Thứ sáu 13/03/2026 00:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và những vấn đề cần hoàn thiện

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Sự ra đời của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã khắc phục được một số hạn chế của Luật Tố tụng hành chính năm 2010, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời cũng là cơ sở vững chắc cho Toà án các cấp trong công tác giải quyết các khiếu kiện hành chính.

Tuy nhiên, bên cạnh những quy định phù hợp thì Luật Tố tụng hành chính năm 2015 vẫn còn tồn tại những hạn chế và vướng mắc dẫn đến hiệu quả giải quyết vụ án hành chính chưa cao. Do vậy, việc hoàn thiện các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 để nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án hành chính là vấn đề cấp thiết.

Thứ nhất, sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong việc giải quyết vụ án hành chính

Tại khoản 1 Điều 12 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định “việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính có Hội thẩm nhân dân tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” là không phù hợp với tính chất của việc giải quyết vụ án hành chính, vì việc giải quyết vụ án hành chính là việc xem xét tính hợp pháp của các khiếu kiện. Như vậy, câu hỏi đặt ra là, có nhất thiết phải có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân khi giải quyết vụ án hành chính hay không khi mà Hội thẩm nhân dân tham gia giải quyết các vụ án với tư cách là người đại diện do yếu tố về tính “hợp lý” của các khiếu kiện. Do đó, theo quan điểm của tác giả, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nên quy định thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính không nhất thiết phải có Hội thẩm nhân dân tham gia hoặc nếu có Hội thẩm nhân dân tham gia thì số lượng cũng phải ít hơn số lượng của thẩm phán để phù hợp với tính chất của việc giải quyết vụ án hành chính là xem xét tính hợp pháp của các khiếu kiện.

Thứ hai, thẩm quyền của Tòa án

- Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định, đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp tỉnh tại khoản 1 Điều 31 và khoản 4 Điều 32 xuất phát từ quan điểm cho rằng Tòa án nước ta được tổ chức theo mô hình hành chính cấp lãnh thổ nên sự phụ thuộc của Tòa án vào cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, Luật quy định, với các khiếu kiện này phải thuộc thẩm quyền của cơ quan Tòa án cấp trên trực tiếp nhằm hạn chế tình trạng không vô tư, khách quan của Tòa án khi xét xử các khiếu kiện hành chính liên quan đến những chủ thể trên. Tuy nhiên, theo tác giả, quy định này xét về mặt lý luận là không có căn cứ, đi ngược lại định hướng cải cách tư pháp là tăng thẩm quyền cho Tòa án nhân dân cấp huyện trong tương lai. Vì vậy, Luật nên quy định lại theo hướng quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.

- Theo quy định khoản 8 Điều 32 của Luật, Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện trong trường hợp cần thiết. Tuy vậy, hiện nay, Luật lại không giải thích rõ thế nào là “trường hợp cần thiết”. Vì vậy, không loại trừ khả năng trên thực tiễn, Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ lấy các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp huyện lên để giải quyết một cách “tùy tiện” mà không có cơ sở pháp lý rõ ràng. Vì vậy, theo tác giả, Luật nên quy định rõ trường hợp nào là “cần thiết” để Tòa án nhân dân cấp tỉnh có căn cứ pháp lý để lấy các vụ án của Tòa án nhân dân cấp huyện lên giải quyết. Có thể tiếp thu kinh nghiệm của Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính về các trường hợp cần thiết như sau:

(i) Với các vụ án được đánh giá là vụ án phức tạp có liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người; có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thời gian kiểm tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn;

(ii) Với các vụ án có đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài cần ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài;

(iii) Với các vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện mà thẩm phán của Tòa án cấp huyện đó phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi.

Thứ ba, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

- Mặc dù vai trò của kiểm sát viên trong tố tụng hành chính là kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhưng hiện nay Luật lại không quy định cho kiểm sát viên được quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng (Điều 43) là một bất cập. Rõ ràng, quy định này đã không đề cao được vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính của kiểm sát viên, dẫn đến vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và kiểm sát viên nói riêng trong tố tụng hành chính bị “mờ nhạt”. Do vậy, theo tác giả, Điều 43 của Luật cần bổ sung thẩm quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng cho kiểm sát viên để phù hợp với vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính của kiểm sát viên nói riêng và Viện kiểm sát nhân dân nói chung.

- Khoản 8 Điều 55 của Luật quy định đương sự có quyền “Được biết, ghi chép và sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập, trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai” nhưng lại không quy định cho đương sự có quyền “nghiên cứu hồ sơ vụ án” là không đầy đủ. Trong khi đó, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ tham gia vụ án hành chính với tư cách “phái sinh” lại có được quyền này là không phù hợp. Do vậy, theo tác giả, quy định tại khoản 8 Điều 55 của Luật nên sửa lại theo hướng cho phép đương sự được quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án thay vì chỉ được quyền được biết, ghi chép và sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập như quy định hiện nay.

- Quy định về vấn đề ủy quyền tham gia tố tụng tại khoản 3 Điều 60 “Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình đại diện” đã ảnh hưởng đến việc tham gia giải quyết vụ án hành chính của người bị kiện. Thực tế triển khai Luật Tố tụng hành chính năm 2015 gặp phải tình trạng là những địa phương có số lượng khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quá nhiều sẽ gây ảnh hưởng đến công tác quản lý hành chính nhà nước và việc phát triển an sinh xã hội, kinh tế của địa phương[1]. Vì vậy, người bị kiện thường vắng mặt trong việc xét xử của các vụ án hành chính. Do đó, việc quy định và bắt buộc người bị kiện phải trực tiếp tham gia tố tụng, chỉ được ủy quyền cho cấp phó trực tiếp của mình mà không được ủy quyền cho cán bộ, công chức trực tiếp tham mưu xử lý vụ việc để tham gia tố tụng, là không phù hợp với thực tiễn và yêu cầu công tác tại một số địa phương đặc biệt là TP. Hồ Chí Minh và TP. Hà Nội. Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, Luật nên cho phép người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể ủy quyền cho người của cơ quan, tổ chức mình làm người đại diện tham gia tố tụng.

Thứ tư, khởi kiện và thụ lý vụ án

- Tại điểm a khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không quy định rõ trường hợp nào là trường hợp “người khởi kiện không có quyền khởi kiện”. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng thống nhất pháp luật của Tòa án. Vì vậy, theo tác giả, Luật cần quy định rõ trường hợp “người khởi kiện không có quyền khởi kiện” là những trường hợp sau:

(i) Trường hợp người khởi kiện không có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trực tiếp bởi các khiếu kiện hành chính. Vì không phải bất cứ chủ thể nào cũng có quyền khởi kiện vụ án hành chính, cũng như có thể tham gia thực hiện quyền tố tụng hành chính đó trước Tòa án mà chỉ có những ai bị xâm phạm trực tiếp bởi các khiếu kiện mới được khởi kiện vụ án hành chính. Hiện nay, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành không có quy định nào nói về việc người khởi kiện phải là người bị “tác động trực tiếp” bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính. Tuy nhiên, “thực tiễn áp dụng pháp luật và thực tiễn giải quyết vụ án hành chính cho thấy, chỉ có những cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếp bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính mới có quyền khởi kiện vụ án hành chính”[2]. Tác giả đồng tình với quan điểm này vì các cá nhân, cơ quan, tổ chức dù bị ảnh hưởng từ các quyết định hành chính, hành vi hành chính nhưng không chịu tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính đó thì không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu người tiến hành khởi kiện không bị tác động trực tiếp bởi các khiếu kiện hành chính thì họ được xem như không có quyền khởi kiện và Tòa án sẽ không thụ lý giải quyết vụ án mà phải trả lại đơn khởi kiện theo đúng quy định của pháp luật.

(ii) Trường hợp người khởi kiện xác định sai tư cách chủ thể của người bị kiện. Có thể hiểu, trường hợp người khởi kiện xác định sai tư cách của người bị kiện là trường hợp người khởi kiện khởi kiện chủ thể không có thẩm quyền ban hành hoặc thực hiện các khiếu kiện hành chính.

- Khoản 1 Điều 123 liệt kê các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện nhưng không đủ, còn thiếu một trường hợp. Đó là trường hợp người khởi kiện không lựa chọn cơ quan giải quyết khi vừa có đơn khởi kiện, vừa có đơn khiếu nại theo quy định tại khoản 4 Điều 33 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Khi có tranh chấp hành chính phát sinh, chủ thể bị tác động bởi các tranh chấp hành chính là các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại đến chính cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã ban hành các khiếu kiện hành chính dẫn đến tranh chấp hoặc khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Do vậy, trường hợp người khởi kiện vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện được hiểu là trường hợp sau việc được khiếu kiện chưa được xác lập thẩm quyền giải quyết, tức là tại thời điểm khiếu nại và khởi kiện người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chưa thụ lý giải quyết vụ khiếu nại và Tòa án cũng chưa thụ lý giải quyết vụ việc. Có thể thấy, việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp này là cần thiết để tránh mất thời gian của đương sự cũng như cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo tác giả, trường hợp này cần được bổ sung vào quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về các căn cứ trả lại đơn khởi kiện.

Thứ năm, giải quyết sơ thẩm vụ án hành chính

- Quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử trong trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết, “Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật” ở khoản 4 Điều 130 đã vô hình chung làm cho thời gian giải quyết vụ án hành chính kéo dài không thời hạn.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nghĩa là, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử mà Tòa án có căn cứ để ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính tại Điều 141 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì thời gian mà vụ án hành chính bị tạm đình chỉ không tính vào thời hạn chuẩn bị xét xử mà thời hạn chuẩn bị xét xử sẽ được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Do vậy, theo tác giả, Luật cần quy định lại theo hướng thời gian tạm đình chỉ sẽ được tính vào thời hạn chuẩn bị xét xử để tránh tình trạng việc giải quyết vụ án kéo dài ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hành chính.

- Các căn cứ hoãn phiên toà quy định tại khoản 1 Điều 162 vẫn còn bỏ sót một vài trường hợp. Điều này khiến cho Hội đồng xét xử lúng túng trong quá trình giải quyết vụ án khi xảy ra trường hợp thực tế đòi hỏi việc hoãn phiên tòa để có thời gian nhằm giải quyết các vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc đưa ra quyết định về các vấn đề của vụ án nhưng không được pháp luật quy định. Nhưng nếu không quyết định hoãn phiên tòa có thể bản án sơ thẩm không đảm bảo phù hợp sự thật khách quan, thế nhưng về mặt pháp lý không tồn tại cơ sở cho phép Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa. Cụ thể, khoản 1 Điểu 162 nên bổ sung các trường hợp sau đây vào căn cứ hoãn phiên tòa:

(i) Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên toà, nếu vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và thông báo cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 156[3].

(ii) Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt tại phiên tòa vì sự kiện bất khả kháng.

(iii) Có căn cứ cho thấy cần triệu tập thêm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người phiên dịch tham gia tố tụng.

(iv) Việc phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm quy định tại Điều 190 sẽ ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan của Hội đồng xét xử khi ban hành ra phán quyết giải quyết vụ án.

- Theo quy định tại Điều 190, tại phiên tòa sơ thẩm, kiểm sát viên được quyền phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Ngoài ra, kiểm sát viên còn được quyền phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Với quy định này, sẽ làm giảm đi tính độc lập của Hội đồng xét xử. Do đó, theo tác giả, Luật nên quy định kiểm sát viên chỉ được quyền phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của chủ thể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng mà không được phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án để tránh ảnh hưởng đến tính độc lập và vô tư của Hội đồng xét xử khi đưa ra phán quyết.

Thứ sáu, giám đốc thẩm vụ án hành chính

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã bổ sung quy định về thẩm quyền “Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” khoản 5 Điều 272 và Điều 276 vào thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm. Đây là quy định mới của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 so với quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Các quan điểm ủng hộ việc bổ sung này cho rằng, việc bổ sung thẩm quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để khắc phục nhanh chóng, giảm các chi phí không cần thiết những hậu quả do bản án, quyết định vi phạm nghiêm trọng pháp luật bị kháng nghị gây ra, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án cũng như người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, theo tác giả, quy định này là không phù hợp và cần được loại bỏ, vì giám đốc thẩm là một hình thức đặc biệt của hoạt động giám đốc xét xử, đay là hoạt động kiểm sát xét xử của Tòa án cấp trên đối với hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới nên đối tượng của giám đốc thẩm được xác định là bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, Hội đồng giám đốc thẩm chỉ có quyền giữ nguyên hoặc hủy bỏ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chứ không được quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

ThS. Nguyễn Thanh Quyên

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Theo Khoản 3 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó tham gia vụ án hành chính và không được ủy quyền lại cho người thứ ba. Thực tế thì từ ngày 01/7/2016 đến nay, TP. Hồ Chí Minh phải đối diện với gần 1.000 vụ án hành chính (trung bình gần 03 vụ/ngày) nên thủ trưởng cơ quan hành chính trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đang chịu áp lực rất lớn. “Mỗi vụ án hành chính thường kéo dài từ 04 đến 06 tháng hoặc hơn 09 tháng nếu có quyết định tạm đình chỉ vụ án và người bị kiện phải tham gia nhiều giai đoạn, rất nhiều phiên từ hòa giải, cung cấp chứng cứ, đối thoại, xác minh và các phiên xét xử… Với mức độ quản lý, điều hành tại TP. Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận huyện không thể xếp lịch làm việc theo lệnh triệu tập của Tòa án nhân dân để tham gia tất cả các giai đoạn của gần 1.000 vụ án hành chính trong một năm làm việc” (Nguồn: http://www.sggp.org.vn/tphcm-kien-nghi-duoc-binh-dang-hon-trong-cac-vu-kien-hanh-chinh-468819.html (Truy cập ngày 05/09/2017).

[2] Lê Việt Sơn (2013), “Bàn về người khởi kiện và người bị kiện trong vụ án hành chính, Tạp chí Khoa học pháp lý, (04/2013), tr. 29.

[3] Nếu phiên tòa diễn ra với sự có mặt của kiểm sát viên nhưng vì một lý do nào đó kiểm sát viên không thể tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có kiểm sát viên dự khuyết thay thế hay có kiểm sát viên dự khuyết thay thế nhưng người này đã không tham gia phiên tòa ngay từ đầu thì sẽ xử lý như thế nào? Trong trường hợp này, nếu theo quy định của Luật thì Hội đồng xét xử sơ thẩm hoãn phiên tòa là không phù hợp bởi căn cứ hoãn phiên tòa tại điểm a khoản 1 Điều 162 dẫn chiếu đến Điều 156 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không có quy định này. Điều khoản này chỉ ghi nhận trường hợp kiểm sát viên vắng mặt mà không đề cập đến trường hợp kiểm sát viên đã có mặt nhưng vì một lý do nào đó không thể tiếp tục tham gia phiên tòa. Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào các quy định pháp luật tố tụng hành chính hiện hành, tình huống này hoàn toàn không có cơ sở pháp lý để giải quyết.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: