Thứ bảy 06/12/2025 05:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và những vấn đề cần hoàn thiện

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Sự ra đời của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã khắc phục được một số hạn chế của Luật Tố tụng hành chính năm 2010, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời cũng là cơ sở vững chắc cho Toà án các cấp trong công tác giải quyết các khiếu kiện hành chính.

Tuy nhiên, bên cạnh những quy định phù hợp thì Luật Tố tụng hành chính năm 2015 vẫn còn tồn tại những hạn chế và vướng mắc dẫn đến hiệu quả giải quyết vụ án hành chính chưa cao. Do vậy, việc hoàn thiện các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 để nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án hành chính là vấn đề cấp thiết.

Thứ nhất, sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong việc giải quyết vụ án hành chính

Tại khoản 1 Điều 12 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định “việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính có Hội thẩm nhân dân tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” là không phù hợp với tính chất của việc giải quyết vụ án hành chính, vì việc giải quyết vụ án hành chính là việc xem xét tính hợp pháp của các khiếu kiện. Như vậy, câu hỏi đặt ra là, có nhất thiết phải có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân khi giải quyết vụ án hành chính hay không khi mà Hội thẩm nhân dân tham gia giải quyết các vụ án với tư cách là người đại diện do yếu tố về tính “hợp lý” của các khiếu kiện. Do đó, theo quan điểm của tác giả, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nên quy định thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính không nhất thiết phải có Hội thẩm nhân dân tham gia hoặc nếu có Hội thẩm nhân dân tham gia thì số lượng cũng phải ít hơn số lượng của thẩm phán để phù hợp với tính chất của việc giải quyết vụ án hành chính là xem xét tính hợp pháp của các khiếu kiện.

Thứ hai, thẩm quyền của Tòa án

- Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định, đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp tỉnh tại khoản 1 Điều 31 và khoản 4 Điều 32 xuất phát từ quan điểm cho rằng Tòa án nước ta được tổ chức theo mô hình hành chính cấp lãnh thổ nên sự phụ thuộc của Tòa án vào cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, Luật quy định, với các khiếu kiện này phải thuộc thẩm quyền của cơ quan Tòa án cấp trên trực tiếp nhằm hạn chế tình trạng không vô tư, khách quan của Tòa án khi xét xử các khiếu kiện hành chính liên quan đến những chủ thể trên. Tuy nhiên, theo tác giả, quy định này xét về mặt lý luận là không có căn cứ, đi ngược lại định hướng cải cách tư pháp là tăng thẩm quyền cho Tòa án nhân dân cấp huyện trong tương lai. Vì vậy, Luật nên quy định lại theo hướng quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.

- Theo quy định khoản 8 Điều 32 của Luật, Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện trong trường hợp cần thiết. Tuy vậy, hiện nay, Luật lại không giải thích rõ thế nào là “trường hợp cần thiết”. Vì vậy, không loại trừ khả năng trên thực tiễn, Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ lấy các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp huyện lên để giải quyết một cách “tùy tiện” mà không có cơ sở pháp lý rõ ràng. Vì vậy, theo tác giả, Luật nên quy định rõ trường hợp nào là “cần thiết” để Tòa án nhân dân cấp tỉnh có căn cứ pháp lý để lấy các vụ án của Tòa án nhân dân cấp huyện lên giải quyết. Có thể tiếp thu kinh nghiệm của Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính về các trường hợp cần thiết như sau:

(i) Với các vụ án được đánh giá là vụ án phức tạp có liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người; có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thời gian kiểm tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn;

(ii) Với các vụ án có đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài cần ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài;

(iii) Với các vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện mà thẩm phán của Tòa án cấp huyện đó phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi.

Thứ ba, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

- Mặc dù vai trò của kiểm sát viên trong tố tụng hành chính là kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhưng hiện nay Luật lại không quy định cho kiểm sát viên được quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng (Điều 43) là một bất cập. Rõ ràng, quy định này đã không đề cao được vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính của kiểm sát viên, dẫn đến vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và kiểm sát viên nói riêng trong tố tụng hành chính bị “mờ nhạt”. Do vậy, theo tác giả, Điều 43 của Luật cần bổ sung thẩm quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng cho kiểm sát viên để phù hợp với vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính của kiểm sát viên nói riêng và Viện kiểm sát nhân dân nói chung.

- Khoản 8 Điều 55 của Luật quy định đương sự có quyền “Được biết, ghi chép và sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập, trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai” nhưng lại không quy định cho đương sự có quyền “nghiên cứu hồ sơ vụ án” là không đầy đủ. Trong khi đó, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ tham gia vụ án hành chính với tư cách “phái sinh” lại có được quyền này là không phù hợp. Do vậy, theo tác giả, quy định tại khoản 8 Điều 55 của Luật nên sửa lại theo hướng cho phép đương sự được quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án thay vì chỉ được quyền được biết, ghi chép và sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập như quy định hiện nay.

- Quy định về vấn đề ủy quyền tham gia tố tụng tại khoản 3 Điều 60 “Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình đại diện” đã ảnh hưởng đến việc tham gia giải quyết vụ án hành chính của người bị kiện. Thực tế triển khai Luật Tố tụng hành chính năm 2015 gặp phải tình trạng là những địa phương có số lượng khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quá nhiều sẽ gây ảnh hưởng đến công tác quản lý hành chính nhà nước và việc phát triển an sinh xã hội, kinh tế của địa phương[1]. Vì vậy, người bị kiện thường vắng mặt trong việc xét xử của các vụ án hành chính. Do đó, việc quy định và bắt buộc người bị kiện phải trực tiếp tham gia tố tụng, chỉ được ủy quyền cho cấp phó trực tiếp của mình mà không được ủy quyền cho cán bộ, công chức trực tiếp tham mưu xử lý vụ việc để tham gia tố tụng, là không phù hợp với thực tiễn và yêu cầu công tác tại một số địa phương đặc biệt là TP. Hồ Chí Minh và TP. Hà Nội. Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, Luật nên cho phép người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể ủy quyền cho người của cơ quan, tổ chức mình làm người đại diện tham gia tố tụng.

Thứ tư, khởi kiện và thụ lý vụ án

- Tại điểm a khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không quy định rõ trường hợp nào là trường hợp “người khởi kiện không có quyền khởi kiện”. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng thống nhất pháp luật của Tòa án. Vì vậy, theo tác giả, Luật cần quy định rõ trường hợp “người khởi kiện không có quyền khởi kiện” là những trường hợp sau:

(i) Trường hợp người khởi kiện không có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trực tiếp bởi các khiếu kiện hành chính. Vì không phải bất cứ chủ thể nào cũng có quyền khởi kiện vụ án hành chính, cũng như có thể tham gia thực hiện quyền tố tụng hành chính đó trước Tòa án mà chỉ có những ai bị xâm phạm trực tiếp bởi các khiếu kiện mới được khởi kiện vụ án hành chính. Hiện nay, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành không có quy định nào nói về việc người khởi kiện phải là người bị “tác động trực tiếp” bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính. Tuy nhiên, “thực tiễn áp dụng pháp luật và thực tiễn giải quyết vụ án hành chính cho thấy, chỉ có những cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếp bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính mới có quyền khởi kiện vụ án hành chính”[2]. Tác giả đồng tình với quan điểm này vì các cá nhân, cơ quan, tổ chức dù bị ảnh hưởng từ các quyết định hành chính, hành vi hành chính nhưng không chịu tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính đó thì không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu người tiến hành khởi kiện không bị tác động trực tiếp bởi các khiếu kiện hành chính thì họ được xem như không có quyền khởi kiện và Tòa án sẽ không thụ lý giải quyết vụ án mà phải trả lại đơn khởi kiện theo đúng quy định của pháp luật.

(ii) Trường hợp người khởi kiện xác định sai tư cách chủ thể của người bị kiện. Có thể hiểu, trường hợp người khởi kiện xác định sai tư cách của người bị kiện là trường hợp người khởi kiện khởi kiện chủ thể không có thẩm quyền ban hành hoặc thực hiện các khiếu kiện hành chính.

- Khoản 1 Điều 123 liệt kê các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện nhưng không đủ, còn thiếu một trường hợp. Đó là trường hợp người khởi kiện không lựa chọn cơ quan giải quyết khi vừa có đơn khởi kiện, vừa có đơn khiếu nại theo quy định tại khoản 4 Điều 33 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Khi có tranh chấp hành chính phát sinh, chủ thể bị tác động bởi các tranh chấp hành chính là các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại đến chính cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã ban hành các khiếu kiện hành chính dẫn đến tranh chấp hoặc khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Do vậy, trường hợp người khởi kiện vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện được hiểu là trường hợp sau việc được khiếu kiện chưa được xác lập thẩm quyền giải quyết, tức là tại thời điểm khiếu nại và khởi kiện người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chưa thụ lý giải quyết vụ khiếu nại và Tòa án cũng chưa thụ lý giải quyết vụ việc. Có thể thấy, việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp này là cần thiết để tránh mất thời gian của đương sự cũng như cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo tác giả, trường hợp này cần được bổ sung vào quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về các căn cứ trả lại đơn khởi kiện.

Thứ năm, giải quyết sơ thẩm vụ án hành chính

- Quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử trong trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết, “Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật” ở khoản 4 Điều 130 đã vô hình chung làm cho thời gian giải quyết vụ án hành chính kéo dài không thời hạn.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nghĩa là, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử mà Tòa án có căn cứ để ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính tại Điều 141 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì thời gian mà vụ án hành chính bị tạm đình chỉ không tính vào thời hạn chuẩn bị xét xử mà thời hạn chuẩn bị xét xử sẽ được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Do vậy, theo tác giả, Luật cần quy định lại theo hướng thời gian tạm đình chỉ sẽ được tính vào thời hạn chuẩn bị xét xử để tránh tình trạng việc giải quyết vụ án kéo dài ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hành chính.

- Các căn cứ hoãn phiên toà quy định tại khoản 1 Điều 162 vẫn còn bỏ sót một vài trường hợp. Điều này khiến cho Hội đồng xét xử lúng túng trong quá trình giải quyết vụ án khi xảy ra trường hợp thực tế đòi hỏi việc hoãn phiên tòa để có thời gian nhằm giải quyết các vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc đưa ra quyết định về các vấn đề của vụ án nhưng không được pháp luật quy định. Nhưng nếu không quyết định hoãn phiên tòa có thể bản án sơ thẩm không đảm bảo phù hợp sự thật khách quan, thế nhưng về mặt pháp lý không tồn tại cơ sở cho phép Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa. Cụ thể, khoản 1 Điểu 162 nên bổ sung các trường hợp sau đây vào căn cứ hoãn phiên tòa:

(i) Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên toà, nếu vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và thông báo cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 156[3].

(ii) Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt tại phiên tòa vì sự kiện bất khả kháng.

(iii) Có căn cứ cho thấy cần triệu tập thêm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người phiên dịch tham gia tố tụng.

(iv) Việc phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm quy định tại Điều 190 sẽ ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan của Hội đồng xét xử khi ban hành ra phán quyết giải quyết vụ án.

- Theo quy định tại Điều 190, tại phiên tòa sơ thẩm, kiểm sát viên được quyền phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Ngoài ra, kiểm sát viên còn được quyền phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Với quy định này, sẽ làm giảm đi tính độc lập của Hội đồng xét xử. Do đó, theo tác giả, Luật nên quy định kiểm sát viên chỉ được quyền phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của chủ thể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng mà không được phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án để tránh ảnh hưởng đến tính độc lập và vô tư của Hội đồng xét xử khi đưa ra phán quyết.

Thứ sáu, giám đốc thẩm vụ án hành chính

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã bổ sung quy định về thẩm quyền “Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” khoản 5 Điều 272 và Điều 276 vào thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm. Đây là quy định mới của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 so với quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Các quan điểm ủng hộ việc bổ sung này cho rằng, việc bổ sung thẩm quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để khắc phục nhanh chóng, giảm các chi phí không cần thiết những hậu quả do bản án, quyết định vi phạm nghiêm trọng pháp luật bị kháng nghị gây ra, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án cũng như người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, theo tác giả, quy định này là không phù hợp và cần được loại bỏ, vì giám đốc thẩm là một hình thức đặc biệt của hoạt động giám đốc xét xử, đay là hoạt động kiểm sát xét xử của Tòa án cấp trên đối với hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới nên đối tượng của giám đốc thẩm được xác định là bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, Hội đồng giám đốc thẩm chỉ có quyền giữ nguyên hoặc hủy bỏ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chứ không được quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

ThS. Nguyễn Thanh Quyên

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Theo Khoản 3 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó tham gia vụ án hành chính và không được ủy quyền lại cho người thứ ba. Thực tế thì từ ngày 01/7/2016 đến nay, TP. Hồ Chí Minh phải đối diện với gần 1.000 vụ án hành chính (trung bình gần 03 vụ/ngày) nên thủ trưởng cơ quan hành chính trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đang chịu áp lực rất lớn. “Mỗi vụ án hành chính thường kéo dài từ 04 đến 06 tháng hoặc hơn 09 tháng nếu có quyết định tạm đình chỉ vụ án và người bị kiện phải tham gia nhiều giai đoạn, rất nhiều phiên từ hòa giải, cung cấp chứng cứ, đối thoại, xác minh và các phiên xét xử… Với mức độ quản lý, điều hành tại TP. Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận huyện không thể xếp lịch làm việc theo lệnh triệu tập của Tòa án nhân dân để tham gia tất cả các giai đoạn của gần 1.000 vụ án hành chính trong một năm làm việc” (Nguồn: http://www.sggp.org.vn/tphcm-kien-nghi-duoc-binh-dang-hon-trong-cac-vu-kien-hanh-chinh-468819.html (Truy cập ngày 05/09/2017).

[2] Lê Việt Sơn (2013), “Bàn về người khởi kiện và người bị kiện trong vụ án hành chính, Tạp chí Khoa học pháp lý, (04/2013), tr. 29.

[3] Nếu phiên tòa diễn ra với sự có mặt của kiểm sát viên nhưng vì một lý do nào đó kiểm sát viên không thể tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có kiểm sát viên dự khuyết thay thế hay có kiểm sát viên dự khuyết thay thế nhưng người này đã không tham gia phiên tòa ngay từ đầu thì sẽ xử lý như thế nào? Trong trường hợp này, nếu theo quy định của Luật thì Hội đồng xét xử sơ thẩm hoãn phiên tòa là không phù hợp bởi căn cứ hoãn phiên tòa tại điểm a khoản 1 Điều 162 dẫn chiếu đến Điều 156 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không có quy định này. Điều khoản này chỉ ghi nhận trường hợp kiểm sát viên vắng mặt mà không đề cập đến trường hợp kiểm sát viên đã có mặt nhưng vì một lý do nào đó không thể tiếp tục tham gia phiên tòa. Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào các quy định pháp luật tố tụng hành chính hiện hành, tình huống này hoàn toàn không có cơ sở pháp lý để giải quyết.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: