Thứ sáu 16/01/2026 15:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật giám định tư pháp đang dần dần đi vào cuộc sống

Luật Giám định tư pháp được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2013 (Luật) với nhiều quy định mới so với Pháp lệnh Giám định tư pháp trước đây. Để các quy định của Luật được thực hiện có hiệu quả trên thực tế, trong thời gian qua, cùng với việc phổ biến, tuyên truyền các nội dung của Luật, Chính phủ, các bộ, ngành đã đẩy mạnh việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành đã được giao trong Luật.

Đến nay, đã có nhiều văn bản hướng dẫn Luật Giám định tư pháp ở các lĩnh vực khác nhau được ban hành, cụ thể là: Chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp (Nghị định số 85/2013/NĐ-CP); Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg ngày 01/01/2014 về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp. Các bộ, ngành đã ban hành được 14 quyết định, thông tư, trong số đó, đáng chú ý là việc Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 20/TT-BYT ngày 12/6/2014 về Bảng tỷ lệ tổn hại cơ thể trong giám định pháp y. Việc ban hành Thông tư số 20/TT-BYT với quy định khá đầy đủ các loại hình tổn thương cơ thể dành riêng cho giám định pháp y sẽ góp phần giải quyết cơ bản khó khăn, vướng mắc của hoạt động giám định pháp y đã tồn tại trong thời gian dài. Nhiều văn bản hướng dẫn Luật Giám định tư pháp được ban hành trong thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho người giám định tư pháp khi thực hiện giám định, cũng như cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xem xét, đánh giá kết luận giám định tư pháp và các cơ quan có liên quan trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp.

Sau 02 năm kể từ ngày được ban hành, với sự quan tâm của các bộ, ngành và địa phương, các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc triển khai thực hiện, các quy định của Luật Giám định tư pháp đang dần đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám định tư pháp, phục vụ tốt hơn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng, kết quả cụ thể là:

Thứ nhất, về đội ngũ giám định viên tư pháp

Triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp, với trách nhiệm được giao, các bộ, ngành địa phương đã quan tâm hơn đến việc phát triển cả về số lượng và chất lượng giám định viên tư pháp. Kể từ thời điểm Luật Giám định tư pháp có hiệu lực đến nay, số lượng giám định viên tư pháp đã tăng lên đáng kể (578 người), nâng tổng số giám định viên tư pháp trong toàn quốc hiện có lên 4.673 người. Ngoài việc quan tâm tăng cường số lượng, các bộ, ngành và địa phương cũng thường xuyên quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giám định viên. Tất cả các giám định viên được bổ nhiệm đều đạt tiêu chuẩn tốt nghiệp đại học trở lên, có phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm công tác, được trang bị kiến thức pháp luật cần thiết.

Thứ hai, về tổ chức giám định tư pháp

Luật Giám định tư pháp quy định mô hình tổ chức giám định tư pháp công lập theo hướng tập trung để tăng cường đầu tư về con người, cơ sở vật chất, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức này.

Đối với tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y, Luật quy định tổ chức giám định pháp y công lập ở địa phương chỉ có một hình thức tổ chức duy nhất là Trung tâm pháp y, thay vì Trung tâm pháp y hoặc Phòng giám định pháp y thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh. Đến nay, cả nước đã có 51/63 Trung tâm pháp y được thành lập theo quy định của Luật, tăng thêm 13 Trung tâm so với trước khi có Luật Giám định tư pháp, chỉ còn một số địa phương do có khó khăn về con người cũng như cơ sở vật chất, nên chưa thành lập được Trung tâm. Cùng với việc kiện toàn về mặt tổ chức, các địa phương cũng quan tâm đến việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phương tiện làm việc cho các Trung tâm pháp y cấp tỉnh, nên hoạt động giám định tư pháp ngày càng được nâng cao. Các Trung tâm pháp y ở một số địa phương như Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Định, Nghệ An, Kiên Giang…, tiếp tục được quan tâm, đầu tư về con người, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc.

Về tổ chức giám định tư pháp công lập trong lĩnh vực pháp y tâm thần, Luật quy định theo hướng đổi mới căn bản, theo đó, Nhà nước thành lập Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thay cho Trung tâm pháp y tâm thần tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Quy định này để thu gọn đầu mối, tập trung nguồn lực và phù hợp với thực tế về nhu cầu giám định pháp y tâm thần. Đến nay, Bộ Y tế đã tổ chức khảo sát ở các địa phương dự kiến đặt Trung tâm và đang hoàn thiện Đề án thành lập Trung tâm pháp y tâm thần khu vực để các Trung tâm này sớm đi vào hoạt động theo quy định của Luật và Nghị định số 85/2013/NĐ-CP.

Bên cạnh đó, Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh tiếp tục được Bộ Công an quan tâm kiện toàn cơ cấu tổ chức, điều kiện cơ sở vật chất cơ bản đảm bảo hoạt động ổn định. Hầu hết các Phòng kỹ thuật hình sự được giao diện tích làm trụ sở và phòng làm việc riêng; phương tiện, thiết bị phục vụ hoạt động giám định cơ bản đảm bảo để thực hiện giám định theo từng chuyên ngành được Bộ Công an phân cấp. Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an các địa phương như: Thái Bình, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hoá, Nghệ An, Khánh Hoà, Quảng Ngãi, Quảng Ninh... đã được Bộ Công an đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm chuyên sâu phục vụ giám định hoá pháp lý, giám định gen bằng công nghệ bán tự động.

Thứ ba, về chủ trương xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp

Để đáp ứng nhu cầu giám định tư pháp trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực chưa có tổ chức giám định tư pháp chuyên trách, Luật Giám định tư pháp quy định cụ thể về tiêu chuẩn, việc công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc và tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, cũng như trách nhiệm của các bộ, ngành và địa phương trong việc rà soát, lựa chọn, lập và công bố danh sách đối tượng này trong các lĩnh vực như tài chính, xây dựng, giao thông vận tải, ngân hàng để đáp ứng nhu cầu giám định tư pháp. Qua gần 02 năm triển khai thực hiện, các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương đã công bố được 136 tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc và 736 cá nhân giám định tư pháp theo vụ việc trong các lĩnh vực xây dựng, tài chính, ngân hàng, giao thông vận tải, văn hóa v.v... Việc công bố danh sách tổ chức, cá nhân thực hiện giám định trên Trang thông tin điện tử của bộ, ngành và địa phương tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan tiến hành tố tụng chủ động hơn trong việc trưng cầu các tổ chức, cá nhân phù hợp với yêu cầu của vụ việc giám định.

Về việc thành lập Văn phòng giám định tư pháp: Đây là một nội dung mới, mang tính cải cách đột phá trong hoạt động giám định tư pháp nhằm huy động nguồn lực xã hội vào hoạt động giám định, góp phần tháo gỡ “điểm nghẽn” về thiếu người giám định, thiếu tổ chức để trưng cầu, yêu cầu giám định trong việc giám định xây dựng, tài chính, kế toán, ngân hàng, văn hóa. Thời gian qua, đã có 01 Văn phòng giám định tư pháp được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh (Văn phòng giám định tư pháp Sài Gòn thực hiện giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính - kế toán). Văn phòng giám định tư pháp đã tiếp nhận và thực hiện các vụ việc giám định về tài chính kế toán theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng một số tỉnh, thành phố ở khu vực phía Nam.

Thứ tư, về hoạt động giám định tư pháp

Nhìn chung, việc trưng cầu, yêu cầu, tiếp nhận và thực hiện giám định tư pháp được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục được quy định trong Luật Giám định tư pháp và các văn bản pháp luật có liên quan. Các kết luận giám định tư pháp về cơ bản đáp ứng được yêu cầu về mặt thời gian, chính xác, khách quan, góp phần rất lớn giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án.

Đối với loại hình giám định pháp y - là một trong hai loại hình giám định tư pháp chiếm đa số trong các vụ việc giám định, để phù hợp với điều kiện thực tiễn cũng như khoa học về pháp y, Luật quy định giám định viên pháp y thuộc Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh chỉ thực hiện giám định pháp y tử thi, không thực hiện giám định pháp y về thương tích. Thực hiện quy định này, đến nay, hoạt động giám định pháp y về thương tích đã hoàn toàn do pháp y của Ngành Y tế thực hiện.

Thứ năm, về chi phí giám định tư pháp

Vấn đề phí, chi phí cần thiết cho việc trưng cầu, thực hiện giám định tư pháp đang là một trong những bất cập, làm ách tắc nhiều hoạt động giám định tư pháp, do quy định hiện hành về phí, chi phí giám định tư pháp chưa rõ ràng, dẫn đến việc chi trả các chi phí giám định không kịp thời, không tương xứng với công sức lao động bỏ ra, cũng như không bảo đảm việc khấu hao máy móc, trang thiết bị phục vụ công tác giám định tư pháp. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến nhiều tổ chức chuyên môn, doanh nghiệp từ chối thực hiện giám định tư pháp theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Để giải quyết vấn đề này, Luật Giám định tư pháp, Pháp lệnh Chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng và Nghị định số 81/2014/NĐ-CP ngày 14/8/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng. Triển khai quy định này, hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải đã áp dụng cách tính chi phí mới và cách tính này bước đầu được các tổ chức thực hiện giám định đánh giá là tương đối phù hợp với thực tiễn.

Thứ sáu, về chế độ, chính sách đối với hoạt động giám định tư pháp

Luật Giám định tư pháp quy định mang tính nguyên tắc những chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng và tôn vinh người làm giám định tư pháp để thu hút các chuyên gia giỏi, cán bộ có năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp tham gia hoạt động giám định tư pháp và giao cho Chính phủ quy định cụ thể. Triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp, Bộ Tư pháp đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg ngày 01/01/2014 về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp thay thế Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg ngày 07/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ, theo hướng tăng mức bồi dưỡng cho người giám định tư pháp. Đến nay, về cơ bản các bộ, ngành và địa phương đã tổ chức triển khai có hiệu quả Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg ngày 01/01/2014 về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp, góp phần động viên, khuyến khích rất lớn đối với người giám định tư pháp cũng như thu hút các chuyên gia giỏi tham gia vào hoạt động giám định tư pháp.

Để khuyến khích Văn phòng giám định tư pháp phát triển, Chính phủ đã quy định một số chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng cho Văn phòng giám định tư pháp tại Nghị định số 59/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Hy vọng, với chính sách ưu đãi nêu trên, Văn phòng giám định tư pháp trong thời gian tới sẽ được phát triển hơn nữa.

Thứ bảy, về quản lý nhà nước đối với công tác giám định tư pháp

Để khắc phục tình trạng không rõ ràng và thiếu hiệu quả trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp hiện nay, Luật quy định theo hướng đề cao và làm rõ trách nhiệm của các bộ, ngành chủ quản, các cơ chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện quản lý nhà nước về giám định tư pháp. Theo đó, các bộ, ngành chịu trách nhiệm trước Chính phủ về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp thuộc lĩnh vực quản lý; đồng thời, Luật bổ sung quy định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với hoạt động giám định tư pháp, tạo ra cơ chế cộng đồng trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước với các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động giám định tư pháp.

Thực tiễn triển khai Luật Giám định tư pháp thời gian qua cho thấy, khác với trước đây, hiện nay nhiều bộ, ngành đã quan tâm hơn đến việc ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Giám định tư pháp; củng cố, kiện toàn tổ chức giám định tư pháp thuộc lĩnh vực quản lý; nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ người giám định tư pháp (Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông); thực hiện việc thống kê về giám định tư pháp (Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao), cá biệt, một số bộ, ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải) trước đây hầu như không quan tâm đến công tác giám định tư pháp, nhưng nay đã triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao trong Luật Giám định tư pháp và Nghị định số 85/2013/NĐ-CP.

Nhìn chung, qua 02 năm triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp, Chính phủ, các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã có nhiều nỗ lực để tổ chức thực hiện và đã đạt được những kết quả đáng kể trong công tác xây dựng thể chế, nâng cao năng lực cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giám định tư pháp. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, công tác giám định tư pháp còn có một số tồn tại, hạn chế nhất định. Vì vậy, để Luật Giám định tư pháp thực sự đi vào cuộc sống, trong thời gian tới, các bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục quan tâm đến công tác phổ biến giáo dục pháp luật về giám định tư pháp, nâng cao nhận thức về vai trò của công tác giám định tư pháp, tạo điều kiện để công tác giám định được tiến hành thuận lợi, đúng luật.

Cục Bổ trợ tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: