Thứ năm 11/12/2025 00:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm soát hoạt động quảng cáo thương mại trực tuyến - Quy định pháp luật và thực thi

Bài viết này đề cập đến các quy định về kiểm soát và xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo thương mại trực tuyến, đồng thời, phân tích một số khó khăn, vướng mắc trong hoạt động kiểm soát, xử lý hành vi vi phạm quảng cáo thương mại trực tuyến, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.


1. Đặt vấn đề

Theo quy định tại Điều 2 Luật Quảng cáo năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) thì: “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân”. Điều 102 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dich vụ của mình”.

Quảng cáo trực tuyến là một hình thức quảng cáo sử dụng internet để đưa sản phẩm tiếp cận người tiêu dùng. Điểm khác biệt giữa quảng cáo này với các quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng khác là nó cho phép người tiêu dùng có thể trực tiếp tương tác với quảng cáo, người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận thông tin của sản phẩm và đôi khi có thể mua sản phẩm online.

Như vậy, có thể hiểu, quảng cáo thương mại trực tuyến là các hoạt động quảng cáo của thương nhân, sử dụng phương tiện internet để cung cấp thông tin sản phẩm đến người tiêu dùng nhằm mục đích thu lợi từ các cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động này.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, quảng cáo trực tuyến nổi lên như một hiện tượng phổ biến thay thế cho các hình thức quảng cáo truyền thống. Theo Báo cáo thị trường quảng cáo số tại Việt Nam năm 2019, Việt Nam lọt top 15 quốc gia có số người dùng smartphone cao nhất thế giới với 43,7 triệu người dùng, tương đương với 44,9% tổng dân số, đã chứng minh smartphone là điểm chạm quan trọng giữa thương hiệu và người dùng. Tỷ lệ tra cứu về sản phẩm và mua hàng thông qua smartphone lần lượt đạt mức 59% và 53% cho thấy, “mobile first” luôn là xu hướng bắt buộc đối với việc triển khai chiến dịch quảng cáo trên các nền tảng digital. Đồng thời, ngân sách quảng cáo mobile năm 2019 cũng tăng 11,9% so với năm 2018[1]. Thực tế, tỷ lệ này đã tiếp tục tăng đều vào năm 2020 và năm 2021.

Quảng cáo trực tuyến trong những năm gần đây gia tăng mạnh mẽ về số lượng doanh nghiệp tham gia quảng cáo và da đạng về hình thức. Quảng cáo trực tuyến đã làm nên tên tuổi cho một số thương hiệu ở Việt Nam như Tiki, Shopee và Lazada,... Trong lĩnh vực quảng cáo trực tuyến trên nền tảng xuyên biên giới hiện nay thì một số doanh nghiệp lớn như Facebook và Google đang dẫn đầu thị phần doanh số quảng cáo trực tuyến, chiếm hơn 80% tổng doanh thu. Số lượng quảng cáo trực tuyến gia tăng, đồng thời cũng xuất hiện rất nhiều sai phạm trong hoạt động quảng cáo, có những sai phạm rất nghiêm trọng như việc “quảng cáo sai sự thật” làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn về công dụng của sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm thuốc và y tế khác. Riêng trong năm 2020, Google cho biết đã chặn hoặc xóa 3,1 tỷ quảng cáo vi phạm chính sách. Trong các quảng cáo bị xóa, có 867 triệu nội dung “lạm dụng hệ thống quảng cáo để đánh lừa người dùng click chuột”. Thuốc và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe là lĩnh vực đứng thứ hai về số lượt vi phạm[2]. Tuy nhiên, con số mà Google chưa kiểm soát được trên thực tế vẫn còn rất nhiều, người dùng các trang mạng xã hội, các trang web trực tuyến dễ dàng bắt gặp những hình ảnh quảng cáo liên tục, tràn ngập trên các trang mạng.

Bên cạnh đó, gần đây, việc sử dụng những người nổi tiếng tham gia vào quảng cáo một cách thiếu trách nhiệm, không chuyên nghiệp và không có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, xử lý nghiêm ngặt đã dẫn đến hậu quả là làm cho người tiêu dùng tin tưởng vào uy tín của người nổi tiếng, hiểu sai về công dụng của các sản phẩm và mua sản phẩm với mong muốn đạt được hiệu quả thần kỳ như quảng cáo. Hàng loạt các “ngôi sao” quảng cáo thực phẩm chức năng điều trị ung thư, hỗ trợ giảm cân, mỹ phẩm,… đều phóng đại công dụng của sản phẩm và đã bị cơ quan chức năng yêu cầu chấm dứt hành vi, các nghệ sỹ, ca sỹ này cũng đã lên tiếng xin lỗi khán giả, người tiêu dùng. Tuy nhiên, việc xin lỗi này có góp phần chấm dứt tình trạng quảng cáo như hiện tại? Vấn đề cốt lõi là, xác định phạm vi trách nhiệm của người quảng cáo, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người truyền tải sản phẩm quảng cáo, người tiếp nhận quảng cáo phải chịu khi vi phạm quy định về quảng cáo? Trách nhiệm của cơ quan kiểm soát hoạt động quảng cáo nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt động quảng cáo hiện nay?

2. Quy định về kiểm soát và xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo thương mại trực tuyến

Hoạt động quảng cáo thương mại trực tuyến hiện nay không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005, Luật Quảng cáo năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018), Luật An ninh mạng năm 2018 mà còn chịu sự điều chỉnh của các luật chuyên ngành có liên quan.

Để kiểm soát hoạt động quảng cáo thương mại, pháp luật thương mại và pháp luật về quảng cáo đã có những quy định về những hành vi quảng cáo bị cấm như thuốc lá, rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên, sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, sản phẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ dưới 06 tháng tuổi; bình bú và vú ngậm nhân tạo,… Ngoài ra, hoạt động quảng cáo phải tuân thủ các điều kiện quảng cáo chung như: Quảng cáo hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; có tài liệu chứng minh đối với những hàng hóa có quy định quy chuẩn, tiêu chuẩn; đối với các loại sản phẩm có khả năng gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người thì cần phải có giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như thuốc, mỹ phẩm, hóa chất diệt côn trùng, thiết bị khám, chữa bệnh,…[3].

Bên cạnh đó, Luật Quảng cáo năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) cũng có quy định về điều kiện, tiêu chuẩn cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào hoạt động quảng cáo như: Người quảng cáo phải có trách nhiệm bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nội dung quảng cáo (điểm b khoản 2 Điều 12); người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải thực hiện các nghĩa vụ kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo của tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cần quảng cáo và thực hiện thủ tục có liên quan theo hợp đồng dịch vụ quảng cáo, chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo do mình trực tiếp thực hiện,… (Điều 13). Bên cạnh đó, Luật Quảng cáo năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) cũng quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác từ Điều 14 đến Điều 16 gồm người phát hành quảng cáo; người cho thuê địa điểm, phương tiện quảng cáo; người tiếp nhận quảng cáo.

Đối với quảng cáo thương mại trực tuyến, ngoài tuân thủ các điều kiện chung, còn phải tuân thủ thêm một số điều kiện khác như: Trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; trước khi thực hiện quảng cáo 15 ngày, chủ trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông tin về tên, địa chỉ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo Việt Nam được ủy quyền thực hiện dịch vụ quảng cáo; người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải là doanh nghiệp có chức năng kinh doanh dịch vụ quảng cáo được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam[4].

Về việc xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo thương mại trực tuyến, tùy theo mức độ vi phạm mà xử lý đối với tổ chức và cá nhân. Theo đó, tổ chức có hành vi vi phạm quy định của Luật Quảng cáo năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật về dân sự. Cá nhân có hành vi vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Luật Quảng cáo năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) cũng quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo phải chịu trách nhiệm về quyết định xử lý của mình; trường hợp quyết định sai, gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Ngày 29/3/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2021/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo (Nghị định số 38/2021/NĐ-CP) thay thế cho Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo. Theo đó, Nghị định số 38/2021/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo. Mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quảng cáo là 100.000.000 đồng đối với cá nhân và 200.000.000 đồng đối với tổ chức.

Nghị định số 38/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Quảng cáo thuốc lá; quảng cáo rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên; quảng cáo sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi; thức ăn bổ sung dùng cho trẻ dưới 06 tháng tuổi; bình bú và vú ngậm nhân tạo; quảng cáo thuốc kê đơn; thuốc không kê đơn nhưng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khuyến cáo hạn chế sử dụng hoặc sử dụng có sự giám sát của thầy thuốc; thuốc không còn thời hạn đăng ký lưu hành; quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cấm quảng cáo khác.

Một số mức phạt áp dụng cho các hành vi vi phạm khác cũng được quy định trong Nghị định số 38/2021/NĐ-CP như: Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thiếu nội dung về phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Quảng cáo việc chẩn đoán, lựa chọn giới tính phôi, thai nhi; quảng cáo, môi giới việc hiến, nhận bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại; phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Quảng cáo vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ; Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép; phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và hoạt động của tổ chức, cá nhân nước ngoài không hoạt động tại Việt Nam mà không thuê người kinh doanh dịch vụ quảng cáo của Việt Nam thực hiệnp; phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: (i) Quảng cáo xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân; (ii) Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác; (iii) Quảng cáo có hành động, lời nói, hình ảnh, âm thanh, chữ viết tạo cho trẻ em có suy nghĩ, lời nói, hành động trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, an toàn hoặc sự phát triển bình thường của trẻ em; (iv) Quảng cáo thiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam.

Đối với hành vi vi phạm phổ biến hiện nay là việc quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn thì theo Nghị định số 38/2021/NĐ-CP, mức phạt đối với hành vi này đã được nâng lên mức cao hơn: Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố. Ngoài ra, Nghị định số 38/2021/NĐ-CP cũng quy định các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.

Bên cạnh việc bị xử phạt hành chính, hành vi quảng cáo sai sự thật còn có thể bị xử lý hình sự đối với cá nhân tái phạm. Theo quy định tại Điều 197 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về “Tội quảng cáo gian dối” thì: Người nào quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

3. Một số hạn chế, vướng mắc trong hoạt động kiểm soát, xử lý hành vi vi phạm quảng cáo thương mại trực tuyến

Thứ nhất, tốc độ quảng cáo thông qua các mạng xã hội như Facebook, Zalo, Tiktok,… hiện đang phát triển rất mạnh dẫn đến thực trạng quảng cáo một cách tràn lan, tự phát, khó kiểm soát. Nhiều quảng cáo chứa đựng những hình ảnh, nội dung nhạy cảm đã được phát hiện và gỡ xuống khỏi các trang mạng. Tuy nhiên, việc kiểm soát quảng cáo vẫn chưa thực sự hiệu quả đối với một số mạng xã hội. Một trong những nguyên nhân của việc khó kiểm soát là vì người quảng cáo sử dụng tài khoản cá nhân để thực hiện các hoạt động quảng cáo cho doanh nghiệp, nội dung quảng cáo không được kiểm duyệt. Việc kiểm soát này càng trở nên khó khăn hơn đối với các tổ chức kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới. Mặc dù Điều 14 và Điều 15 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo đã quy định về điều kiện hoạt động quảng cáo trên trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Namđiều kiện, trách nhiệm của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, tuy nhiên, các quy định này không nêu rõ trách nhiệm kiểm duyệt nội dung quảng cáo và xử lý đối với những quảng cáo không phù hợp.

Thứ hai, mặc dù có nguồn thu “khủng” từ thị trường Việt Nam nhưng một số nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới vẫn chưa thực hiện các nghĩa vụ thuế, đặt ra không ít thách thức trong công tác quản lý cho ngành thuế. Việc không kiểm soát và thu thuế được các hoạt động quảng cáo trực tuyến không chỉ gây thất thu ngân sách nhà nước trong lĩnh vực quảng cáo mà còn ảnh hưởng đến doanh nghiệp trong nước, khi mà doanh nghiệp trong nước phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ hơn.

Thứ ba, hiện nay, người tiêu dùng đang phải gánh chịu rất nhiều phiền toái từ việc quảng cáo trực tuyến. Doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với người tiêu dùng thông qua việc người tiêu dùng sử dụng tài khoản cá nhân truy cập vào các sản phẩm quảng cáo, từ đó, hàng loạt các sản phẩm có liên quan sẽ được hiển thị trên các trang mà người tiêu dùng truy cập, thậm chí, một số nhà quảng cáo còn cố tình tạo ký tự nhầm lẫn để người tiêu dùng truy cập vào, đặc biệt, sự phiền toái này càng nghiêm trọng hơn khi hàng hóa hiển thị là những sản phẩm mang tính cá nhân như đồ lót, thuốc điều trị một số bệnh,… Trong trường hợp này, chính người tiêu dùng trở thành nạn nhân của quảng cáo. Ngoài ra, việc quảng cáo quá mức công dụng của sản phẩm dẫn đến sự nhầm lẫn về chất lượng cũng như gây ảnh hưởng đến kinh tế và sức khỏe của người tiêu dùng.

Thứ tư, mặc dù Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 38/2021/NĐ-CP, trong đó đã tăng mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quảng cáo, tuy nhiên, quy định mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quảng cáo là 100.000.000 đồng đối với cá nhân, trong khi đó, tổ chức thì chỉ bị phạt tối đa là 200.000.000 đồng là chưa đủ tính răn đe. Mức phạt này so với doanh thu của các doanh nghiệp và người phát hành quảng cáo là không đáng kể.

4. Một số kiến nghị

Một là, cần xác định rõ trách nhiệm của các bên tham gia vào hoạt động quảng cáo. Khi sản phẩm quảng cáo bị quảng cáo sai sự thật hoặc sai công dụng thì trách nhiệm thuộc về ai? Trách nhiệm này không chỉ được đề cập trong công tác quản lý nhà nước như bị xử phạt hành chính hay xử lý hình sự mà còn là trách nhiệm đối với người tiêu dùng. Pháp luật quảng cáo cần xác định rõ trách nhiệm của nhà cung cấp sản phẩm, của đơn vị kinh doanh dịch vụ quảng cáo và người thực hiện quảng cáo thương mại trực tuyến hoặc trách nhiệm liên đới trong trường hợp các bên biết rõ nhưng vẫn cố tình vi phạm.

Hai là, cần phát huy hiệu quả của Luật An ninh mạng năm 2018 và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc kiểm soát quảng cáo thương mại trực tuyến. Quản lý trên môi trường internet không hề đơn giản khi mà nhà quản lý luôn phải cân nhắc giữa việc bảo đảm quyền riêng tư của các cá nhân, tổ chức nhưng cũng phải bảo đảm trật tự quản lý nhà nước. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả việc kiểm soát quảng cáo thương mại trực tuyến, cần có sự phối hợp giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Công an và cơ quan quản lý ở địa phương trong việc tăng cường kiểm soát các hoạt động quảng cáo thương mại trên các trang mạng.

Có thể tham khảo và áp dụng mô hình cơ quan chuyên trách kiểm soát hoạt động quảng cáo như Cơ quan Tiêu chuẩn quảng cáo của Anh (ASA). Đồng thời, tăng cường phát huy vai trò, đẩy mạnh chuyên môn của Hiệp hội Quảng cáo ở Việt Nam trong việc phối với với cơ quan quản lý nhà nước rà soát, kiểm soát hoạt động quảng cáo thương mại trực tuyến và có kiến nghị, giải pháp cải thiện môi trường quảng cáo thương mại trực tuyến.

Ba là, cần nâng cao mức xử phạt hành chính và áp dụng biện pháp xử lý hình sự đối với tổ chức vi phạm trong hoạt động quảng cáo thương mại trực tuyến. Đồng thời, cần sửa đổi Điều 11 Luật Quảng cáo năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định về “xử lý vi phạm” trong hoạt động quảng cáo theo hướng tổ chức vi phạm không chỉ dừng lại ở việc xử phạt hành chính và bồi thường thiệt nếu có thiệt hại xảy ra mà phải xử lý hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng cho người tiêu dùng. Sửa đổi quy định này cũng thống nhất với Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) về chế tài áp dụng đối với pháp nhân thương mại. Như vậy, không chỉ cá nhân vi phạm các hoạt động quảng cáo có thể bị xử lý hình sự mà ngay cả pháp nhân thương mại cũng có thể bị xử lý nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Bốn là, cần bổ sung quy định bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng cũng là biện pháp góp phần tăng cường trách nhiệm của cá nhân, tổ chức thực hiện quảng cáo. Theo quy định của Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 thì người tiêu dùng được quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu hàng hóa không đúng chất lượng, tính năng, công dụng,... (Điều 8) và đối với cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh thì còn có trách nhiệm “Đổi hàng hóa hoặc trả lại tiền và nhận lại hàng hóa cho người tiêu dùng trong trường hợp hàng hóa do mình cung cấp không đảm bảo chất lượng, số lượng, công dụng như thông tin mà mình cung cấp”[5]. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiện nay, việc quảng cáo quá mức công dụng của sản phẩm, đặc biệt là những loại thực phẩm chức năng, thuốc chữa bệnh đang ngày càng nhiều hơn trong khi những sản phẩm này để người tiêu dùng biết được hiệu quả thực sự thì phải mất một thời gian dài và việc chứng minh được thiệt hại để yêu cầu bồi thường cũng không phải đơn giản. Chính vì vậy, cần bổ sung quyền của người tiêu dùng “được trả lại hàng hóa và yêu cầu bồi thường khi sản phẩm quảng cáo không đúng về chất lượng, công dụng”. Việc xác định sản phẩm quảng cáo không đúng về chất lượng, công dụng không nhất thiết phải đợi đến khi người tiêu dùng có kết quả sử dụng, mà chỉ cần sản phẩm quảng cáo đó bị cơ quan nhà nước nhắc nhở và xử phạt là đủ điều kiện để người tiêu dùng được quyền yêu cầu trả lại sản phẩm và hoàn tiền.

ThS. Trần Kiều Nhi
Khoa Luật, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành


[1] Công bố báo cáo thị trường quảng cáo số Việt Nam năm 2019

[2] Lưu Quý, Google xóa hơn 3 tỷ quảng cáo sai phạm

[3] Điều 20 Luật Quảng cáo năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018).

[4] Điều 13,14,15 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo.

[5] Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: