Thứ năm 15/01/2026 10:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm thi hành pháp luật khiếu nại hành chính ở Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về kinh tế, chính trị, xã hội và tình hình khiếu nại hành chính hết sức phức tạp. Để tăng cường chất lượng và hiệu quả giải quyết khiếu nại, năm 1999, Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nước này1 đã thông qua Pháp lệnh Khiếu nại hành chính có tính chất luật thay thế Điều lệ khiếu nại hành chính được Quốc vụ viện Trung Quốc ban hành năm 1990.

1. Việc triển khai thi hành Pháp lệnh Khiếu nại hành chính

1.1. Công tác tuyên truyền

Tháng 5/1999, Quốc vụ viện đã ra “Thông báo về việc quán triệt thi hành Pháp lệnh Khiếu nại nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, trong đó yêu cầu các bộ, ngành, chính quyền các cấp chú trọng việc thực thi Pháp lệnh đồng thời với việc đẩy mạnh việc học tập, tuyên truyền Pháp lệnh Khiếu nại. Trong dịp kỷ niệm một năm thực thi Pháp lệnh Khiếu nại, Ban Pháp chế của Quốc vụ viện lại ra “Thông báo về việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, tuyên truyền thi hành pháp Pháp lệnh Khiếu nại hành chính” và kết hợp với Ban Lập pháp của Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, Tòa soạn Nhật báo Pháp luật tổ chức hội nghị tuyên truyền về khiếu nại hành chính ở Bắc Kinh. Trong hai năm đầu thực thi Pháp lệnh, các bộ, ngành, địa phương đã tiến hành các hoạt động tuyên truyền rộng rãi, thông qua báo chí, phát thanh, truyền hình, tư vấn trên đường phố, dán băng rôn tuyên truyền, tuyên truyền lưu động, phát giấy tuyên truyền, tổ chức các cuộc thi kiến thức về Pháp lệnh đến các tầng lớp nhân dân.

1.2. Hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Khiếu nại hành chính

Năm 2007, Quốc vụ viện đã ban hành Điều lệ thi hành Pháp lệnh Khiếu nại với nội dung cụ thể hóa thủ tục khiếu nại, đổi mới cách thức giải quyết khiếu nại, hoàn thiện hình thức khiếu nại và tăng cường chỉ đạo giám sát khiếu nại. Năm 2000, Ban Pháp chế của Quốc vụ viện cho ban hành mẫu văn bản trong thực hiện thủ tục khiếu nại. Năm 2001, Văn phòng Quốc vụ viện cũng đưa ra “Thông báo về một số vấn đề trong thủ tục giải quyết vụ việc khiếu nại hành chính của Quốc vụ viện”. Các cơ quan trung ương như: Bộ Tài chính, Bộ Lao động và An sinh xã hội, Bộ Dân chính, Bộ Thủy lợi, Bộ Giao thông, Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Thuế quốc gia, Tổng cục Hải quan, Cục địa chất quốc gia… đã ban hành văn bản pháp luật cụ thể hóa và hướng dẫn về khiếu nại. Ở địa phương, nhiều tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương như Hắc Long Giang, Quảng Đông, Vân Nam, Cát Lâm… đã ban hành các quy định cụ thể hóa về khiếu nại phù hợp với điều kiện địa phương. Một khối lượng lớn văn bản đã được ban hành gồm hơn 70 bộ quy chế của các bộ, ngành và chính quyền địa phương2; 10 bộ văn bản pháp quy địa phương với hơn 850 văn kiện làm công cụ thực thi hoạt động khiếu nại3…

1.3. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhận thức về Pháp lệnh Khiếu nại hành chính

Năm 2013, Ban Pháp chế của Quốc vụ viện đã có Báo cáo về văn bản kiểm tra và đánh giá công tác thi hành Pháp lệnh Khiếu nại hành chính của Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc. Bản Báo cáo đã đề ra yêu cầu đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng pháp luật về khiếu nại hành chính ở các bộ, ngành, địa phương. Báo cáo đặt mục tiêu trong vòng 2 năm sẽ đào tạo xong một lần đối với toàn bộ lực lượng cán bộ làm công tác khiếu nại trong hệ thống hành chính, đồng thời xây dựng cơ chế đào tạo cán bộ lâu dài. Ban Pháp chế của Quốc vụ viện sẽ tiến hành công tác đào tạo đối với lực lượng cán bộ cốt cán ở các bộ, ngành, Quốc vụ viện và chính quyền cấp tỉnh, kiện toàn cơ cấu khiếu nại hành chính các cấp, đặc biệt là bộ máy giải quyết khiếu nại ở cấp huyện, nâng cao năng lực, tố chất của đội ngũ cán bộ giải quyết khiếu nại. Các bộ, ngành, địa phương cũng đã tích cực triển khai tổ chức các lớp đào tạo pháp luật cho cán bộ chính quyền, bao gồm cả cán bộ lãnh đạo và công chức giải quyết khiếu nại.

1.4. Kiện toàn tổ chức và hoạt động của cơ quan khiếu nại hành chính

Từ năm 2008, Ban Pháp chế của Quốc vụ viện đã ban hành “Thông báo về việc thiết lập thí điểm Ủy ban khiếu nại hành chính ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”. Ban đầu, các Ủy ban được thí điểm ở Bắc Kinh, Hắc Long Giang, Giang Tô rồi dần dần được mở rộng phạm vi trên cả nước. Tính đến đầu năm 2014 đã có 190 thành phố, huyện của 24 tỉnh, thành phố trong cả nước tiến hành thí điểm. Thực tiễn cho thấy, chất lượng giải quyết khiếu nại và niềm tin của người dân vào chính quyền đã được nâng cao rõ rệt. Bắc Kinh có 15/16 đơn vị cấp huyện thực hiện thí điểm, tỉnh Sơn Đông và tỉnh Hắc Long Giang triển khai thí điểm ở toàn tỉnh. Tại tỉnh An Huy, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thí điểm của TP. Mã An Sơn và Hoàng Sơn, năm 2012 tiếp tục triển khai thí điểm ở Túc Châu và cho đến nay, số lượng vụ việc khiếu nại hành chính của các đơn vị này không ngừng tăng cao, chất lượng giải quyết khiếu nại cũng nâng cao rõ rệt4.

Hiện nay, Trung Quốc đang tích cực kiện toàn các hoạt động hòa giải, tiếp dân, thu thập ý kiến để hỗ trợ cho việc giải quyết khiếu nại hành chính. Những năm gần đây, Bộ Tài nguyên, Bộ Công thương và nhiều cơ quan hành chính các cấp đã đưa việc thu thập ý kiến liên quan đến vụ việc khiếu nại vào việc giải quyết khiếu nại hành chính. Nhiều vụ việc khiếu nại hành chính thông qua cách thức này đã được giải quyết ổn thỏa và có những cách làm hay. Chẳng hạn, Văn phòng Khiếu nại hành chính tỉnh Liêu Ninh đã thực hiện chế độ thu thập ý kiến nơi người khiếu nại sinh sống vào hoạt động giải quyết khiếu nại ở các cấp chính quyền cơ sở. Một số thành phố của tỉnh An Huy như Lục An, Hoàng Sơn, Bàng Phụ thực hiện “khiếu nại minh bạch” đã công khai nghe ý kiến đối với những vụ việc khiếu nại lớn, phức tạp, đồng thời mời đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban Hiệp thương chính trị5, phóng viên báo chí đến nghe và giám sát. Các cơ quan giải quyết khiếu nại tỉnh Giang Tô, Sơn Đông, Quý Châu, Tân Cương tích cực vận dụng phương pháp hòa giải để giải quyết khiếu nại. Năm 2013, TP. Tương Dương tỉnh Hồ Bắc đã tiến hành 35 lần hội nghị thu thập ý kiến đối với 29 vụ việc khiếu nại, đồng thời chú trọng công tác hòa giải trong quá trình giải quyết khiếu nại, căn cứ trên nguyên tắc tự nguyện, hợp pháp và công bằng...

2. Kết quả giải quyết khiếu nại hành chính và những tồn tại

Năm 2000, tổng số vụ khiếu nại là 70.000 vụ, năm 2005 tăng lên là 90.000 vụ, kể từ năm 2010, trung bình mỗi năm là 100.000 vụ. Theo thống kê, trong 14 năm kể từ khi thực thi Pháp lệnh Khiếu nại hành chính, cả nước đã nhận được 1.112.000 đơn khiếu nại, trong đó thụ lý 1.010.000 vụ (chiếm 91%), giải quyết xong 920.000 vụ việc (đạt 91%). Trong 920.000 vụ được giải quyết, có 530.000 vụ việc là duy trì quyết định hành chính ban đầu (chiếm 58%), 130.000 vụ việc là hủy bỏ (chiếm 14%), thay đổi nội dung hoặc xác nhận quyết định hành chính vi phạm pháp luật, người bị khiếu nại tự sửa sai và người khiếu nại rút đơn về là 190.000 vụ (chiếm 21%).

Về nội dung khiếu nại, tỷ lệ vụ việc khiếu nại ở cấp huyện trong lĩnh vực xử phạt an ninh, trật tự xã hội, trưng thu đất đai, quản lý giao thông chiếm tỷ lệ tương đối cao, tỷ lệ vụ việc khiếu nại hành chính trong lĩnh vực mà trước đây ít phát sinh tranh chấp như giáo dục, xuất bản, kinh tế mậu dịch, kinh tế mậu dịch có yếu tố nước ngoài, vật giá, kế hoạch hóa gia đình, bưu chính, kiều vụ, du lịch, tài chính… cũng có mức độ gia tăng ngày càng nhanh. Cho đến nay, số vụ việc khiếu nại hành chính được thụ lý trong cả nước về cơ bản cân bằng với số lượng vụ việc được Tòa án thụ lý. Ở Thượng Hải, Hắc Long Giang, số vụ việc khiếu nại hành chính được thụ lý, giải quyết thậm chí còn cao gấp hai lần số vụ án hành chính sơ thẩm, riêng trong lĩnh vực hải quan còn cao gấp 5 lần6.

Tuy nhiên, dù đạt được nhiều kết quả, công tác giải quyết khiếu nại vẫn còn nhiều khiếm khuyết, hạn chế. Cụ thể:

Thứ nhất, nhận thức và niềm tin của công dân đối với việc giải quyết khiếu nại hành chính còn thấp

Mặc dù hoạt động tuyên truyền pháp luật về khiếu nại hành chính được thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Cuối năm 2013, Ban Kiểm tra chấp pháp của Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc tiến hành kiểm tra thực tiễn thi hành Pháp lệnh Khiếu nại hành chính. Qua điều tra và thu về 4.351 phiếu phỏng vấn, kết quả cho thấy, có khoảng 60% đối tượng được hỏi thiếu hụt kiến thức về khiếu nại hành chính, thậm chí chưa từng nghe đến khiếu nại hành chính. Báo cáo cũng cho biết, nhận thức của quần chúng cũng như niềm tin của họ đối với khiếu nại hành chính không cao, tỷ lệ chọn lựa con đường khiếu nại hành chính khi tranh chấp hành chính cũng không lớn bởi họ cho rằng quan chức sẽ bao che nhau. Ở một số huyện, do cán bộ ít, khiếu nại phức tạp và tâm lý ngại giải quyết khiếu nại (như ở tỉnh Thiển Tây) nên người dân chủ yếu chọn con đường kiến nghị qua hoạt động tiếp dân; có những nơi (như ở tỉnh An Huy) còn xảy ra hiện tượng gây rối trật tự trong hoạt động tiếp dân.

Thứ hai, hạn chế về vấn đề nhân lực và cơ sở vật chất cho giải quyết khiếu nại hành chính

Theo kết quả cuộc kiểm tra của Ban Kiểm tra chấp pháp Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu toàn quốc thì tại 15 tỉnh, thành phố và 1.407 huyện, năm 2011, có 306 huyện và năm 2012 có 277 huyện không giải quyết vụ việc khiếu nại hành chính nào. Nhìn chung, năng lực giải quyết khiếu nại hành chính các cấp vẫn yếu kém, nhất là ở cấp huyện, trong khi có đến 90% vụ việc khiếu nại xảy ra ở cấp cơ sở7. Có không ít nơi chỉ treo biển giải quyết khiếu nại trong văn phòng, khoảng 38,2% chính quyền cấp huyện vẫn chưa thiết lập cơ quan giải quyết khiếu nại hoặc treo biển nhưng không có cán bộ trong biên chế giải quyết khiếu nại. Trung bình số người làm công tác khiếu nại chuyên trách ở mỗi huyện chưa được một người, năng lực cán bộ, đảm bảo kinh phí, văn phòng làm việc đều không đạt được yêu cầu giải quyết khiếu nại hành chính

Thứ ba, bất cập trong thực hiện thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính, hiệu quả giải quyết khiếu nại hành chính còn thấp

Trong quá trình giải quyết khiếu nại hành chính, các cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính vẫn chủ yếu áp dụng phương thức giải quyết trên giấy tờ, việc thẩm tra và chủ thể tham gia khiếu nại không đầy đủ, chưa bảo đảm tốt nguyên tắc công khai, minh bạch. Mặt khác, do quy định pháp luật về cung cấp, thu thập, kiểm tra chứng cứ thiếu tính thống nhất dẫn đến việc tùy ý trong giải quyết khiếu nại, dễ gây thêm tranh chấp, ảnh hưởng đến kết quả khiếu nại. Kết quả thỉnh cầu ý kiến từ mạng và thư từ của quần chúng cho thấy, có nhiều cơ quan không thụ lý vụ việc theo trách nhiệm do sợ trách nhiệm nên không muốn hoặc không dám sửa sai quyết định hành chính đã ban hành, có những lãnh đạo xem trọng việc giải quyết kiến nghị qua việc tiếp dân hoặc tố tụng hành chính hơn nên cũng không coi trọng khiếu nại hành chính, không giải quyết đúng thời hạn quy định, không thu thập bằng chứng theo luật định, hoặc coi như không biết, không quan tâm. Có những cơ quan giải quyết khiếu nại sợ trở thành bị đơn trước Tòa do quyết định bị khiếu kiện hoặc ngược lại, sợ có lỗi với người bị khiếu nại. Hiện nay, việc khiếu nại hành chính bị kéo dài vẫn là phổ biến, có những thành phố trong gần 3 năm giải quyết khiếu nại, tỷ lệ giải quyết khiếu nại trong hai tháng chưa đạt được 30% và có những vụ việc kéo dài hàng năm cũng không được giải quyết. Ngoài ra, số lượng lớn các quyết định giải quyết khiếu nại chỉ đơn giản thuật lại nội dung khiếu nại, thiếu bằng chứng và phân tích lý do nên vụ việc giải quyết không phù hợp với pháp luật, khó thuyết phục đương sự. Một số cơ quan trong thực hiện các khâu của quy trình khiếu nại đều không đảm bảo tính pháp chế. Thực tiễn cho thấy, sau khi khiếu nại được giải quyết thì tỷ lệ khởi kiện đến Tòa án hoặc kiến nghị qua hoạt động tiếp dân vẫn cao. Có những tỉnh, thành phố có khoảng 30% vụ án hành chính là do công dân không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại nên khởi kiện hành chính. Cũng có những nơi, sau khi cơ quan khiếu nại ra quyết định duy trì quyết định hành chính ban đầu, đương sự không đồng ý và tiếp tục khởi kiện, qua xét xử có khoảng 20% quyết định hành chính đã ban hành là sai pháp luật. Ngoài ra, có hiện tượng nhiều cơ quan không nghiêm chỉnh, kịp thời hủy bỏ hoặc sửa sai đối với các quyết định hành chính của cơ quan hành chính khiến công dân không hài lòng và tiếp tục đi tìm các giải pháp khác.

Có thể nói, kể từ khi Pháp lệnh Khiếu nại hành chính năm 1999 được thông qua, với cố gắng cao trong việc thi hành văn bản này đã thực sự tạo ra cục diện mới trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại hành chính ở Trung Quốc. Từ chỗ việc giải quyết theo con đường hành chính có số lượng rất thấp đã đi đến chỗ ngang bằng với việc giải quyết theo con đường Tòa án, điều đó phản ánh mức độ tin cậy của xã hội đối với việc giải quyết khiếu nại hành chính và thể hiện bước tiến dài so với trước đó. Việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh Khiếu nại hành chính đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên, vẫn còn không ít bất cập, hạn chế trong công tác giải quyết khiếu nại

Nghiên cứu thực tiễn giải quyết khiếu nại hành chính ở Trung Quốc cho thấy, Nhà nước Trung Quốc đã tiến hành nhiều hoạt động thi hành pháp luật về khiếu nại với nhiều điểm giống như ở Việt Nam. Thực tiễn thi hành pháp luật khiếu nại ở Trung Quốc có những biện pháp rất đáng lưu ý, có giá trị tham khảo tốt cho quá trình thi hành pháp luật về khiếu nại hành chính ở nước ta, cụ thể là: Thành lập cơ quan giải quyết khiếu nại độc lập trong bộ máy hành chính nhà nước, kiểm soát tư cách và cấp chứng chỉ giải quyết khiếu nại hành chính cho cán bộ giải quyết khiếu nại, thu thập ý kiến nơi dân cư để giải quyết khiếu nại thay vì chỉ ngồi một chỗ giải quyết, mời cơ quan dân cử, tổ chức chính trị - xã hội, báo chí để nghe và giám sát hoạt động giải quyết khiếu nại… Đây là các biện pháp đã làm nên chất lượng và hiệu quả giải quyết khiếu nại hành chính ở Trung Quốc hiện nay.

ThS. Vũ Kiều Oanh

Viện Thông tin Khoa học xã hội,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: