Thứ năm 08/10/2026 13:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khó khăn, vướng mắc trong việc đăng ký khai sinh cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Đăng ký khai sinh là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào sổ sự kiện sinh của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân cũng như thực hiện quản lý về dân cư. Do đó, việc cá nhân đăng ký khai sinh, được cấp giấy khai sinh sẽ là bước đệm, căn cứ pháp lý đầu tiên để thực hiện các quyền, lợi ích, nghĩa vụ khác như: Đăng ký hộ khẩu thường trú, làm thẻ bảo hiểm y tế, thẻ căn cước công dân... Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, ở một số địa bàn vùng sâu, vùng xa của tỉnh Gia Lai, việc làm giấy khai sinh đang gặp nhiều khó khăn… Bài viết này đề cập đến giá trị pháp lý của giấy khai sinh và phân tích một số khó khăn, vướng mắc trong việc đăng ký khai sinh cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Gia Lai, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.


1. Giá trị pháp lý của giấy khai sinh

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Gia Lai đang đẩy mạnh việc làm căn cước công dân gắn chip cho người dân để thay cho việc cấp chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân mã vạch. Trong hồ sơ cấp căn cước công dân đòi hỏi thông tin phải đầy đủ và thống nhất. Trường hợp chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu mà không có ngày, tháng, năm sinh hoặc thiếu các thông tin khác thì giấy khai sinh là bắt buộc để có cơ sở và là giấy tờ đầy đủ thông tin nhất để làm căn cước công dân. Tuy nhiên, ở các huyện, các xã trên địa bàn tỉnh Gia Lai có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, thông tin hộ tịch hầu như không trùng khớp, thậm chí những thông tin do cùng cơ quan công an cấp như chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu có sự khác nhau về họ tên, ngày, tháng, năm sinh… Các hồ sơ cá nhân như chứng chỉ, văn bằng, học bạ, giấy chứng nhận cũng có sai sót thông tin hộ tịch của cá nhân. Vì vậy, cần phải đối chiếu giấy khai sinh và chỉnh lý thông tin theo giấy khai sinh cho phù hợp, bởi theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (Nghị định số 123/2015/NĐ-CP) thì giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc, thể hiện những thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân và là cơ sở để xác định thông tin của một cá nhân trên các loại hồ sơ, giấy tờ liên quan đến nhân thân của cá nhân đó. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân phải phù hợp với giấy khai sinh về các thông tin như họ tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quê quán…

Như vậy, giấy khai sinh là cơ sở để xác định họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quan hệ cha, mẹ, con của một người; xác định người thừa kế; người đại diện hoặc năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Trường hợp nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với nội dung trong giấy khai sinh thì phải điều chỉnh hồ sơ, giấy tờ theo đúng nội dung trong giấy khai sinh. Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh Gia Lai, có nhiều trường hợp đồng bào dân tộc thiểu số chưa đăng ký khai sinh hoặc đã đăng ký nhưng sổ hộ tịch, hồ sơ gốc bị mất, thất lạc hoặc không còn lưu giữ dẫn đến thông tin cá nhân trong hồ sơ, giấy tờ không trùng khớp.

Nguyên nhân của thực trạng này chủ yếu là do nhiều đồng bào dân tộc thiểu số chưa nhận thức được tầm quan trọng của giấy khai sinh và hiểu biết về pháp còn hạn chế. Nhiều đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn chưa nắm rõ được thủ tục, giấy tờ khi đăng ký khai sinh; việc đi lại còn gặp nhiều khó khăn do đường xá xa xôi, trắc trở; tâm lý sợ sệt khi đến cơ quan công quyền. Bên cạnh đó, một bộ phận công chức tư pháp - hộ tịch có thái độ làm việc sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà, chưa tuân thủ giờ giấc làm việc dẫn đến việc phải chờ đợi, chưa tạo điều kiện cho đồng bào ở xa thuận tiện trong việc đăng ký khai sinh; sự phối hợp với các cơ quan chức năng để xuống cơ sở tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch của công chức tư pháp - hộ tịch tại địa phương chưa thực sự hiệu quả.

2. Một số khó khăn, vướng mắc trong việc đăng ký khai sinh

Theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 thì: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con;…”. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn chậm trễ trong việc đăng ký khai sinh, thậm chí có người đến tuổi đi học mà vẫn chưa đăng ký. Mặc dù giấy khai sinh được coi là giấy tờ hộ tịch gốc, mọi hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác phải phù hợp và theo đúng nội dung giấy khai sinh nhưng thực tế hiện nay ở các thôn, làng trên địa bàn tỉnh Gia Lai - nơi có nhiều người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lại không có đăng ký khai sinh. Khi đến tuổi đi học, hoặc đến khi hồ sơ, giấy tờ cá nhân sai sót, hoặc khi làm thẻ căn cước công dân thì lúc này mới tiến hành đi đăng ký khai sinh. Trước đây, đồng bào dân tộc thiểu số thường đến cơ quan công an xã để làm sổ hộ khẩu và tự khai thông tin cá nhân như họ tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, dân tộc, quốc tịch… và sử dụng chính những thông tin tự khai này để đăng ký đi học, đi làm hoặc làm những giấy tờ khác như chứng minh nhân dân. Điều này dẫn đến tình trạng có những thông tin hộ tịch không trùng khớp, thậm chí trong các giấy tờ tự khai thì mỗi giấy tờ một thông tin.

Có thể kể đến sai sót như “họ” của con không cùng “họ” của cha hoặc “họ” của mẹ. Đơn cử như, chị Siu P, sinh năm 1976, có đến Ủy ban nhân dân (UBND) xã để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho bản thân. Theo như chị Siu P trình bày, chị sinh năm 1976 nhưng do hiểu biết về pháp luật còn hạn chế nên cha, mẹ cũng như bản thân chị từ trước đến nay chưa đăng ký khai sinh tại UBND xã. Nay chị đi đăng ký khai sinh tại UBND xã, chị đã cung cấp hồ sơ, giấy tờ cá nhân cho UBND xã theo quy định và cam đoan chịu trách nhiệm về giá trị pháp lý của các giấy tờ đã nộp. Cụ thể, chị Siu P đã nộp chứng minh nhân dân mang tên Siu P, sinh năm 1976; sổ hộ khẩu của chị Siu P do chính chị làm chủ hộ cũng mang tên Siu P, sinh năm 1976; sổ hộ khẩu của cha mẹ chị Siu P, trong đó, cha chị là ông Rơ Châm D làm chủ hộ, mẹ của chị là bà Puih M, có tên chị Siu P (tách khẩu), các anh chị của chị Siu P mang họ Rơ Châm. Ngoài ra, chị Siu P còn cung cấp thêm “văn bản xác minh quan hệ cha, mẹ, con” có xác nhận của cơ quan công an, xác nhận của người làm chứng và xác nhận của UBND xã trong đó có nội dung là chị Siu P, sinh năm 1976 có cha là Rơ Châm P và mẹ là Puih M. Trường hợp của chị Siu P chỉ là một trong rất nhiều trường hợp mà khi đi đăng ký khai sinh “họ” của con không cùng “họ” của cha hoặc “họ” của mẹ, thậm chí, anh, chị, em cùng cha, mẹ đẻ mà lại có “họ” khác nhau.

Hoặc, đơn cử trường hợp khác là, khi anh Rơ Châm T đi đăng ký khai sinh cho bản thân, hồ sơ, giấy tờ cá nhân của anh T đều mang họ Rơ Châm. Tuy nhiên, cha mẹ anh T đều không có họ mà chỉ có mỗi tên.

Điều này gây khó khăn, lúng túng cho công chức tư pháp - hộ tịch khi thực hiện thủ tục đăng ký. Bởi lẽ, về mặt nguyên tắc, theo pháp luật dân sự thì việc xác định “họ” cho con phải theo “họ” của cha hoặc “họ” của mẹ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ...” . Do đó, con sinh ra bắt buộc phải theo họ cha hoặc họ mẹ và việc theo họ ai là do cha, mẹ thỏa thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì xác định theo tập quán, vùng miền. Ngoài ra, tại điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định rất rõ về việc ghi họ trong giấy khai sinh: “Họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán”. Đối với tập quán của người đồng bào dân tộc Jrai theo truyền thống mẫu hệ, con cái khi sinh ra thường mang họ mẹ. Theo như quy định nêu trên thì công chức tư pháp - hộ tịch khi đăng ký khai sinh cho chị Siu P thì xác định họ của chị Siu P phải là họ Puih (họ của mẹ) hoặc họ Rơ Châm (họ của cha) và trường hợp của anh Rơ Châm T do cha mẹ anh không có họ nên khi đăng ký khai sinh phải bỏ họ Rơ Châm đi thì mới đúng nguyên tắc pháp luật dân sự và phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nếu đăng ký khai sinh theo đúng nguyên tắc như trên thì sẽ dẫn đến “họ” trên giấy khai sinh sau khi đăng ký không trùng khớp với thông tin, “họ” trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân đã có trước đây (như bằng cấp, giấy tờ tùy thân, sổ hộ khẩu và giấy chứng nhận kết hôn…), gây xáo trộn thông tin và người dân phải đi cải chính lại toàn bộ thông tin hộ tịch theo giấy khai sinh. Việc cải chính hộ tịch hồ sơ, giấy tờ cá nhân nếu theo “họ” của cha hoặc “họ” của mẹ cũng sẽ gặp khó khăn, tốn kém thời gian, công sức và tiền bạc, vì các giấy tờ không chỉ do một cơ quan có thẩm quyền cấp mà liên quan đến nhiều cơ quan chức năng khác nhau như chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu phải liên hệ với cơ quan công an để điều chỉnh thay đổi; giấy chứng nhận kết hôn phải cải chính lại tại UBND cấp huyện nơi đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú và bằng cấp, học bạ, hồ sơ học tập thì rất khó để điều chỉnh, chưa kể vì giấy khai sinh mới được đăng ký sau này nên nhiều địa phương đang còn lúng túng vì cho rằng chưa đủ cơ sở để cải chính hộ tịch.

3. Một số kiến nghị

Vấn đề trước mắt và cấp thiết là giải quyết yêu cầu của người dân để họ sớm có đủ thông tin đăng ký khai sinh làm thẻ căn cước công dân. Theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì: “Trường hợp người yêu cầu không có bản sao giấy khai sinh nhưng hồ sơ, giấy tờ cá nhân có sự thống nhất về nội dung khai sinh thì đăng ký lại theo nội dung đó. Nếu hồ sơ, giấy tờ không thống nhất về nội dung khai sinh thì nội dung khai sinh được xác định theo hồ sơ, giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chính thức hợp lệ đầu tiên…”. Căn cứ quy định nêu trên và căn cứ Công văn số 884/HTQTCT-HT ngày 04/9/2020 của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực gửi Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu, để bảo đảm quyền lợi của công dân, tôn trọng tính lịch sử và hồ sơ, giấy tờ được thống nhất thì Sở Tư pháp hướng dẫn cơ quan đăng ký hộ tịch đăng ký khai sinh theo đúng thông tin trong hồ sơ, giấy tờ của cá nhân. Sau khi đăng ký khai sinh, nếu công dân có yêu cầu cải chính theo “họ” của cha hoặc “họ” của mẹ thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận và giải quyết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”. Rõ ràng, về nguyên tắc, không thể áp dụng Điều 25 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP vì quy định khác với Bộ luật Dân sự năm 2015. Hơn nữa, công văn hướng dẫn nghiệp vụ của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực chỉ hướng dẫn những địa phương có vướng mắc, khó khăn mà chưa gửi tất các các Sở Tư pháp thuộc các tỉnh, thành phố. Vì vậy, tác giả kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sớm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành để áp dụng chung, thống nhất trên cả nước.

Ngoài ra, để nâng cao hiểu biết của đồng bào dân tộc thiểu số trong việc đăng ký khai sinh đầy đủ, kịp thời thì công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò hết sức quan trọng như phối hợp với ban, ngành, đoàn thể xuống tận thôn, làng để tuyên truyền, cấp phát tài liệu, tờ gấp đến tay người dân. Thường xuyên tập huấn, nâng cao năng lực cho đội ngũ tuyên truyền viên và công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã. Đối với công chức tư pháp - hộ tịch, cần phải chủ động kiểm tra, rà soát để đăng ký khai sinh kịp thời; phải thường xuyên trau dồi kiến thức pháp luật, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.

Công tác đăng ký hộ tịch nhất là đăng ký khai sinh là công việc đòi hỏi phải đầy đủ, kịp thời và chính xác. Vì đây là sự kiện hộ tịch đầu tiên của mỗi cá nhân và những thông tin trong sổ đăng ký khai sinh hết sức quan trọng. Do vậy, các cơ quan hộ tịch, các ban, ngành, đoàn thể phải quan tâm hơn nữa tới công tác khai sinh, cần có sự phối hợp của các cơ quan trong việc cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi trong việc đăng ký khai sinh; đồng thời, thường xuyên cập nhật, xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký hộ tịch.

Hoàng Minh Khởi
Phòng Tư pháp huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: