Chủ nhật 15/03/2026 02:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Doanh nghiệp năm 2014 và vấn đề bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước với các loại hình doanh nghiệp khác

Xu hướng mở cửa phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh trong nước và quốc tế ngày càng gay gắt đã và đang đặt ra những yêu cầu vô cùng cấp thiết về nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, từ đó, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung.

Nhằm phúc đáp yêu cầu này, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã được ban hành với 10 chương, 213 điều (trong đó nổi bật có Chương IV quy định về doanh nghiệp nhà nước với 22 điều). Luật này là sự kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp, đã và đang đi vào cuộc sống của Luật Doanh nghiệp năm 2005, nhưng đồng thời cũng sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật cũ, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế, hướng tới sự bình đẳng, “không phân biệt đối xử” trong quy chế pháp lý đối với doanh nghiệp có các nguồn gốc sở hữu vốn đa dạng.

1. Yêu cầu tất yếu về một “sân chơi bình đẳng” cho các loại hình doanh nghiệp

Từ sau đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế. Công nhận sự hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và sự đối xử bình đẳng trước pháp luật giữa các thành phần kinh tế bằng cách ban hành nhiều chính sách và luật pháp liên quan đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước, điển hình là doanh nghiệp nhà nước và phát huy vai trò của kinh tế tư nhân, thu hút khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài... Bên cạnh đó, Đảng cũng xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (trong Cương lĩnh 2011 và Hiến pháp năm 2013) đối với nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự “bảo hộ” đặc biệt của Nhà nước dẫn đến thực trạng hiện nay khu vực kinh tế nhà nước cho hiệu quả hoạt động rất thấp, chưa chứng minh được vai trò chủ đạo của mình so với các thành phần kinh tế khác. Doanh nghiệp nhà nước hiện chiếm tới 70% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 60% tín dụng các ngân hàng thương mại và 70% vốn ODA. Tổng tài sản gần 1.800 nghìn tỷ đồng, vốn chủ sở hữu 700 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận 162 nghìn tỷ đồng nhưng chỉ đóng góp 35% GDP, tạo ra 39,5% giá trị sản lượng công nghiệp hàng năm[1].

Chưa kể nhiều doanh nghiệp nhà nước rơi vào tình trạng sản xuất, kinh doanh thua lỗ, nợ xấu tăng lên: Tổng nợ phải trả của các tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước tính đến 30/10/2010 là 1.088.290 tỷ đồng, hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu bình quân là 1,67 lần, có nhiều đơn vị có tỷ lệ này lên tới 5 - 10 lần[2]; tính đến cuối năm 2012, nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước chiếm 11,82% tổng nợ xấu của các tổ chức hệ thống tín dụng và 5,05% dư nợ với doanh nghiệp nhà nước.

Đối với khu vực kinh tế tư nhân, cụ thể là các doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp được xác định là động lực quan trọng của nền kinh tế, đóng góp nhiều vào tăng trưởng GDP và giải quyết việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, các doanh nghiệp tư nhân chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên rất khó khăn trong cạnh tranh về mọi mặt, chưa kể đến việc bị “phân biệt đối xử” trong thực tế. Chúng ta có thể thấy được tiềm năng từ khu vực kinh tế tư nhân là rất lớn, từ đó đặt ra yêu cầu liên tục đổi mới cơ chế, chính sách phù hợp để tạo điều kiện thông thoáng trong hành lang pháp lý cho sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tránh việc doanh nghiệp bị “chết” hàng loạt như những năm vừa qua do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế. Tiếp thu những vấn đề đó, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách tích cực để điều tiết nền kinh tế thông qua việc liên tục cải cách hệ thống văn bản pháp luật, đặc biệt là Luật Doanh nghiệp.

Lịch sử phát triển của Luật Doanh nghiệp có rất nhiều bước “đột phá” mà chúng ta cần ghi nhận. Từ thời điểm năm 1999, Luật Doanh nghiệp lần đầu tiên đưa ra quy định: Doanh nghiệp, cá nhân được kinh doanh ngành, nghề pháp luật không cấm. Đây là quy định tạo ra con số khoảng 400.000 doanh nghiệp đang hoạt động hiện nay, là bước tiến mạnh mẽ của nền kinh tế của Việt Nam. Năm 2005, Luật Doanh nghiệp được sửa đổi, đánh dấu sự thay đổi lớn trong pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam. Trong đó, sự đổi mới cơ bản nhất là đã chuyển từ tư duy, cơ chế “xin - cho” sang tư duy tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền tự do kinh doanh; hình thành khung pháp lý chung, bình đẳng, áp dụng thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp. Từ đó xây dựng được môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Đây cũng là văn bản pháp luật lần đầu tiên có sự điều chỉnh thống nhất tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và loại hình sở hữu tại Việt Nam. Nội dung chủ yếu của Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định về việc thành lập, đăng ký kinh doanh; mô hình tổ chức bộ máy hoạt động của doanh nghiệp và tổ chức lại doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2005 lại không điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền của chủ sở hữu vốn nhà nước, việc sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào kinh doanh, quan hệ giữa chủ sở hữu nhà nước với đại diện chủ sở hữu, người đại diện phần vốn góp tại doanh nghiệp khác mà phải có một quy định riêng về việc quản lý, sử dụng vốn Nhà nước khi đầu tư vào doanh nghiệp. Thêm vào đó, việc các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 cho đến hết năm 2010 mới cùng chung sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã tạo ra những khoảng trống dài trong pháp luật để điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù, để các doanh nghiệp nhà nước có thể hoạt động thống nhất theo Luật Doanh nghiệp với các loại hình doanh nghiệp khác, Chính phủ đã ban hành một số nghị định như: Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/03/2010 về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH một thành viên và tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu; Nghị định số 104/2010/NĐ-CP ngày 11/10/2010 về tổ chức quản lý và hoạt động của công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng; Nghị định số 99/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, còn có một số hạn chế chủ yếu như: Tồn tại mâu thuẫn trong quản lý vốn nhà nước, dẫn đến vốn nhà nước bị thất thoát, lãng phí, hiệu quả sử dụng vốn thấp, thậm chí dẫn đến tham ô, tham nhũng nguồn vốn của Nhà nước để tư lợi cá nhân; thiếu các chính sách và quy định pháp luật phù hợp trong quản lý đầu tư, huy động và sử dụng vốn nhà nước tại các tổng công ty, tập đoàn kinh tế, dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải nhưng lại không thực hiện được mục tiêu quản lý, trong khi lãi thì doanh nghiệp hưởng, lỗ thì Nhà nước chịu... Khiếm khuyết này trong pháp luật về quản lý vốn đầu tư nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước không chỉ là nguyên nhân căn bản dẫn đến những điểm yếu kém, bất cập trong tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta, mà nó còn tạo ra “cảm giác” chưa thật sự bình đẳng, đặc biệt là bình đẳng về mặt bảo hộ của Nhà nước giữa doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp có nguồn gốc sở hữu vốn khác. Do đó, tuy Luật Doanh nghiệp năm 2005 có nhiều điểm tiến bộ, nhưng để đáp ứng kịp thời với sự biến đổi của nền kinh tế, sự chuyển đổi của các cơ chế quản lý nhà nước và nhu cầu phát triển nhanh, mạnh của cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, hướng tới sự bình đẳng thật sự giữa các thành phần kinh tế thì việc bổ sung, sửa đổi Luật Doanh nghiệp năm 2005 là tất yếu.

2. Ảnh hưởng của Luật Doanh nghiệp năm 2014 đối với việc tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời trên cơ sở kế thừa, bổ sung, thay đổi Luật Doanh nghiệp năm 2005 với nhiều điểm mới tích cực. Những quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 có thể xem là bước “đột phá” khi thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanh nghiệp, theo đó, những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh.

Bên cạnh đó, Luật đã có những thay đổi ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp như: Việc tách riêng thủ tục thành lập doanh nghiệp với các thủ tục về đầu tư dự án, cũng như với các thủ tục có liên quan về cổ phần, cổ phiếu. Hay sửa đổi vấn đề về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; sửa đổi một số nội dung liên quan đến việc bãi bỏ quy định hạn chế sáp nhập, hợp nhất, chia, tách công ty đối với công ty cùng loại hình tổ chức; cho phép các công ty có cùng bản chất sở hữu có thể hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, quy định rõ hơn và hợp lý hơn trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp; thống nhất một đầu mối và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan đăng ký kinh doanh, thuế và công an trong giải quyết thủ tục giải thể doanh nghiệp… Nhưng quan trọng nhất là sự thay đổi thuộc về khái niệm doanh nghiệp nhà nước. Thay vì quy định doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, Luật Doanh nghiệp năm 2014 sửa đổi quy định doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (Điều 4). Hiện tại, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước còn rất ít, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước khác đã và đang cổ phần hóa để bình đẳng về địa vị, bình đẳng về cơ hội và bình đẳng về bảo hộ của Nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp. Cụ thể, tính đến năm 2012, cả nước có 1.309 doanh nghiệp nhà nước[3], trước khi có Luật Doanh nghiệp năm 2014, số lượng doanh nghiệp nhà nước khoảng 700 doanh nghiệp, nếu hoàn thành được Đề án tái cấu trúc thì chỉ còn lại khoảng 300 doanh nghiệp nhà nước theo tỷ lệ vốn quy định. Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng sửa đổi một số nội dung mới về việc xác định rõ ràng hơn địa vị pháp lý tập đoàn kinh tế, bổ sung quy định rõ hơn về hình thức công ty mẹ - công ty con; cấm các công ty con trong cùng một nhóm công ty cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau; bổ sung quy định nhằm minh bạch hóa cơ cấu và mối quan hệ giữa các công ty trong tập đoàn kinh tế, như công khai điều lệ hoặc thỏa thuận về quy chế hoạt động chung tập đoàn.

Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng cho các doanh nghiệp đã thu hẹp phạm vi doanh nghiệp nhà nước và đưa doanh nghiệp nhà nước với các loại hình doanh nghiệp khác tiến gần nhau hơn, tăng tính khả thi cho một “sân chơi bình đẳng”. Riêng sự thay đổi về mặt khái niệm doanh nghiệp nhà nước lần này theo chúng tôi sẽ dẫn đến những thay đổi lớn về mặt lý thuyết sau đây:

Thứ nhất, việc “tháo gông” doanh nghiệp nhà nước sẽ mở đường cho một loạt các doanh nghiệp tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh và đầu tư. Do không được ưu đãi như khi còn là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp muốn vươn lên, bắt buộc phải năng động, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh để có thể tồn tại và đứng vững trên thương trường - đây là tiền đề cho việc đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp không phân biệt chủ đầu tư là ai: Nhà nước, cá nhân tổ chức trong nước hay nước ngoài.

Thứ hai, việc thay đổi khái niệm doanh nghiệp nhà nước tạo điều kiện thúc đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước diễn ra nhanh hơn. Qua đó, tổ chức và điều hành doanh nghiệp sau tái cơ cấu có những thay đổi tích cực do có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, giữa quản lý của chủ sở hữu với điều hành hoạt động kinh doanh, giữa quản lý điều hành với kiểm tra kiểm soát; đồng thời cơ cấu tổ chức được bố trí hợp lý hơn, gọn nhẹ hơn, tinh giản được lao động gián tiếp.

Thứ ba, việc thành lập và quản lý các doanh nghiệp nhà nước phải tuân thủ các quy định tương tự như đối với công ty cổ phần hoặc công ty TNHH, tức là cùng một chế độ góp vốn, đăng ký kinh doanh, các quy tắc quản trị nội bộ và báo cáo với chủ sở hữu.

Thứ tư,doanh nghiệp nhà nước sử dụng tài nguyên và ngân sách quốc gia, tức là từ khối tài sản toàn dân, nên khác với các công ty thông thường, chế độ báo cáo và kiểm soát các công ty này phải chặt chẽ hơn để giám sát đầu tư công cộng. Như vậy, thay vì được ưu ái, có thể các doanh nghiệp nhà nước còn phải chịu trách nhiệm báo cáo và giám sát chặt chẽ hơn nhiều so với công ty của các nhà đầu tư tư nhân.

Thứ năm, thay đổi này có thể góp phần xóa dần sự phân biệt đối xử trên thực tế giữa các thành phần kinh tế, hướng tới một môi trường cạnh tranh bình đẳng thực sự cho nửa triệu doanh nghiệp có nguồn gốc vốn từ các nhà đầu tư đa dạng khác nhau.

3. Một số giải pháp góp phần thúc đẩy cơ chế bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp đi sâu hơn nữa vào thực tiễn

Sau ngày Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực (ngày 01/7/2015), về lý thuyết, một loạt các doanh nghiệp sẽ tự do hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và sẽ không còn sự ưu đãi, bảo hộ của Nhà nước nữa khi cái mác “doanh nghiệp nhà nước” đã không còn. Và các doanh nghiệp mà Nhà nước vẫn là cổ đông chính sẽ phải cạnh tranh bình đẳng với những doanh nghiệp khác. Nhưng liệu điều này có thực sự khả thi? Thật sự không còn ưu tiên đối với doanh nghiệp nhà nước trong Luật Doanh nghiệp? Chúng ta có thể lấy một vài ví dụ như: Khi tiếp cận với nguồn vốn vay ngân hàng, các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp có cổ phần chi phối của Nhà nước nhiều hơn rõ ràng sẽ dễ vay hơn vì vẫn tồn tại tâm lý nếu thua lỗ đã có Nhà nước chịu. Hoặc cụ thể đối với trường hợp của Vietnam Airlines. Sau khi cổ phần hóa, Nhà nước vẫn nắm giữ số vốn lên tới 75%, lượng % thừa đủ để Nhà nước chi phối hầu hết mọi hoạt động của Vietnam Airlines cho dù nó không còn là doanh nghiệp nhà nước. Giải thích cho việc giữ lại phần vốn chi phối như thế này, chúng ta nhận được câu trả lời là do Vietnam Airlines có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động bay, cũng như đảm bảo phục vụ quốc phòng, an ninh. Đây là một tổng công ty lớn mang hình ảnh, mang thương hiệu quốc gia đến bạn bè quốc tế (theo lời Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải)[4]. Điều đó có nghĩa là, dù cho không còn là doanh nghiệp nhà nước theo luật định, doanh nghiệp này nói riêng và các doanh nghiệp tương tự vẫn sẽ tiếp tục nhận được các ưu đãi của Chính phủ. Qua đó, chúng ta có thể thấy, vẫn còn nhiều những điểm bất hợp lý, không dễ dàng áp dụng trong thực tiễn. Đặc biệt là các quy định trong việc giám sát tập trung các khoản đầu tư nhà nước cùng với cơ chế quản lý tài sản của Nhà nước hay các quy định về quyền chủ sở hữu. Dù Luật Doanh nghiệp năm 2005 đến năm 2014 đều quy định công ty TNHH một thành viên chỉ có “một tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu”; thực hiện quyền chủ sở hữu với vai trò người đầu tư vốn, tách biệt chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu đối với chức năng quản lý hành chính nhà nước; thực hiện thống nhất và tập trung các quyền và nghĩa vụ chủ sở hữu về vốn... Tuy nhiên, trải qua gần 10 năm thực hiện, những quy định này vẫn chưa thể áp dụng thống nhất, triệt để trong thực tiễn, dẫn theo hệ lụy của việc hiện thực hóa sự bình đẳng về địa vị, cơ hội và bảo hộ nhà nước đối với các doanh nghiệp nước ta.

Để đưa các quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 đi vào cuộc sống, tạo lập môi trường cạnh tranh thực sự bình đẳng đối với mọi loại hình doanh nghiệp, chúng ta cần xử lý tốt một số vấn đề sau đây:

Một là, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước chỉ nên giữ cổ phần chi phối đối với các doanh nghiệp an ninh, quốc phòng, công ích. Còn lại các doanh nghiệp không cần Nhà nước giữ cổ phần chi phối thì không nên giữ. Tránh tái cơ cấu theo kiểu nửa vời, hình thức. Cùng với đó là tiếp tục thu hẹp phạm vi và tỷ trọng các nguồn lực phân bổ cho khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Hai là, tạo lập môi trường kinh doanh bằng việc xây dựng hệ thống luật pháp thống nhất, bình đẳng; ban hành một dự luật về đầu tư nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước. Cải cách thủ tục hành chính đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Ba là, bảo đảm quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh và phải tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác bằng cách tách quyền sở hữu và quyền sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp nhà nước lại càng đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết.

Bốn là, phân định rõ ràng chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước; giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và tách biệt rõ ràng giữa quản lý nhà nước và việc điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Năm là, tăng cường kiểm soát vốn, tài sản của doanh nghiệp nhà nước, của Nhà nước tại các doanh nghiệp, đồng thời vẫn phải tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh, quyền tự quyết, tự chịu trách nhiệm về chiến lược hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

ThS. Lê Na

Thành ủy thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Tài liệu tham khảo:

1. Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp: Báo cáo cổ phần hóa - đa dạng hóa sở hữu các năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2013;

2. Bùi Xuân Hải (2007). "Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam ", Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 4 (41);

3. Đoàn Ngọc Phúc (2014). Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNN sau cổ phần hóa. Luận án tiến sỹ Kinh tế;

4. Nguyễn Đình Cung (2004). Quản trị doanh nghiệp nhà nước theo Luật DNNN- Được và chưa được. Trình bày tại Toạ đàm của Ban soan thảo Luật Doanh nghiệp thống nhất, Ngày 19/10/2004;

5. Nghị định số 199/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về trách nhiệm của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hóa;

6. Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần;

7. Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/03/2010 về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH một thành viên;

8. Quốc hội nước CHXHCNVN (2003), Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003;

9. Quốc hội nước CHXHCNVN (2005), Luật Doanh nghiệp năm 2005;

10. Quốc hội nước CHXHCNVN (2014), Luật Doanh nghiệp năm 2014;

11. Thủ tướng chính phủ (2006). Quy chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (ban hành kèm theo Quyết định số 224/2006/QĐ-TTg, ngày 06/10/2006).


[1] Theo báo cáo của Bộ Tài chính tháng 3/2012 tại hội thảo về tái cấu trúc DNNN.

[2] Theo số liệu từ báo cáo thực trạng hoạt động của tập đoàn, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2006-2010 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2011-2015 của Bộ Tài chính.

[3] Theo báo cáo của Bộ Tài chính tháng 3/2012 tại hội thảo về tái cấu trúc DNNN.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: