Thứ hai 26/10/2026 00:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh năm 2018

Tóm tắt: Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định miễn trừ đối với một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 14. Tuy nhiên, việc áp dụng miễn trừ cũng như áp dụng các điều kiện này có những bất cập và còn chưa phù hợp, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng các quy định này. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi phân tích các điều kiện miễn trừ và đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện các điều khoản miễn trừ đối với các hiệp định hạn chế cạnh tranh.

Tóm tắt: Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định miễn trừ đối với một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 14. Tuy nhiên, việc áp dụng miễn trừ cũng như áp dụng các điều kiện này có những bất cập và còn chưa phù hợp, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng các quy định này. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi phân tích các điều kiện miễn trừ và đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện các điều khoản miễn trừ đối với các hiệp định hạn chế cạnh tranh.

Abstract: The Competition Law of 2018 provides for exemptions for a number of competition restriction agreements that meet the conditions specified in Article 14. However, the application of exemptions as well as the application of these conditions has shortcomings and are still inappropriate, leading to difficulties in applying these regulations. Within the scope of the article, we analyze the exemption conditions and propose recommendations to improve the exemption provisions for competition restriction agreements.

1. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo Luật Cạnh tranh năm 2018

Theo khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018 thì thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh. So với Luật Cạnh tranh năm 2004 thì Luật Cạnh tranh năm 2018 mở rộng và cụ thể hơn các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, trong đó thêm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh gồm: Hành vi thỏa thuận phân chia khách hàng, thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận, thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thỏa thuận, thỏa thuận khác gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh (Điều 11).

Dựa vào quy định tại Điều 11 và Điều 12 Luật Cạnh tranh năm 2018 có thể chia các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm thành các nhóm như sau:

- Nhóm 1: Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại các khoản 1, 2, 3 Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018 giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan (nhóm bị cấm có điều kiện).

- Nhóm 2: Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại các khoản 4, 5, 6 Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018 giữa các doanh nghiệp bất kỳ mà không có sự phân biệt (nhóm bị cấm tuyệt đối không được miễn trừ).

- Nhóm 3: Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại các khoản 7, 8, 9, 10, 11 Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018 giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan nếu thỏa thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường (nhóm bị cấm có điều kiện).

- Nhóm 4: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại các khoản 1, 2, 3, 7, 8, 9, 10, 11 Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018 giữa các doanh nghiệp kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định nếu thỏa thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường (nhóm bị cấm có điều kiện).

Như vậy, không phải tất cả các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nêu trên điều bị cấm tuyệt đối, mà cấm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo hai nguyên tắc là cấm mặc nhiên (nhóm 2) và cấm theo nguyên tắc đánh giá tác động (nhóm 1, 3, 4)[1]. Để xác định các chủ thể có vi phạm các điều kiện của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay không, pháp luật đưa ra các yếu tố dùng để làm căn cứ để đánh giá tác động hoặc có khả năng gây tác động như: Mức thị phần của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận; rào cản gia nhập, mở rộng thị trường; hạn chế nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ hoặc hạn chế năng lực công nghệ; giảm khả năng tiếp cận, nắm giữ cơ sở hạ tầng thiết yếu; tăng chi phí, thời gian của khách hàng trong việc mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hoặc khi chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ liên quan khác; gây cản trở cạnh tranh trên thị trường thông qua kiểm soát các yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực liên quan đến các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận (Điều 13 Luật Cạnh tranh năm 2018). Việc đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được căn cứ vào một hoặc một số yếu tố được hướng dẫn tại Nghị định số 35/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh.

Không phải tất cả các doanh nghiệp thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm đều bị xử lý, Điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định cho phép được thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm và được miễn trừ có thời hạn nếu đáp ứng một trong số các điều kiện cụ thể[2].

2. Quy định miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Cơ sở để thực hiện chính sách miễn trừ được xây dựng bao gồm quyền tự do kinh doanh theo quy định[3] và sự cân xứng cần được pháp luật bảo vệ, theo đó, các doanh nghiệp có quyền liên kết lại với nhau để thực hiện kinh doanh có hiệu quả, đồng thời xem hành vi liên kết lại với nhau giữa các doanh nghiệp có gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp khác của chủ thể khác hay không, trường hợp có tác hại không đáng kể nhưng lợi ích mà nó mang lại lớn hơn những thiệt hại thì cũng cần cho phép sự liên kết đó để thúc đẩy sự phát triển.

Pháp luật nhiều nước không quy định như thế nào là miễn trừ mà chỉ liệt kê những hành vi nào là hành vi được miễn trừ và những điều kiện được miễn trừ, tuy nhiên, dựa vào các quy định về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và quy định về miễn trừ trong Luật Cạnh tranh năm 2018, có thể hiểu, miễn trừ là việc cho khỏi hoặc không áp dụng[4]. Theo đó, Luật Cạnh tranh năm 2018 miễn trừ đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm là việc cho phép các doanh nghiệp thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm nhưng thỏa mãn các điều kiện cụ thể được quy định thì hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đó không xem là hành vi vi phạm và không bị xử lý trong thời hạn nhất định (thời hạn được miễn trừ lần đầu không quá 05 năm, có thể gia hạn nhưng mỗi lần gia hạn không quá 05 năm) (Điều 21).

Mục đích của miễn trừ là cho phép một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhất định nhằm theo đuổi mục tiêu bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng, khuyến khích phát triển kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Từ đó cho thấy, doanh nghiệp được miễn trừ không phải là doanh nghiệp vi phạm Luật Cạnh tranh, bởi lẽ, việc miễn trừ đã loại trừ tính chất “hạn chế cạnh tranh” của loại thỏa thuận mà doanh nghiệp đó tham gia, cũng có thể nói miễn trừ là các doanh nghiệp được “hợp thức hóa” hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Việc miễn trừ cũng không mặc nhiên và vô thời hạn mà dựa trên sự cho phép bằng quyết định miễn trừ của Ủy ban Cạnh tranh quốc gia và miễn trừ có thời hạn. Việc miễn trừ có thời hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận có cơ hội phát triển sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng.

Các bên tham gia thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh không thuộc trường hợp phải chấm dứt ngay lập tức (nhóm 2) thì có thể được miễn trừ có thời hạn nếu thỏa mãn một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2018: (i) Có tác động thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ; (ii) Có tác động tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế; (iii) Có tác dụng thúc đẩy việc áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; (iv) Nhằm thống nhất các điều kiện thực hiện hợp đồng, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá.

Như vậy, khi thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm (không thuộc nhóm 2), các bên tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nộp đơn để được miễn trừ trước khi thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm và thỏa mãn một trong bốn điều kiện trên khi có quyết định miễn trừ thì các doanh nghiệp thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm vẫn không bị xử lý. Ngược lại, các doanh nghiệp thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm (nhóm 2) dù có thỏa mãn một trong bốn điều kiện trên thì vẫn không được miễn trừ hoặc hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm (không thuộc nhóm 2) của các bên tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh không nộp đơn xin miễn trừ vẫn bị xử lý.

2.1. Đối với thỏa thuận tác động thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và thời kỳ công nghệ số bùng nổ như hiện nay thì việc thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ có thể là sự sống còn của doanh nghiệp, tuy nhiên, chi phí để thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ (chẳng hạn như chi phí nghiên cứu phát triển (R&D)) không phải doanh nghiệp nào cũng đủ khả năng để thực hiện, do đó, cần phải có sự liên kết (liên doanh, hợp tác) giữa các doanh nghiệp. Điều này được quy định tại Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Nghị quyết số 52-NQ/TW), theo đó, cần có chính sách ưu tiên phát triển khoa học công nghệ.

Tuy nhiên, khi doanh nghiệp hợp tác liên doanh để thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ nhưng thành quả có được sẽ được giao cho các doanh nghiệp khác (doanh nghiệp đối thủ) thì không doanh nghiệp nào muốn. Vấn đề xảy ra là, khi các doanh nghiệp liên kết không giao dịch với doanh nghiệp đối thủ thì hành vi này, theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018, là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh[5]. Điều này là không phù hợp, bởi lẽ, khi các doanh nghiệp liên doanh để thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ thì phải bỏ một khoản chi phí không hề nhỏ nhưng sẽ đối mặt với rủi ro không thể biết trước là có thành công hay không, nhưng khi thành công thì phải giao dịch với doanh nghiệp đối thủ nếu không giao dịch thì sẽ vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Với quy định này sẽ khó có thể cụ thể hóa chính sách đã được quy định trong Nghị quyết số 52-NQ/TW bởi một số lý do như sau:

Một là, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ không muốn tham gia bởi sản phẩm thành công mà không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.

Hai là, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ có thể thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận trước khi có sản phẩm thành công là khi sản phẩm thành công sẽ không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ từ đầu. Luật Cạnh tranh năm 2018 không giải thích rõ vấn đề này mà chỉ quy định tác động thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ chỉ là điều kiện để xin miễn trừ trước khi thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm (khoản 1 Điều 14).

Ba là, doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận có tâm lý không cùng chung chịu rủi ro với các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ nhưng muốn cùng được hưởng thành quả từ việc các doanh nghiệp liên kết mang lại, nếu các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ không đồng ý thì doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận vẫn có thể hưởng thành quả đó bằng con đường tố tụng cạnh tranh, khi hành vi không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bị cấm nếu nó cùng trên thị trường liên quan và thỏa thuận này gây tác động hoặc có khả năng gây tác động một cách đáng kể trên thị trường.

Bốn là, trong thời kỳ công nghệ số như hiện nay, việc các doanh nghiệp phải chờ thời gian để được có quyết định miễn trừ (thời gian tối đa là 60 ngày, có thể gia hạn 30 kể từ ngày thụ lý)[6], khi có quyết định miễn trừ mới bắt đầu thực hiện việc thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ[7] thì khi đó, sản phẩm tạo ra có thể đã chậm so với các doanh nghiệp khác. Trong khi đó, các hành vi thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ được miễn trừ tự động có thể kể đến pháp luật cạnh tranh của Liên minh châu Âu miễn trừ tự động đối với các thỏa thuận (R&D).

2.2. Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế

Hiện nay, chưa có các tiêu chí để xác định như thế nào là tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế, việc xác định này do Ủy ban Cạnh tranh quốc gia quyết định. Tuy nhiên, việc miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là dựa trên chính sách mũi nhọn, việc thực hiện chính sách này cũng chính là “bật đèn xanh” cho các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh để phát triển nếu đem lại lợi ích thật sự cho sự phát triển kinh tế. Chính sách cạnh tranh nếu thực thi một cách “thái quá” cũng sẽ gây tổn hại cho nền công nghiệp, đặc biệt là với những nền công nghiệp đang ở giai đoạn mới phát triển và phải đối chọi với những đối thủ cạnh tranh lớn từ bên ngoài. Vì vậy, chính sách cạnh tranh cũng không thể đứng ngoài hoạt động xây dựng mũi nhọn kinh tế của quốc gia (chính sách mũi nhọn), chính sách cạnh tranh của các nước đều đã đưa ra những trường hợp miễn trừ đối với các trường hợp tập trung kinh tế hoặc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hướng ra ngoài lãnh thổ[8], với điều kiện miễn trừ mang tính chất định tính như thế này sẽ có hai bất cập như sau:

Thứ nhất, quy định của các quốc gia đã điều chỉnh theo hướng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bên ngoài lãnh thổ nhưng tác động hoặc có khả năng gây tác động đến bên trong lãnh thổ thì đều bị điều chỉnh. Chẳng hạn, tại Mỹ, hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thực hiện ngoài lãnh thổ nhưng gây cản trở hoạt động thương mại trên thị trường Mỹ vẫn bị xử lý (căn cứ xử lý đối với các hành vi này là đạo luật chống độc quyền Sherman)[9]. Đồng thời, Điều 1 Luật Cạnh tranh năm 2018 của nước ta cũng đã điều chỉnh hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh gây tác động hoặc có khả năng gây tác động đến thị trường Việt Nam. Với quy định này thì Luật Cạnh tranh cũng đã điều chỉnh đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bất kể trong hay ngoài nước.

Trong giai đoạn hiện nay, do các doanh nghiệp thường thực hiện các hành vi trên phạm vi nhiều quốc gia, do vậy, cơ quan chống độc quyền của các quốc gia đều muốn nhận được sự hợp tác của các đồng nghiệp nước ngoài, đặc biệt là việc khám xét và bắt giữ các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện thỏa thuận trên lãnh thổ nước ngoài. Vậy, khi các cơ quan cạnh tranh cần đến nhau để xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh xuyên quốc gia thì chính sách của từng quốc gia miễn trừ các thỏa thuận không gây hại cho thị trường nội địa, nhưng gây hại cho thị trường quốc tế có thật sự cần thiết?

Thứ hai, chưa có tiêu chí rõ ràng để xác định như thế nào là tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế, do đó, quy định này mang tính chất định tính cao nên rất khó cho doanh nghiệp xin miễn trừ, bởi lẽ, doanh nghiệp không biết hoặc không rõ mình có được miễn trừ hay không được miễn trừ, mặt khác, tính chất định tính cũng sẽ dễ xảy ra tình trạng áp dụng tràn lan không thống nhất.

Có thể thấy rằng, việc miễn trừ trong pháp luật cạnh tranh là hướng đến sự mềm dẻo và hiệu quả trong vấn đề điều tiết nền kinh tế, hướng đến việc tuân thủ pháp luật sao cho có lợi nhất cho nền kinh tế. Do đó, theo chúng tôi, tạm thời, để phát triển kinh tế và tạo thuận lợi nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam thì cần có những tiêu chí rõ ràng để doanh nghiệp chứng minh có thuộc trường hợp tăng cường sức mạnh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế khi thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay không (có thể xác định doanh nghiệp thông qua thị phần của doanh nghiệp, mục tiêu của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, doanh thu, doanh số…). Việc có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng sẽ dễ áp dụng, tránh tình trạng cảm tính. Dựa vào đó, doanh nghiệp cũng biết được có được miễn trừ hay không để thực hiện nộp đơn xin miễn trừ bởi quy định miễn trừ cũng là quyền lợi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều kiện miễn trừ này cần hướng đến xóa bỏ để bảo đảm môi trường cạnh tranh tự do hơn, công bằng hơn.

2.3. Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm

Khi các doanh nghiệp thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (không thuộc trường hợp bị cấm tuyệt đối) mà việc thỏa thuận đó thúc đẩy áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm thì có thể nộp đơn xin miễn trừ trước khi thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Tuy nhiên, điều kiện để được hưởng miễn trừ này hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể. Theo quy định của pháp luật, có thể hiểu, thúc đẩy áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm theo hai hướng: (i) Thống nhất theo hướng nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; (ii) Thống nhất theo hướng làm giảm đi tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm.

Theo chúng tôi, việc thống nhất nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật chủng loại sản phẩm có thể là điều kiện để doanh nghiệp có thể nộp đơn miễn trừ quy định của điều luật này trước khi thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, nhưng việc thống nhất theo hướng làm giảm đi tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm thì sẽ không được miễn trừ. Trên thực tế, các doanh nghiệp luôn muốn có nhiều khách hàng, mở rộng sản xuất, do đó, việc thống nhất theo hướng giảm thì doanh nghiệp có thể mất khách hàng và sẽ bị các đối thủ cạnh tranh nhân cơ hội để mở rộng thị trường, điều này sẽ rất khó xảy ra, bởi vì, môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay không doanh nghiệp nào muốn mất đi khách hàng làm giảm doanh thu, doanh số….

Do đó, quy định này cần hướng dẫn rõ ràng, cụ thể thúc đẩy việc áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm theo hướng tiêu cực hay tích cực thì sẽ được miễn trừ khi thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

2.4. Thống nhất các điều kiện thực hiện hợp đồng, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá

Một thị trường mang tính cạnh tranh là nơi có nhiều hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau, người tiêu dùng có thể sử dụng hoặc chọn thay đổi hàng hóa khác có tính cạnh tranh tốt hơn. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần phải cạnh tranh với đối thủ giành lấy khách hàng, cạnh tranh là xu thế tất yếu giữa các nhà sản suất hàng hóa tương tự các yếu tố liên quan như giá cả, chất lượng hay các dịch vụ trước, trong và sau khi bán được hàng hóa (yếu tố cạnh tranh đặc biệt là giá cả), cạnh tranh cũng thúc đẩy đổi mới, tăng năng suất, tạo công ăn việc làm, đồng thời là cơ hội để các doanh nghiệp kiếm thêm thu nhập[10]. Luật Cạnh tranh năm 2018 cho phép các bên liên quan thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh để thống nhất điều kiện thực hiện hợp đồng, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá, bởi việc thống nhất thực hiện các điều kiện hợp đồng rõ ràng, điều kiện giao hàng, thanh toán sẽ giúp người tiêu dùng tiếp cận nhanh với hàng hóa, người tiêu dùng được thanh toán nhanh, chính sách tiếp cận thông tin nhanh[11], đương nhiên, việc thỏa thuận này nếu thuộc trường hợp bị cấm thì các doanh nghiệp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh vẫn phải nộp đơn xin miễn trừ trước khi thực hiện hành vi thỏa thuận.

Như vậy, 04 điều kiện miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đều mang tính chất định tính, chưa có tiêu chí cụ thể, rõ ràng dẫn đến khó áp dụng[12].

Ngoài ra, khoản 2 Điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định thỏa thuận lao động, thỏa thuận hợp tác trong các ngành, lĩnh vực đặc thù được thực hiện theo quy định của luật khác thì thực hiện theo quy định của luật đó.

Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định, đối với các thỏa thuận lao động, thỏa thuận hợp tác mà trong các ngành, lĩnh vực đặc thù đã được luật khác quy định thì Luật Cạnh tranh không điều chỉnh, đồng thời để các luật khác điều chỉnh. Với điều luật này thì các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thuộc sự điều chỉnh của luật khác như: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Điện lực… quy định các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm cụ thể thì cho dù có thỏa mãn điều kiện miễn trừ trong Luật Cạnh tranh cũng không được áp dụng. Theo chúng tôi, điều này là phù hợp, bởi vì quan điểm xây dựng Luật Cạnh tranh sửa đổi được xác định là luật công bảo vệ các quan hệ cạnh tranh, một loại quan hệ công, thực sự được coi Luật Cạnh tranh là hiến pháp của nền kinh tế thị trường, bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, làm động lực phát triển cho nền kinh tế[13]. Theo đó, nếu các luật chuyên ngành có quy định thì áp dụng theo luật chuyên ngành, điều này đã được quy định cụ thể khi Luật Cạnh tranh năm 2018 được thông qua: Trường hợp luật khác có quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hình thức tập trung kinh tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của luật đó (khoản 2 Điều 4).

3. Định hướng hoàn thiện các quy định về miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Thứ nhất, cần xem hành vi thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ là hành vi thỏa thuận được miễn trừ tự động, không cần phải xin phép và hành vi này chỉ được xem là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm khi gây tác động hoặc có khả năng gây tác động đến hạn chế cạnh tranh. Việc đánh giá gây tác động hoặc có khả năng gây tác động có thể dựa vào mức thị phần của các bên tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, vị thế của doanh nghiệp trong thị trường liên quan hoặc trong chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định[14].

Trong trường hợp nếu không xem là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được miễn trừ tự động thì cũng cần có hướng dẫn cụ thể đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tại khoản 3 Điều 12 Luật Cạnh tranh năm 2018 đối với “thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận” cần loại trừ hành vi thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Bởi hành vi thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận có thể là hệ quả của việc thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, việc quy định sẽ tạo động lực để thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ.

Thứ hai, cần rút ngắn thời gian để ra quyết định miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm vì thời gian tổng cộng là 90 ngày kể từ ngày thụ lý (theo Điều 20 Luật Cạnh tranh năm 2018) là quá dài, làm chậm thời cơ để các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Bởi lẽ, thời gian để các cơ quan được tham vấn trả lời cho Ủy ban Cạnh tranh quốc gia là 15 ngày (khoản 2 Điều 18 Luật Cạnh tranh năm 2018). Đồng thời, Luật Cạnh tranh năm 2018 cũng đã quy định các doanh nghiệp đã tự chịu trách nhiệm về tính trung thực của hồ sơ miễn trừ (khoản 3 Điều 15). Ủy ban Cạnh tranh quốc gia cũng có thể hủy bỏ quyết định miễn trừ khi phát hiện các trường hợp theo quy định tại Điều 23 Luật Cạnh tranh năm 2018[15].

Thứ ba, cần có hướng dẫn cụ thể như thế nào là tăng cường sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế? Đồng thời, cần có các tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng để các doanh nghiệp biết được khi thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thuộc trường hợp được miễn trừ hay không để thực hiện nộp đơn xin miễn trừ bởi miễn trừ cũng là quyền lợi mà doanh nghiệp được hưởng.

Thứ tư, cần cụ thể hóa các điều kiện miễn trừ bằng các tiêu chí rõ ràng bởi việc không có tiêu chí rõ ràng sẽ dẫn đến hai khuynh hướng sau trong cách xử lý của cơ quan cạnh tranh với các bên có liên quan trong việc xem xét cho hưởng miễn trừ: (i) Dễ dãi trong việc cho hưởng miễn trừ; (ii) Không cho hưởng miễn trừ mặc dù có thể thõa mãn điều kiện miễn trừ, có nhiều lợi ích đối với nền kinh tế hơn là những tác hại mà chúng mang lại.

TS. Trần Thăng Long
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Nguyễn Văn Nhân & Phan Lâm Hoàng Huynh
Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp



[1]. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tài liệu Hội thảo “Những điểm mới của Luật Cạnh tranh năm 2018 và góp ý cho dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Cạnh tranh năm 2018”, năm 2019, tr. 48.

[2]. Các điều kiện này không áp dụng khi các bên thực hiện các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở nhóm 2 như đã phân tích.

[3]. Điều 33 Hiến pháp năm 2013.

[4]. https://vtudien.com/viet-viet/dictionary/nghia-cua-tu-mi%E1%BB%85n%20tr%E1%BB%AB, truy cập ngày 10/02/2022.

[5]. Khoản 9 Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định: Thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận.

[6]. Điều 20 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[7]. Khoản 1 Điều 22 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[8]. Phạm Công Thành, “Chính sách cạnh tranh trong quá trình thực hiện chính sách phát triển mũi nhọn”, http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207157, truy cập ngày 10/02/2022.

[9]. “The Sherman Antitrust Act of 1890 is a federal statute which prohibits activities that restrict interstate commerce and competition in the marketplace. The Sherman Act was amended by the Clayton Act in 1914”, https://www.law.cornell.edu/wex/sherman_antitrust_act.

[10]. Alice Phạm, “Cẩm nang Luật Cạnh tranh Việt Nam” năm 2007, Bản dịch năm 2008, được dịch bởi Hoàng Lệ Quyên, tr. 16.

[11]. Sự cạnh tranh khốc liệt của ngành bán lẻ trong thời đại 4.0, https://www.bachhoaviet.com/su-canh-tranh-khoc-liet-cua-nganh-ban-le-trong-thoi-dai-40.

[12]. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tài liệu Hội thảo “Những điểm mới của Luật Cạnh tranh năm 2018 và góp ý cho dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Cạnh tranh năm 2018”, năm 2019, tr. 15.

[13]. Bộ Công thương, Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật Cạnh tranh sửa đổi năm 2017.

[14]. Phạm Hoài Huấn, “Vấn đề miễn trừ đối với các thỏa thuận nghiên cứu và phát triển”, http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/210507/Van-de-mien-tru-doi-voi-cac-thoa-thuan-ve-nghien-cuu-va-phat-trien.html, truy cập ngày 09/9/2021.

[15]. Các trường hợp bãi bỏ quyết định miễn trừ gồm: (i) Điều kiện được hưởng miễn trừ không còn; (ii) Phát hiện có sự gian dối trong việc đề nghị hưởng miễn trừ; (iii) Doanh nghiệp được hưởng miễn trừ vi phạm các điều kiện, nghĩa vụ để được hưởng miễn trừ trong quyết định hưởng miễn trừ; (iv) Quyết định hưởng miễn trừ dựa trên thông tin, tài liệu không chính xác về điều kiện được hưởng miễn trừ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: