lý quyền sử dụng đất để trả nợ cho ông T. Chấp hành viên đã tiến hành kê biên, thẩm định giá theo quy định. Tài sản được tổ chức bán đấu giá thành với giá 265.000.000 đồng. Trong thời gian chờ người mua tài sản thanh toán tiếp số tiền còn lại thì ông T bị tai nạn giao thông chết. Do ông T đã chết nên chấp hành viên thông báo cho những người thừa kế của ông T biết để làm thủ tục thừa kế quyền của ông T theo bản án (người mua trúng đấu giá đã nộp đủ số tiền theo hợp đồng mua bán tài sản đấu giá). Tuy nhiên, ngày 06/11/2019, vợ và con của ông T là bà N và anh M đã thỏa thuận không yêu cầu ông B phải trả nợ và đồng ý để cơ quan thi hành án đình chỉ thi hành án đối với ông B. Ngay sau đó, ngày 07/11/2019, ông H đến gặp chấp hành viên và cho biết ông là anh em bà con với ông T và đã được ông T để lại di chúc cho hưởng toàn bộ số tiền được thi hành từ bản án trên, đồng thời, cung cấp cho chấp hành viên bản sao có công chứng của tờ di chúc. Sau khi biết được ông H có tờ di chúc thì bà N đã đến làm việc với chấp hành viên và cho rằng di chúc mà ông H có là giả tạo, đề nghị cơ quan thi hành án không chi tiền cho ông H. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên, chấp hành viên đã hướng dẫn cho bà N khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định. Sau đó, bà N đã khởi kiện yêu cầu hủy di chúc giả tạo. Ngày 28/11/2019, Tòa án nhân dân huyện D đã có thông báo thụ lý vụ án. Vì vậy, Chi cục Thi hành án dân sự huyện D đã ra quyết định hoãn thi hành án. Tuy nhiên, đến ngày 22/4/2020, Tòa án có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do không xác định được địa chỉ của ông H. Vì vậy, Chi cục Thi hành án dân sự huyện D đã ra quyết định tiếp tục thi hành án để giải quyết vụ việc. Sau nhiều lần gửi giấy mời nhưng ông H vẫn không đến cơ quan thi hành án để làm việc, qua tìm hiểu, chấp hành viên được biết địa chỉ do ông H cung cấp là nhà của người quen, trước đây, ông H chỉ ở nhờ còn hiện nay ông ở đâu thì không ai biết. Vì hiện nay ông H không đến cơ quan thi hành án để giải quyết việc xin nhận tiền theo di chúc nên cơ quan thi hành án đang lúng túng trong việc xử lý số tiền đã thu được từ việc bán đấu giá tài sản của ông B.

2. Thủ tục xử lý tài sản thi hành án khi đương sự không nhận

Hiện nay, theo pháp luật về thi hành án dân sự thì có các trường hợp đương sự không đến nhận tài sản được quy định cụ thể tại các điều khoản như sau: (i) Cưỡng chế trả nhà, giao nhà theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự; (ii) Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất mà có tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 117 Luật Thi hành án dân sự; (iii) Trả lại tiền, tài sản tạm giữ cho đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự; (iv) Trả lại tiền tạm ứng án phí theo bản án, quyết định theo quy định tại khoản 5 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự; (v) Khoản tiền được thi hành án có giá trị nhỏ hơn 01 tháng lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Nhà nước quy định theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

Trong cả năm trường hợp trên thì việc xử lý tài sản đều áp dụng quy định tại Điều 126 Luật Thi hành án dân sự, cụ thể: Đối với tiền, hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận thì chấp hành viên gửi số tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho đương sự. Đối với tài sản, hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do chính đáng thì chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các điều 98, 99 và 101 của Luật này và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà đương sự vẫn không đến nhận số tiền đã được gửi tiết kiệm mà không có lý do chính đáng thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước. Vấn đề này được hướng dẫn cụ thể tại khoản 5, khoản 6 Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.

Ngoài ra, đối với một số tài sản đặc thù thì được xử lý theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự.

Theo các quy định trên, chúng ta có thể thấy một số đặc điểm đối với tài sản trong các trường hợp đương sự không nhận như sau: Thứ nhất, hầu hết các tài sản thường có giá trị nhỏ; thứ hai, các tài sản chủ yếu là tiền hoặc động sản; thứ ba, chủ yếu là trong các vụ việc thi hành án chủ động hoặc đương sự chủ yếu là người phải thi hành án.

3. Áp dụng pháp luật để giải quyết tình huống phát sinh trên thực tế

Trở lại với tình huống đã nêu, hiện tại, cơ quan thi hành án đã thu được tiền bán đấu giá tài sản, tuy nhiên, vấn đề vướng mắc là vợ và con của ông T là bà N và anh M không yêu cầu ông B phải thi hành án, cơ quan thi hành án chưa ra quyết định đình chỉ thi hành án thì ngay sau đó ông H xuất hiện, yêu cầu được hưởng tài sản theo di chúc nhưng sau đó, ông H lại không tiếp tục liên hệ với Tòa án và cơ quan thi hành án để giải quyết, xác định về tính hợp pháp của di chúc. Do vậy, vấn đề đặt ra cho cơ quan thi hành án dân sự là tiếp tục giải quyết vụ việc thi hành án trên và xử lý số tiền đã bán đấu giá thành như thế nào? Hiện nay, vẫn đang có những quan điểm khác nhau để giải quyết tình huống trên:

- Quan điểm thứ nhất là áp dụng điểm a khoản 5 Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để giải quyết. Có nghĩa là cơ quan thi hành án sẽ gửi tiền thu được từ việc bán đấu giá vào tài khoản ngân hàng chờ khi nào ông H liên hệ sẽ giải quyết. Nếu quá thời hạn mà ông H không liên hệ với cơ quan thi hành án để giải quyết thì sẽ làm thủ tục sung quỹ nhà nước.

- Quan điểm thứ hai cho rằng, cần áp dụng điểm b khoản 4 Điều 5 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự (Thông tư liên tịch số 11) để giải quyết. Theo đó, trong quá trình xử lý tài sản để thi hành án, người được thi hành án chết mà không có người thừa kế thì: “Trường hợp tài sản đã được bán đấu giá thành thì số tiền thu được từ việc bán đấu giá được trừ đi các khoản chi phí cưỡng chế, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản đó. Số tiền phải thi hành cho người được thi hành án chết thuộc về ngân sách nhà nước, số tiền còn lại (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật”. Theo quan điểm này, với tình huống trên thì mặc dù người được thi hành án chết có người thừa kế là vợ và con nhưng hai người này không yêu cầu tiếp tục thi hành án, từ chối nhận thừa kế, bên cạnh đó, ông H xuất trình di chúc nhưng khi có tranh chấp về tính xác thực của di chúc, ông lại không liên hệ nên Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ việc, do đó, cơ quan thi hành án không có cơ sở để chấp nhận di chúc mà ông H đã xuất trình, vì vậy, trường hợp này được xem là không có người thừa kế nên phải áp dụng điểm b khoản 4 Điều 5 Thông tư liên tịch số 11 để giải quyết.

Tác giả cho rằng, tình huống trên là một trường hợp khá đặc biệt và cách giải quyết như hai quan điểm đã nêu còn có những điểm chưa hợp lý: (i) Quan điểm thứ nhất cho rằng khoản tiền bán đấu giá thành là khoản tiền, tài sản chưa xác định được địa chỉ của người được nhận hoặc khoản tiền hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông báo, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP mà người được thi hành án đã yêu cầu thi hành án không đến nhận, thì theo tác giả, trong tình huống này, chưa thể xem ông H là người đã yêu cầu thi hành án được vì cơ quan thi hành án chưa làm thủ tục chuyển giao quyền cho ông H. Do vậy, việc áp dụng điểm a khoản 5 Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để giải quyết là không phù hợp. (ii) Quan điểm thứ hai cho rằng tình huống trên có thể xem như không có người thừa kế thì theo tác giả là không phù hợp, bởi vì: Thứ nhất, ông T có vợ và con, ngoài ra còn xuất hiện thêm tờ di chúc của ông T cho ông H hưởng thừa kế tài sản phát sinh từ bản án (mặc dù cơ quan thi hành án không xác định được tính hợp pháp của tờ di chúc này). Như vậy, rõ ràng, tình huống này là có người thừa kế, nên cho dù những người này đều thống nhất từ chối nhận di sản thì cũng không thể xử lý sung quỹ nhà nước đối với số tiền đã thi hành án được mà phải áp dụng điểm b khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự để đình chỉ thi hành án.

Theo tác giả, để tiếp tục giải quyết việc thi hành án trên thì cần phải thực hiện các thủ tục sau: Một là, do vụ việc đã bị tạm hoãn thi hành án để chờ kết quả giải quyết của Tòa án nên sau khi nhận được quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc của Tòa án thì cơ quan thi hành án phải ra quyết định tiếp tục thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự. Hai là, khi có quyết định tiếp tục thi hành án, chấp hành viên thực hiện thủ tục xác minh, thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 11. Mặc dù trong tình huống trên có người thừa kế theo pháp luật, ngoài ra còn có người thừa kế theo di chúc, tuy nhiên, người thừa kế theo pháp luật thì không đồng ý nhận di sản, còn người thừa kế theo di chúc khi phát sinh tranh chấp về tính hợp pháp của di chúc thì lại không liên hệ với có quan chức năng để giải quyết. Do vậy, mặc dù đây không phải là trường hợp người được thi hành án chết mà không có người thừa kế, nhưng việc thông báo công khai là cần thiết để đảm bảo thủ tục giải quyết việc thi hành án được chặt chẽ. Đồng thời với việc thông báo, chấp hành viên cần mời vợ, con của ông T là bà N và anh M đến làm việc, hướng dẫn cho họ có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế (do họ có ý định không nhận di sản, nên việc yêu cầu họ làm đơn yêu cầu thi hành án để làm thủ tục chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo Điều 54 Luật Thi hành án dân sự sẽ khó khăn, vì vậy, nên hướng dẫn làm thủ tục từ chối nhận di sản sẽ giảm được thủ tục mà vẫn phù hợp với quy định). Ba là, sau khi đã có được văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của vợ, con ông T và hết thời hạn thông báo mà không có người nào yêu cầu nhận di sản thừa kế thì cơ quan thi hành án căn cứ điểm b khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự để đình chỉ thi hành án, đồng thời làm thủ tục trả lại tiền bán tài sản cho ông B sau khi trừ các chi phí cưỡng chế thi hành án.

Cách giải quyết như vậy là phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm quyền lợi cho các bên đương sự. Mặc dù, sẽ có quan điểm cho rằng việc đình chỉ thi hành án, trả lại tiền cho người phải thi hành án sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của ông H là người được thừa kế theo di chúc. Tuy nhiên, do di chúc mà ông H xuất trình có tranh chấp (vợ, con của người được thi hành án cho rằng đó là di chúc giả), cơ quan thi hành án không có thẩm quyền xác định đó là di chúc thật hay di chúc giả và cũng chưa thực hiện thủ tục chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho ông H. Như vậy, ông H chưa phải là đương sự hay là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc thi hành án này. Đồng thời, cơ quan thi hành án đã hướng dẫn cho các bên yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết và Tòa cũng đã thụ lý vụ việc, nhưng ông H đã không tiếp tục liên hệ với Tòa án cũng như cơ quan thi hành án để giải quyết, bảo vệ quyền lợi của mình. Ngoài ra, cơ thi hành án cũng đã thực hiện thủ tục thông báo sau khi có quyết định tiếp tục thi hành án theo quy định. Do đó, việc cơ quan thi hành án đình chỉ thi hành án là có căn cứ và ông H không có cơ sở để khiếu nại việc đình chỉ thi hành án.

Đối với tình huống trên, hiện nay, vấn đề có thể gây lúng túng cho cơ quan thi hành án đó chính là việc xác định căn cứ để ra quyết định đình chỉ thi hành án khi người được thi hành án chết mà có người thừa kế nhưng họ lại từ chối nhận di sản. Do hiện nay chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể, nên vấn đề này sẽ có hai quan điểm và cách giải quyết khác nhau. Quan điểm thứ nhất: Do người được thi hành án chết nhưng có người thừa kế (mặc dù họ từ chối nhận di sản) nên phải thực hiện thủ tục chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự, sau đó mới hướng dẫn đương sự làm văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành án căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự. Quan điểm thứ hai: Mặc dù có người thừa kế, nhưng người thừa kế từ chối nhận di sản nên cũng giống như trường hợp không có người thừa kế, do đó, cần áp dụng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự để đình chỉ thi hành án mà không cần phải làm thủ tục chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự. Xét về thủ tục thì có vẻ như hai quan điểm này đều có cơ sở và có căn cứ pháp luật, chỉ khác nhau về thủ tục giải quyết, nhưng kết quả cuối cùng đều là đình chỉ việc thi hành án. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng, đây là trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã thu được tiền của người phải thi hành án. Do vậy, quan điểm giải quyết khác nhau sẽ ảnh hưởng đến việc xử lý khác nhau đối với số tiền đã thu được, điều này cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người phải thi hành án. Theo đó, nếu giải quyết theo quan điểm thứ nhất thì số tiền đã thu được cần phải trả lại cho người phải thi hành án vì người thừa kế đã trở thành người được thi hành án (đã được chuyển giao quyền và nghĩa vụ) và họ đã có yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự. Có nghĩa là họ đã thể hiện ý chí không yêu cầu người phải thi hành án phải trả tiền, tài sản cho họ. Nếu theo quan điểm thứ hai giải quyết vụ việc giống như trường hợp không có người thừa kế thì đình chỉ thi hành án luôn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự mà không cần làm thủ tục chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự. Tuy nhiên, làm như vậy sẽ không phù hợp, vì theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 5 Thông tư liên tịch số 11 thì nếu cơ quan thi hành án dân sự đã thu được tiền, tài sản nhưng người được thi hành án chết và không có người thừa kế, việc thi hành án vẫn tiếp tục mà không bị đình chỉ thi hành theo quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự. Đồng thời, số tiền thi hành án thu được sẽ được sung quỹ nhà nước chứ không phải trả lại cho người phải thi hành án. Như vậy, rõ ràng trong tình huống trên, mặc dù người được thừa kế đã thể hiện rõ ý chí là từ chối nhận di sản thừa kế, yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục thi hành nhưng với cách hiểu khác nhau, thủ tục khác nhau sẽ cho ra hậu quả pháp lý khác nhau. Với cách giải quyết theo quan điểm thứ nhất thì thủ tục sẽ phức tạp hơn, nhưng lại có lợi cho người phải thi hành án vì họ sẽ được nhận lại tiền, tài sản đã nộp. Với cách giải quyết theo quan điểm thứ hai thì thủ tục sẻ đơn giản hơn, nhưng lại không có lợi cho người phải thi hành án vì số tiền họ đã thi hành sẽ thuộc ngân sách nhà nước.

4. Đề xuất, kiến nghị

Tác giả cho rằng, nguyên nhân dẫn đến việc một tình huống như trên nhưng có nhiều quan điểm giải quyết khác nhau là do pháp luật chưa dự liệu trước trường hợp người được thi hành án chết, có người thừa kế nhưng người thừa kế lại từ chối nhận di sản phát sinh từ bản án mà cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành. Chính vì vậy, giải pháp tối ưu nhất để giải quyết trường hợp trên là phải sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự để điều chỉnh vấn đề này. Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự thì cần phải có thời gian. Do vậy, trong thời điểm hiện nay, để giúp các cơ quan thi hành án dân sự địa phương đang gặp phải vướng mắc với những trường hợp như trên, cơ quan có thẩm quyền cần có văn bản hướng dẫn thống nhất cách hiểu, cách giải quyết.

Theo tác giả, cần thống nhất cách hiểu trường hợp người được thi hành án chết mà có người thừa kế, nhưng người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không đồng ý nhận tiền, tài sản phát sinh từ bản án thì được xem là trường hợp “người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế” theo quy định tại đoạn đầu của điểm b khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự, mà không xem là trường hợp “không có người thừa kế”. Theo đó, cơ quan thi hành án dân sự sẽ không phải làm thủ tục chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho người thừa kế vì đây là trường hợp không được chuyển giao (tuy nhiên, trước đó, chấp hành viên cần phải lập biên bản hoặc hướng dẫn người thừa kế có văn bản từ chối nhận di sản). Như vậy, tùy thuộc vào số người thừa kế, nội dung từ chối nhận di sản mà cơ quan thi hành án dân sự sẽ ra quyết định đình chỉ một phần hoặc toàn bộ việc thi hành án căn cứ điểm b khoản 1 Điều 50 nói trên. Đối với khoản đình chỉ thi hành, nếu cơ quan thi hành án dân sự chưa thu được tiền, tài sản thì không tiếp tục thi hành, còn nếu đã thu được tiền, tài sản thì tiến hành trả lại cho người phải thi hành án mà không thực hiện thủ tục sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 5 Thông tư liên tịch số 11. Nếu thống nhất được cách hiểu và cách giải quyết như vậy thì chúng ta sẽ đạt được các mục tiêu sau: Việc thi hành án được giải quyết đúng pháp luật; trình tự thủ tục nhanh gọn, rõ ràng (so với thủ tục chuyển giao quyền và nghĩa vụ); đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Hồ Quân Chính

Học viện Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: