Thứ hai 21/09/2026 08:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024: Mở rộng diện bao phủ, gia tăng quyền lợi, hướng tới mục tiêu an sinh toàn dân

Ngày 29/6/2024, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 được xây dựng với mục tiêu mở rộng diện bao phủ và gia tăng quyền lợi cho người lao động, từng bước hướng tới mục tiêu an sinh toàn dân. Bài viết phân tích và làm rõ một số điểm mới nổi bật của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 so với Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành.

1. Sự cần thiết ban hành Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016, qua 08 năm thi hành, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã khẳng định được tính hiệu quả trong việc đảm bảo an sinh xã hội và đáp ứng nhu cầu của người lao động thông qua nguyên tắc đóng - hưởng. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, Luật đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập như tỷ lệ người tham gia và hưởng lợi từ bảo hiểm xã hội vẫn chưa đạt được mức kỳ vọng; tình trạng chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội vẫn diễn ra phổ biến, đặc biệt là ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa; chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa đủ hấp dẫn để thu hút người dân tham gia; một số quy định không còn phù hợp trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay… Những tồn tại, hạn chế này đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 nhằm mở rộng diện bao phủ, nâng cao tính tuân thủ và bảo đảm quyền lợi tốt hơn cho người lao động.

Việc xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 là một bước tiến quan trọng, thể hiện sự cam kết của Nhà nước trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho người dân. Điều này được khẳng định rõ trong Điều 34 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền được bảo đảm an sinh xã hội của mỗi công dân: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”. Không chỉ vậy, việc xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 còn là sự cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách hệ thống an sinh xã hội như Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (Nghị quyết số 28-NQ/TW) đã đặt ra mục tiêu: “Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân. Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng - hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch”; các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cũng đề cập đến việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội, trong đó có chính sách bảo hiểm xã hội. Điều này cho thấy, việc xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 không chỉ là yêu cầu cấp thiết, mà còn là xu thế tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân và phù hợp với định hướng phát triển của đất nước.

2. Một số nội dung mới quan trọng của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã có nhiều thay đổi đáng kể so với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 không chỉ kế thừa những thành tựu của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 mà còn thể hiện rõ quyết tâm của Nhà nước trong việc nâng cao chất lượng an sinh xã hội, cụ thể hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 hướng tới ba mục tiêu chính là: (i) Bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của Hiến pháp; thể chế hóa quan điểm, đường lối, nội dung cải cách trong Nghị quyết số 28-NQ/TW và các văn kiện, nghị quyết có liên quan; (ii) Sửa đổi căn bản các vướng mắc, bất cập từ thực tiễn; (iii) Mở rộng, gia tăng quyền, lợi ích để thu hút người lao động tham gia bảo hiểm xã hội.

Với 11 chương, 141 điều, tăng 02 chương và 16 điều so với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 có những điểm mới cơ bản như sau:

- Bổ sung quy định về trợ cấp hưu trí xã hội

Trợ cấp hưu trí xã hội là một loại hình bảo hiểm hoàn toàn do ngân sách nhà nước chi trả, không yêu cầu người hưởng phải đóng góp trước đó. Trợ cấp này được xây dựng dựa trên quy định về trợ cấp xã hội hàng tháng cho người cao tuổi không có lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, thể hiện sự kế thừa và phát triển các chính sách an sinh xã hội hiện có. Điểm đáng chú ý là Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã hạ độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội xuống 75 tuổi (so với 80 tuổi của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014). Đặc biệt, đối với những người thuộc hộ nghèo và cận nghèo thì từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

Việc hạ độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội là cần thiết để thể chế hóa quan điểm được nêu tại Nghị quyết số 28-NQ/TW với mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu đạt khoảng 60% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội.

- Bổ sung quy định về trợ cấp hằng tháng dành cho những người chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hưu trí xã hội

Với việc bổ sung chế độ trợ cấp hằng tháng đối với người lao động không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã gia tăng sự liên kết giữa tầng trợ cấp hưu trí xã hội và bảo hiểm xã hội cơ bản. Cụ thể: Công dân Việt Nam đủ tuổi nghỉ hưu nhưng không đủ thời gian đóng để hưởng lương hưu (chưa đủ 15 năm đóng) và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội (chưa đủ 75 tuổi) nếu không hưởng bảo hiểm xã hội một lần và không bảo lưu mà có yêu cầu thì được hưởng trợ cấp hằng tháng từ chính khoản đóng của mình. Trong thời gian hưởng trợ cấp hằng tháng thì được ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế. Quy định này không chỉ mở rộng diện bao phủ mà còn lấp đầy khoảng trống chính sách cho một nhóm đối tượng đặc thù là những người lao động đã có đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội nhưng chưa đủ điều kiện để hưởng các chế độ hiện hành, đảm bảo rằng mọi người lao động, dù không đủ điều kiện hưởng lương hưu hay trợ cấp hưu trí xã hội, vẫn được hỗ trợ một cách thiết thực và công bằng.

- Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Nhằm mở rộng đối tượng được tham gia và thụ hưởng đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội, khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bổ sung các nhóm đối tượng sau: “k) Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; l) Đối tượng quy định tại điểm a khoản này làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất; m) Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh tham gia theo quy định của Chính phủ; n) Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã không hưởng tiền lương”.

Việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã thực hiện đúng theo yêu cầu của Nghị quyết số 28-NQ/TW là: “Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sang các nhóm đối tượng khác”; “Rà soát, mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với các nhóm chủ hộ kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý, điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương, người lao động làm việc theo chế độ linh hoạt”. Dự kiến khi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 được đưa vào thực tiễn, khoảng 03 triệu người sẽ có thêm cơ hội được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc[1]. Việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc giúp người lao động được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội như ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Đây là những quyền lợi quan trọng, giúp người lao động giảm bớt gánh nặng tài chính khi gặp rủi ro, đồng thời đảm bảo cuộc sống ổn định sau khi nghỉ hưu.

- Mở rộng quyền lợi cho người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm: Ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí và chế độ tử tuất. Tuy nhiên, đối tượng người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn mới chỉ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc với hai chế độ là hưu trí và tử tuất. Theo số liệu thống kê, đến hết năm 2022, có 86 nghìn người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng chỉ có 02 chế độ là hưu trí và tử tuất. Tại các kỳ họp Quốc hội, nhiều cử tri, Đại biểu Quốc hội kiến nghị bổ sung quyền lợi chế độ ốm đau, thai sản đối với đối tượng người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn; đặc biệt trong bối cảnh đẩy mạnh việc phân cấp của các địa phương thì khối lượng công việc đảm nhiệm của đối tượng này ngày càng lớn, cần khuyến khích đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm xã hội với nhóm này[2]. Chính vì vậy, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã mở rộng quyền lợi cho người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, cho phép nhóm đối tượng này được hưởng chế độ ốm đau và thai sản. Với quy định này, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã khắc phục bất cập của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, bảo đảm sự công bằng và bình đẳng trong việc thụ hưởng bảo hiểm xã hội cho mọi đối tượng người lao động.

- Bổ sung trợ cấp thai sản cho đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Theo quy định Luật Bảo hiểm xã hội 2014, chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ bao gồm 02 chế độ hưu trí và tử tuất, chưa có các chế độ khác như ốm đau, thai sản để người tham gia lựa chọn. Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện được thực hiện chính thức ở nước ta từ năm 2008 theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006. Sau 14 năm thực hiện, tính đến cuối năm 2021 cả nước có 1,45 triệu người tham gia, chiếm khoảng 8,8% tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội, tương đương với khoảng đạt 2,96% lực lượng lao động trong độ tuổi là nông dân và lao động khu vực phi chính thức[3]. Nguyên nhân dẫn đến số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn thấp chủ yếu là do chính sách bảo hiểm xã hội còn chưa đủ hấp dẫn, người lao động chưa được hưởng các quyền lợi ngắn hạn, mức hỗ trợ người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn rất thấp.

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã khắc phục được vấn đề này. Luật đã bổ sung trợ cấp thai sản cho đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nếu đáp ứng đủ điều kiện tại Điều 94 Luật này sẽ được hưởng trợ cấp thai sản 2.000.000 đồng cho mỗi con được sinh ra và mỗi thai từ 22 tuần tuổi trở lên chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ (bằng mức mà ngân sách nhà nước đang hỗ trợ cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số). Lao động nữ là người dân tộc thiểu số hoặc lao động nữ là người dân tộc Kinh có chồng là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo khi sinh con còn được hưởng chính sách hỗ trợ khác theo quy định của Chính phủ. Khoản trợ cấp này được chi trả từ ngân sách nhà nước, đồng nghĩa với việc người lao động không phải đóng thêm bất kỳ khoản phí nào. Việc bổ sung này của Nhà nước đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ giảm bớt sự khác biệt giữa bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng như tăng sức hấp dẫn của chính sách bảo hiểm xã hội dành cho nhóm đối tượng không có quan hệ lao động.

- Giảm điều kiện về số năm đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để được hưởng lương hưu

Theo số liệu thống kê, trong 07 năm thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, có trên 476 nghìn người hưởng bảo hiểm xã hội một lần đã có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội trên 10 năm với độ tuổi từ 40 tuổi trở lên; có trên 53 nghìn người đã hết tuổi lao động phải nhận bảo hiểm xã hội một lần do chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; có trên 20 nghìn người khi đến tuổi nghỉ hưu chưa đủ thời gian đóng phải đóng một lần cho thời gian còn thiếu để hưởng lương[4]. Điều kiện 20 năm đóng bảo hiểm xã hội để được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng là khá dài, không phù hợp với khả năng tạo và duy trì việc làm của nền kinh tế cho người lao động. Nhằm tạo cơ hội cho những người tham gia muộn hoặc quá trình tham gia không liên tục có thời gian đóng bảo hiểm xã hội ngắn được hưởng lương hưu, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã giảm điều kiện về số năm đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để được hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm.

- Bổ sung quy định nhằm khuyến khích người lao động bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu

Giai đoạn từ năm 2016 - 2021, hơn 4,25 triệu lao động tham gia bảo hiểm xã hội và 4,06 triệu người rút một lần khiến lưới an sinh ngày càng mỏng. Bình quân mỗi năm gần 700.000 người rút bảo hiểm xã hội một lần với số lượng năm sau cao hơn năm trước, tốc độ tăng trung bình 11%. Tổng kinh phí chi trả giai đoạn này là 131.940 tỷ đồng theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại báo cáo đầu tháng 3 về triển khai Nghị quyết số 93/2015/QH13 ngày 22/6/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chính sách hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người lao động[5]. Đây là con số lớn so với nỗ lực phát triển của Ngành Bảo hiểm xã hội. Trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần có thể đáp ứng nhu cầu tài chính trước mắt nhưng lấy đi sự bảo trợ khi về già với các chế độ hưu trí hàng tháng cùng với bảo hiểm y tế do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả và chế độ tử tuất bao gồm cả mai táng phí và trợ cấp tử tuất hàng tháng hoặc một lần.

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã có những sửa đổi quan trọng nhằm khuyến khích người lao động bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu, thay vì nhận bảo hiểm xã hội một lần. Cụ thể, Điều 70 và Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 chỉ cho phép người lao động nhận bảo hiểm xã hội một lần trong một số trường hợp nhất định sau: Đủ tuổi hưởng lương hưu mà chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội; ra nước ngoài để định cư, người mang một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS; người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng; người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 01/7/2025, sau 12 tháng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà cũng không tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và có thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 20 năm. Như vậy, đối với người bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/7/2025 trở đi thì sẽ giải quyết bảo hiểm xã hội một lần trong các trường hợp nêu trên.

Người lao động mà không hưởng bảo hiểm xã hội một lần mà bảo lưu thời gian đóng để tiếp tục tham gia thì có cơ hội được thụ hưởng các quyền lợi cao hơn như: Người lao động sẽ tích lũy thêm thời gian đóng, từ đó được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội với mức cao hơn; được hưởng lương hưu với điều kiện dễ dàng hơn; trong thời gian hưởng lương hưu được quỹ bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế; được hưởng trợ cấp hàng tháng khi không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội; được Nhà nước đóng bảo hiểm y tế trong thời gian hưởng trợ cấp hàng tháng

- Bổ sung quy định hợp tác quốc tế về bảo hiểm xã hội

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã bổ sung quy định nhằm đảm bảo tốt hơn quyền tham gia và thụ hưởng bảo hiểm xã hội đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và người lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam. Cụ thể, tại khoản 4 Điều 8 Luật này quy định: “Trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về thời gian tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động ở Việt Nam và ở nước ngoài được tính để xét điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì mức hưởng chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam được tính theo thời gian người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội tại Việt Nam”.

Quy định này bảo đảm rằng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội của người lao động ở cả Việt Nam và nước ngoài được tính để xét điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, giúp người lao động không bị mất quyền lợi khi di chuyển giữa các quốc gia để làm việc; tạo cơ sở pháp lý để Việt Nam tham gia các điều ước quốc tế về bảo hiểm xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông tin và hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội; bảo đảm quyền lợi bảo hiểm xã hội cho lao động nước ngoài sẽ giúp thu hút họ đến làm việc tại Việt Nam, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

- Mở rộng danh mục và phương thức đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội

Theo tinh thần nội dung cải cách của Nghị quyết số 28-NQ/TW: “Đa dạng hóa danh mục, cơ cấu đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội theo nguyên tắc an toàn, bền vững, hiệu quả: Tăng cường công tác đánh giá, dự báo tài chính, hiệu quả đầu tư các quỹ bảo hiểm xã hội; đa dạng hóa danh mục, cơ cấu đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội theo nguyên tắc an toàn, bền vững và hiệu quả; ưu tiên đầu tư vào trái phiếu chính phủ, nhất là trái phiếu chính phủ dài hạn; nghiên cứu từng bước mở rộng sang các lĩnh vực có khả năng sinh lời cao, từng bước và có lộ trình đầu tư một phần tiền nhàn rỗi của Quỹ thông qua ủy thác đầu tư tại thị trường trong nước và quốc tế bảo đảm an toàn, bền vững”, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã mở rộng danh mục và phương thức đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội, tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội.

Cụ thể, khoản 1 Điều 122 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã mở rộng Danh mục đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội tại thị trường trong nước bao gồm:

“a) Công cụ nợ của Chính phủ, bao gồm trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc Nhà nước, công trái xây dựng Tổ quốc;

b) Trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh;

c) Tiền gửi tại các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước trên 50% vốn điều lệ; không thực hiện đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội tại các ngân hàng thương mại đang được kiểm soát đặc biệt;

d) Trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước trên 50% vốn điều lệ; không thực hiện đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội tại các ngân hàng thương mại đang được kiểm soát đặc biệt”.

Ngoài ra, Luật cũng cho phép đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội vào trái phiếu Chính phủ tại thị trường quốc tế.

Về phương thức đầu tư, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 cho phép cơ quan bảo hiểm xã hội được tự đầu tư hoặc ủy thác đầu tư tại thị trường trong nước và quốc tế.

- Bổ sung quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã bổ sung một chương riêng về bảo hiểm hưu trí bổ sung thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc đa dạng hóa các hình thức bảo hiểm xã hội, mang đến cho người lao động và người sử dụng lao động thêm lựa chọn để bảo đảm một cuộc sống ổn định sau khi nghỉ hưu. Bảo hiểm hưu trí bổ sung là một loại hình bảo hiểm hoàn toàn tự nguyện, dựa trên nguyên tắc thị trường. Nó được thiết kế để bổ sung cho chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc. Chương này của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định rõ về đối tượng tham gia, nguyên tắc hoạt động, quỹ bảo hiểm và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với bảo hiểm hưu trí bổ sung. Theo đó, mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ do người lao động và người sử dụng lao động tự nguyện thỏa thuận, khoản đóng góp được quản lý theo từng tài khoản hưu trí cá nhân, bảo đảm tính minh bạch và công bằng. Đặc biệt, Nhà nước sẽ có các chính sách khuyến khích phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung, chẳng hạn như ưu đãi về thuế, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động và người sử dụng lao động tham gia.

- Quy định cụ thể về “mức tham chiếu” thay cho “mức lương cơ sở”

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp sẽ không còn “mức lương cơ sở”. Mặt khác, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 lại quy định nhiều khoản trợ cấp gắn với “mức lương cơ sở”. Vì vậy, việc sửa đổi này là cần thiết để phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 27-NQ/TW.

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã chính thức thay thế khái niệm “mức lương cơ sở” bằng “mức tham chiếu” để tính toán các khoản đóng, hưởng bảo hiểm xã hội. Mức tham chiếu là một mức tiền cụ thể do Chính phủ quyết định, có vai trò quan trọng trong việc xác định quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội. Theo quy định của Luật, trong thời gian chưa bãi bỏ mức lương cơ sở, mức tham chiếu sẽ bằng mức lương cơ sở. Tuy nhiên, khi mức lương cơ sở không còn được áp dụng, mức tham chiếu sẽ không được thấp hơn mức lương cơ sở tại thời điểm đó. Đặc biệt, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định mức tham chiếu sẽ được điều chỉnh định kỳ dựa trên các yếu tố kinh tế vĩ mô như chỉ số giá tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế và khả năng của ngân sách nhà nước cũng như quỹ bảo hiểm xã hội. Điều này đảm bảo mức tham chiếu luôn phản ánh đúng tình hình kinh tế thực tế, từ đó bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội trước những biến động của nền kinh tế.

- Quy định về quản lý thu, đóng bảo hiểm xã hội

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã dành riêng Chương IV để quy định về quản lý thu, đóng bảo hiểm xã hội, thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc tăng cường tính tuân thủ pháp luật bảo hiểm xã hội và bảo vệ quyền lợi của người lao động. Chương IV quy định rõ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm cả những đối tượng mới được bổ sung như chủ hộ kinh doanh, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, người lao động làm việc không trọn thời gian, người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương... Việc xác định rõ đối tượng sẽ giúp cơ quan bảo hiểm xã hội dễ dàng quản lý, giám sát việc tham gia bảo hiểm xã hội của các đối tượng này.

Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định chi tiết về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm cả mức lương tối thiểu và tối đa. Việc quy định rõ căn cứ đóng sẽ giúp tránh tình trạng doanh nghiệp khai báo tiền lương thấp hơn thực tế để trốn đóng bảo hiểm xã hội.

Các điều 33, 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định rõ mức đóng, phương thức và thời hạn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với từng đối tượng tham gia. Việc quy định rõ ràng này sẽ giúp người lao động và người sử dụng lao động hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật bảo hiểm xã hội.

Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 nêu rõ các trường hợp chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bao gồm cả việc không đóng hoặc đóng không đủ số tiền phải đóng, không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người tham gia bảo hiểm. Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định chi tiết về hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bao gồm cả việc cố tình khai báo sai thông tin để trốn đóng hoặc đóng không đủ. Quy định tại Điều 38 và Điều 39 Luật này sẽ góp phần tạo ra tính răn đe, buộc người sử dụng lao động phải thực hiện nghiêm túc việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 cũng đưa ra các biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với hành vi chậm đóng và trốn đóng bảo hiểm xã hội. Điều 40 Luật này quy định các biện pháp xử lý hành vi chậm đóng, bao gồm việc bắt buộc đóng đủ số tiền chậm đóng, nộp tiền phạt chậm đóng và các hình phạt bổ sung khác như không được xem xét trao tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng. Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định các biện pháp xử lý hành vi trốn đóng, bao gồm việc bắt buộc đóng đủ số tiền trốn đóng, nộp tiền phạt trốn đóng và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Bổ sung quy định giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội; điều chỉnh, cắt giảm, đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã có những bước tiến đáng kể trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia và thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình thực hiện. Một trong những điểm nổi bật là việc bổ sung quy định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội. Theo đó, các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện có thể thực hiện các giao dịch liên quan đến bảo hiểm xã hội với cơ quan bảo hiểm xã hội thông qua phương tiện điện tử. Các giao dịch này bao gồm đăng ký tham gia, cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng bảo hiểm xã hội, giải quyết và chi trả chế độ bảo hiểm xã hội và các hoạt động khác. Điều này giúp tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí đi lại cho người dân, đồng thời nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của hệ thống bảo hiểm xã hội. Bên cạnh đó, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 cũng chú trọng đến việc điều chỉnh, cắt giảm và đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội. Chính phủ được giao nhiệm vụ cụ thể hóa việc chuyển đổi từ giao dịch bằng bản giấy sang giao dịch điện tử, nhằm tạo sự thuận tiện tối đa cho người tham gia và thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

- Sửa đổi, bổ sung quy định của các chế độ bảo hiểm xã hội phù hợp hơn với thực tiễn, bảo đảm quyền lợi của người lao động

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 không chỉ kế thừa những quy định đã chứng minh tính hiệu quả của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, mà còn có nhiều điều chỉnh quan trọng nhằm tối ưu hóa và nâng cao hiệu quả của hệ thống bảo hiểm xã hội. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về chế độ bảo hiểm xã hội để phù hợp hơn với thực tiễn đời sống, kinh tế - xã hội, đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người lao động. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã giải quyết những bất cập, vướng mắc còn tồn tại trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, đồng thời bổ sung thêm nhiều quy định mới nhằm mở rộng diện bao phủ, nâng cao tính bền vững của hệ thống bảo hiểm xã hội. Thông qua việc điều chỉnh các quy định về mức đóng, mức hưởng, điều kiện hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã tăng cường tính khả thi và dài hạn của chính sách bảo hiểm xã hội. Các quy định này được xây dựng trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, bảo đảm sự cân đối giữa quyền lợi của người lao động và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm xã hội. Đặc biệt, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 còn thể hiện sự đồng bộ và thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt là với Bộ luật Lao động hiện hành. Điều này giúp tạo ra một môi trường pháp lý ổn định và thuận lợi cho việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội.

3. Kết luận

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã thể hiện rõ sự nỗ lực của Nhà nước trong việc hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, hướng tới mục tiêu an sinh toàn dân. Với những điểm mới nổi bật được đề cập trong bài viết này, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 được kỳ vọng sẽ tạo ra những chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm an sinh cho người dân Việt Nam.

Tuy nhiên, để Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 thực sự phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động trong việc thực thi các quy định của Luật. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến để người dân hiểu rõ và nắm bắt được những quyền lợi và trách nhiệm của mình theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024./.

Hoàng Trung

Ảnh: internet


[1] Https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-xa-hoi.aspx?CateID=168&ItemID=21753&OtItem=date, truy cập ngày 30/7/2024.

[2] Tờ trình số 527/TTr-CP ngày 10/10/2023 của Chính phủ.

[3] Đề xuất hoàn thiện chính sách và tổ chức thực hiện chế độ ốm đau, thai sản ở Việt Nam, ĐT.018/2020, Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, ThS. Bùi Thị Kim Loan, 2022, tr. 40.

[4] Tờ trình số 527/TTr-CP ngày 10/10/2023 của Chính phủ.

[5]Https://vnexpress.net/hon-4-trieu-nguoi-rut-bao-hiem-xa-hoi-mot-lan-trong-5-nam-4578828.html?gidzl=LOYf2QGRKXPVaQeCf0TG4rkMe0sy0rWIH97m1-XH2niIawG2xbDQ5aJ2zWpi0WSL5S2j2MF9fCajhHzH7G, truy cập ngày 30/7/2024.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: