Thứ hai 27/07/2026 17:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh năm 2018

Tóm tắt: Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định miễn trừ đối với một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 14. Tuy nhiên, việc áp dụng miễn trừ cũng như áp dụng các điều kiện này có những bất cập và còn chưa phù hợp, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng các quy định này. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi phân tích các điều kiện miễn trừ và đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện các điều khoản miễn trừ đối với các hiệp định hạn chế cạnh tranh.

Tóm tắt: Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định miễn trừ đối với một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 14. Tuy nhiên, việc áp dụng miễn trừ cũng như áp dụng các điều kiện này có những bất cập và còn chưa phù hợp, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng các quy định này. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi phân tích các điều kiện miễn trừ và đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện các điều khoản miễn trừ đối với các hiệp định hạn chế cạnh tranh.

Abstract: The Competition Law of 2018 provides for exemptions for a number of competition restriction agreements that meet the conditions specified in Article 14. However, the application of exemptions as well as the application of these conditions has shortcomings and are still inappropriate, leading to difficulties in applying these regulations. Within the scope of the article, we analyze the exemption conditions and propose recommendations to improve the exemption provisions for competition restriction agreements.

1. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo Luật Cạnh tranh năm 2018

Theo khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018 thì thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh. So với Luật Cạnh tranh năm 2004 thì Luật Cạnh tranh năm 2018 mở rộng và cụ thể hơn các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, trong đó thêm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh gồm: Hành vi thỏa thuận phân chia khách hàng, thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận, thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thỏa thuận, thỏa thuận khác gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh (Điều 11).

Dựa vào quy định tại Điều 11 và Điều 12 Luật Cạnh tranh năm 2018 có thể chia các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm thành các nhóm như sau:

- Nhóm 1: Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại các khoản 1, 2, 3 Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018 giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan (nhóm bị cấm có điều kiện).

- Nhóm 2: Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại các khoản 4, 5, 6 Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018 giữa các doanh nghiệp bất kỳ mà không có sự phân biệt (nhóm bị cấm tuyệt đối không được miễn trừ).

- Nhóm 3: Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại các khoản 7, 8, 9, 10, 11 Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018 giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan nếu thỏa thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường (nhóm bị cấm có điều kiện).

- Nhóm 4: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại các khoản 1, 2, 3, 7, 8, 9, 10, 11 Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018 giữa các doanh nghiệp kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định nếu thỏa thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường (nhóm bị cấm có điều kiện).

Như vậy, không phải tất cả các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nêu trên điều bị cấm tuyệt đối, mà cấm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo hai nguyên tắc là cấm mặc nhiên (nhóm 2) và cấm theo nguyên tắc đánh giá tác động (nhóm 1, 3, 4)[1]. Để xác định các chủ thể có vi phạm các điều kiện của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay không, pháp luật đưa ra các yếu tố dùng để làm căn cứ để đánh giá tác động hoặc có khả năng gây tác động như: Mức thị phần của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận; rào cản gia nhập, mở rộng thị trường; hạn chế nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ hoặc hạn chế năng lực công nghệ; giảm khả năng tiếp cận, nắm giữ cơ sở hạ tầng thiết yếu; tăng chi phí, thời gian của khách hàng trong việc mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hoặc khi chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ liên quan khác; gây cản trở cạnh tranh trên thị trường thông qua kiểm soát các yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực liên quan đến các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận (Điều 13 Luật Cạnh tranh năm 2018). Việc đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được căn cứ vào một hoặc một số yếu tố được hướng dẫn tại Nghị định số 35/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh.

Không phải tất cả các doanh nghiệp thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm đều bị xử lý, Điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định cho phép được thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm và được miễn trừ có thời hạn nếu đáp ứng một trong số các điều kiện cụ thể[2].

2. Quy định miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Cơ sở để thực hiện chính sách miễn trừ được xây dựng bao gồm quyền tự do kinh doanh theo quy định[3] và sự cân xứng cần được pháp luật bảo vệ, theo đó, các doanh nghiệp có quyền liên kết lại với nhau để thực hiện kinh doanh có hiệu quả, đồng thời xem hành vi liên kết lại với nhau giữa các doanh nghiệp có gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp khác của chủ thể khác hay không, trường hợp có tác hại không đáng kể nhưng lợi ích mà nó mang lại lớn hơn những thiệt hại thì cũng cần cho phép sự liên kết đó để thúc đẩy sự phát triển.

Pháp luật nhiều nước không quy định như thế nào là miễn trừ mà chỉ liệt kê những hành vi nào là hành vi được miễn trừ và những điều kiện được miễn trừ, tuy nhiên, dựa vào các quy định về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và quy định về miễn trừ trong Luật Cạnh tranh năm 2018, có thể hiểu, miễn trừ là việc cho khỏi hoặc không áp dụng[4]. Theo đó, Luật Cạnh tranh năm 2018 miễn trừ đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm là việc cho phép các doanh nghiệp thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm nhưng thỏa mãn các điều kiện cụ thể được quy định thì hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đó không xem là hành vi vi phạm và không bị xử lý trong thời hạn nhất định (thời hạn được miễn trừ lần đầu không quá 05 năm, có thể gia hạn nhưng mỗi lần gia hạn không quá 05 năm) (Điều 21).

Mục đích của miễn trừ là cho phép một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhất định nhằm theo đuổi mục tiêu bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng, khuyến khích phát triển kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Từ đó cho thấy, doanh nghiệp được miễn trừ không phải là doanh nghiệp vi phạm Luật Cạnh tranh, bởi lẽ, việc miễn trừ đã loại trừ tính chất “hạn chế cạnh tranh” của loại thỏa thuận mà doanh nghiệp đó tham gia, cũng có thể nói miễn trừ là các doanh nghiệp được “hợp thức hóa” hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Việc miễn trừ cũng không mặc nhiên và vô thời hạn mà dựa trên sự cho phép bằng quyết định miễn trừ của Ủy ban Cạnh tranh quốc gia và miễn trừ có thời hạn. Việc miễn trừ có thời hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận có cơ hội phát triển sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng.

Các bên tham gia thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh không thuộc trường hợp phải chấm dứt ngay lập tức (nhóm 2) thì có thể được miễn trừ có thời hạn nếu thỏa mãn một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2018: (i) Có tác động thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ; (ii) Có tác động tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế; (iii) Có tác dụng thúc đẩy việc áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; (iv) Nhằm thống nhất các điều kiện thực hiện hợp đồng, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá.

Như vậy, khi thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm (không thuộc nhóm 2), các bên tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nộp đơn để được miễn trừ trước khi thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm và thỏa mãn một trong bốn điều kiện trên khi có quyết định miễn trừ thì các doanh nghiệp thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm vẫn không bị xử lý. Ngược lại, các doanh nghiệp thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm (nhóm 2) dù có thỏa mãn một trong bốn điều kiện trên thì vẫn không được miễn trừ hoặc hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm (không thuộc nhóm 2) của các bên tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh không nộp đơn xin miễn trừ vẫn bị xử lý.

2.1. Đối với thỏa thuận tác động thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và thời kỳ công nghệ số bùng nổ như hiện nay thì việc thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ có thể là sự sống còn của doanh nghiệp, tuy nhiên, chi phí để thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ (chẳng hạn như chi phí nghiên cứu phát triển (R&D)) không phải doanh nghiệp nào cũng đủ khả năng để thực hiện, do đó, cần phải có sự liên kết (liên doanh, hợp tác) giữa các doanh nghiệp. Điều này được quy định tại Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Nghị quyết số 52-NQ/TW), theo đó, cần có chính sách ưu tiên phát triển khoa học công nghệ.

Tuy nhiên, khi doanh nghiệp hợp tác liên doanh để thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ nhưng thành quả có được sẽ được giao cho các doanh nghiệp khác (doanh nghiệp đối thủ) thì không doanh nghiệp nào muốn. Vấn đề xảy ra là, khi các doanh nghiệp liên kết không giao dịch với doanh nghiệp đối thủ thì hành vi này, theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018, là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh[5]. Điều này là không phù hợp, bởi lẽ, khi các doanh nghiệp liên doanh để thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ thì phải bỏ một khoản chi phí không hề nhỏ nhưng sẽ đối mặt với rủi ro không thể biết trước là có thành công hay không, nhưng khi thành công thì phải giao dịch với doanh nghiệp đối thủ nếu không giao dịch thì sẽ vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Với quy định này sẽ khó có thể cụ thể hóa chính sách đã được quy định trong Nghị quyết số 52-NQ/TW bởi một số lý do như sau:

Một là, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ không muốn tham gia bởi sản phẩm thành công mà không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.

Hai là, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ có thể thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận trước khi có sản phẩm thành công là khi sản phẩm thành công sẽ không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ từ đầu. Luật Cạnh tranh năm 2018 không giải thích rõ vấn đề này mà chỉ quy định tác động thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ chỉ là điều kiện để xin miễn trừ trước khi thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm (khoản 1 Điều 14).

Ba là, doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận có tâm lý không cùng chung chịu rủi ro với các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ nhưng muốn cùng được hưởng thành quả từ việc các doanh nghiệp liên kết mang lại, nếu các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ không đồng ý thì doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận vẫn có thể hưởng thành quả đó bằng con đường tố tụng cạnh tranh, khi hành vi không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bị cấm nếu nó cùng trên thị trường liên quan và thỏa thuận này gây tác động hoặc có khả năng gây tác động một cách đáng kể trên thị trường.

Bốn là, trong thời kỳ công nghệ số như hiện nay, việc các doanh nghiệp phải chờ thời gian để được có quyết định miễn trừ (thời gian tối đa là 60 ngày, có thể gia hạn 30 kể từ ngày thụ lý)[6], khi có quyết định miễn trừ mới bắt đầu thực hiện việc thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ[7] thì khi đó, sản phẩm tạo ra có thể đã chậm so với các doanh nghiệp khác. Trong khi đó, các hành vi thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ được miễn trừ tự động có thể kể đến pháp luật cạnh tranh của Liên minh châu Âu miễn trừ tự động đối với các thỏa thuận (R&D).

2.2. Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế

Hiện nay, chưa có các tiêu chí để xác định như thế nào là tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế, việc xác định này do Ủy ban Cạnh tranh quốc gia quyết định. Tuy nhiên, việc miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là dựa trên chính sách mũi nhọn, việc thực hiện chính sách này cũng chính là “bật đèn xanh” cho các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh để phát triển nếu đem lại lợi ích thật sự cho sự phát triển kinh tế. Chính sách cạnh tranh nếu thực thi một cách “thái quá” cũng sẽ gây tổn hại cho nền công nghiệp, đặc biệt là với những nền công nghiệp đang ở giai đoạn mới phát triển và phải đối chọi với những đối thủ cạnh tranh lớn từ bên ngoài. Vì vậy, chính sách cạnh tranh cũng không thể đứng ngoài hoạt động xây dựng mũi nhọn kinh tế của quốc gia (chính sách mũi nhọn), chính sách cạnh tranh của các nước đều đã đưa ra những trường hợp miễn trừ đối với các trường hợp tập trung kinh tế hoặc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hướng ra ngoài lãnh thổ[8], với điều kiện miễn trừ mang tính chất định tính như thế này sẽ có hai bất cập như sau:

Thứ nhất, quy định của các quốc gia đã điều chỉnh theo hướng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bên ngoài lãnh thổ nhưng tác động hoặc có khả năng gây tác động đến bên trong lãnh thổ thì đều bị điều chỉnh. Chẳng hạn, tại Mỹ, hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thực hiện ngoài lãnh thổ nhưng gây cản trở hoạt động thương mại trên thị trường Mỹ vẫn bị xử lý (căn cứ xử lý đối với các hành vi này là đạo luật chống độc quyền Sherman)[9]. Đồng thời, Điều 1 Luật Cạnh tranh năm 2018 của nước ta cũng đã điều chỉnh hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh gây tác động hoặc có khả năng gây tác động đến thị trường Việt Nam. Với quy định này thì Luật Cạnh tranh cũng đã điều chỉnh đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bất kể trong hay ngoài nước.

Trong giai đoạn hiện nay, do các doanh nghiệp thường thực hiện các hành vi trên phạm vi nhiều quốc gia, do vậy, cơ quan chống độc quyền của các quốc gia đều muốn nhận được sự hợp tác của các đồng nghiệp nước ngoài, đặc biệt là việc khám xét và bắt giữ các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện thỏa thuận trên lãnh thổ nước ngoài. Vậy, khi các cơ quan cạnh tranh cần đến nhau để xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh xuyên quốc gia thì chính sách của từng quốc gia miễn trừ các thỏa thuận không gây hại cho thị trường nội địa, nhưng gây hại cho thị trường quốc tế có thật sự cần thiết?

Thứ hai, chưa có tiêu chí rõ ràng để xác định như thế nào là tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế, do đó, quy định này mang tính chất định tính cao nên rất khó cho doanh nghiệp xin miễn trừ, bởi lẽ, doanh nghiệp không biết hoặc không rõ mình có được miễn trừ hay không được miễn trừ, mặt khác, tính chất định tính cũng sẽ dễ xảy ra tình trạng áp dụng tràn lan không thống nhất.

Có thể thấy rằng, việc miễn trừ trong pháp luật cạnh tranh là hướng đến sự mềm dẻo và hiệu quả trong vấn đề điều tiết nền kinh tế, hướng đến việc tuân thủ pháp luật sao cho có lợi nhất cho nền kinh tế. Do đó, theo chúng tôi, tạm thời, để phát triển kinh tế và tạo thuận lợi nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam thì cần có những tiêu chí rõ ràng để doanh nghiệp chứng minh có thuộc trường hợp tăng cường sức mạnh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế khi thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay không (có thể xác định doanh nghiệp thông qua thị phần của doanh nghiệp, mục tiêu của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, doanh thu, doanh số…). Việc có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng sẽ dễ áp dụng, tránh tình trạng cảm tính. Dựa vào đó, doanh nghiệp cũng biết được có được miễn trừ hay không để thực hiện nộp đơn xin miễn trừ bởi quy định miễn trừ cũng là quyền lợi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều kiện miễn trừ này cần hướng đến xóa bỏ để bảo đảm môi trường cạnh tranh tự do hơn, công bằng hơn.

2.3. Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm

Khi các doanh nghiệp thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (không thuộc trường hợp bị cấm tuyệt đối) mà việc thỏa thuận đó thúc đẩy áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm thì có thể nộp đơn xin miễn trừ trước khi thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Tuy nhiên, điều kiện để được hưởng miễn trừ này hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể. Theo quy định của pháp luật, có thể hiểu, thúc đẩy áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm theo hai hướng: (i) Thống nhất theo hướng nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; (ii) Thống nhất theo hướng làm giảm đi tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm.

Theo chúng tôi, việc thống nhất nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật chủng loại sản phẩm có thể là điều kiện để doanh nghiệp có thể nộp đơn miễn trừ quy định của điều luật này trước khi thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, nhưng việc thống nhất theo hướng làm giảm đi tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm thì sẽ không được miễn trừ. Trên thực tế, các doanh nghiệp luôn muốn có nhiều khách hàng, mở rộng sản xuất, do đó, việc thống nhất theo hướng giảm thì doanh nghiệp có thể mất khách hàng và sẽ bị các đối thủ cạnh tranh nhân cơ hội để mở rộng thị trường, điều này sẽ rất khó xảy ra, bởi vì, môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay không doanh nghiệp nào muốn mất đi khách hàng làm giảm doanh thu, doanh số….

Do đó, quy định này cần hướng dẫn rõ ràng, cụ thể thúc đẩy việc áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm theo hướng tiêu cực hay tích cực thì sẽ được miễn trừ khi thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

2.4. Thống nhất các điều kiện thực hiện hợp đồng, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá

Một thị trường mang tính cạnh tranh là nơi có nhiều hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau, người tiêu dùng có thể sử dụng hoặc chọn thay đổi hàng hóa khác có tính cạnh tranh tốt hơn. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần phải cạnh tranh với đối thủ giành lấy khách hàng, cạnh tranh là xu thế tất yếu giữa các nhà sản suất hàng hóa tương tự các yếu tố liên quan như giá cả, chất lượng hay các dịch vụ trước, trong và sau khi bán được hàng hóa (yếu tố cạnh tranh đặc biệt là giá cả), cạnh tranh cũng thúc đẩy đổi mới, tăng năng suất, tạo công ăn việc làm, đồng thời là cơ hội để các doanh nghiệp kiếm thêm thu nhập[10]. Luật Cạnh tranh năm 2018 cho phép các bên liên quan thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh để thống nhất điều kiện thực hiện hợp đồng, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá, bởi việc thống nhất thực hiện các điều kiện hợp đồng rõ ràng, điều kiện giao hàng, thanh toán sẽ giúp người tiêu dùng tiếp cận nhanh với hàng hóa, người tiêu dùng được thanh toán nhanh, chính sách tiếp cận thông tin nhanh[11], đương nhiên, việc thỏa thuận này nếu thuộc trường hợp bị cấm thì các doanh nghiệp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh vẫn phải nộp đơn xin miễn trừ trước khi thực hiện hành vi thỏa thuận.

Như vậy, 04 điều kiện miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đều mang tính chất định tính, chưa có tiêu chí cụ thể, rõ ràng dẫn đến khó áp dụng[12].

Ngoài ra, khoản 2 Điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định thỏa thuận lao động, thỏa thuận hợp tác trong các ngành, lĩnh vực đặc thù được thực hiện theo quy định của luật khác thì thực hiện theo quy định của luật đó.

Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định, đối với các thỏa thuận lao động, thỏa thuận hợp tác mà trong các ngành, lĩnh vực đặc thù đã được luật khác quy định thì Luật Cạnh tranh không điều chỉnh, đồng thời để các luật khác điều chỉnh. Với điều luật này thì các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thuộc sự điều chỉnh của luật khác như: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Điện lực… quy định các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm cụ thể thì cho dù có thỏa mãn điều kiện miễn trừ trong Luật Cạnh tranh cũng không được áp dụng. Theo chúng tôi, điều này là phù hợp, bởi vì quan điểm xây dựng Luật Cạnh tranh sửa đổi được xác định là luật công bảo vệ các quan hệ cạnh tranh, một loại quan hệ công, thực sự được coi Luật Cạnh tranh là hiến pháp của nền kinh tế thị trường, bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, làm động lực phát triển cho nền kinh tế[13]. Theo đó, nếu các luật chuyên ngành có quy định thì áp dụng theo luật chuyên ngành, điều này đã được quy định cụ thể khi Luật Cạnh tranh năm 2018 được thông qua: Trường hợp luật khác có quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hình thức tập trung kinh tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của luật đó (khoản 2 Điều 4).

3. Định hướng hoàn thiện các quy định về miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Thứ nhất, cần xem hành vi thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ là hành vi thỏa thuận được miễn trừ tự động, không cần phải xin phép và hành vi này chỉ được xem là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm khi gây tác động hoặc có khả năng gây tác động đến hạn chế cạnh tranh. Việc đánh giá gây tác động hoặc có khả năng gây tác động có thể dựa vào mức thị phần của các bên tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, vị thế của doanh nghiệp trong thị trường liên quan hoặc trong chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định[14].

Trong trường hợp nếu không xem là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được miễn trừ tự động thì cũng cần có hướng dẫn cụ thể đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tại khoản 3 Điều 12 Luật Cạnh tranh năm 2018 đối với “thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận” cần loại trừ hành vi thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Bởi hành vi thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận có thể là hệ quả của việc thỏa thuận thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, việc quy định sẽ tạo động lực để thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ.

Thứ hai, cần rút ngắn thời gian để ra quyết định miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm vì thời gian tổng cộng là 90 ngày kể từ ngày thụ lý (theo Điều 20 Luật Cạnh tranh năm 2018) là quá dài, làm chậm thời cơ để các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Bởi lẽ, thời gian để các cơ quan được tham vấn trả lời cho Ủy ban Cạnh tranh quốc gia là 15 ngày (khoản 2 Điều 18 Luật Cạnh tranh năm 2018). Đồng thời, Luật Cạnh tranh năm 2018 cũng đã quy định các doanh nghiệp đã tự chịu trách nhiệm về tính trung thực của hồ sơ miễn trừ (khoản 3 Điều 15). Ủy ban Cạnh tranh quốc gia cũng có thể hủy bỏ quyết định miễn trừ khi phát hiện các trường hợp theo quy định tại Điều 23 Luật Cạnh tranh năm 2018[15].

Thứ ba, cần có hướng dẫn cụ thể như thế nào là tăng cường sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế? Đồng thời, cần có các tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng để các doanh nghiệp biết được khi thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thuộc trường hợp được miễn trừ hay không để thực hiện nộp đơn xin miễn trừ bởi miễn trừ cũng là quyền lợi mà doanh nghiệp được hưởng.

Thứ tư, cần cụ thể hóa các điều kiện miễn trừ bằng các tiêu chí rõ ràng bởi việc không có tiêu chí rõ ràng sẽ dẫn đến hai khuynh hướng sau trong cách xử lý của cơ quan cạnh tranh với các bên có liên quan trong việc xem xét cho hưởng miễn trừ: (i) Dễ dãi trong việc cho hưởng miễn trừ; (ii) Không cho hưởng miễn trừ mặc dù có thể thõa mãn điều kiện miễn trừ, có nhiều lợi ích đối với nền kinh tế hơn là những tác hại mà chúng mang lại.

TS. Trần Thăng Long
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Nguyễn Văn Nhân & Phan Lâm Hoàng Huynh
Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp



[1]. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tài liệu Hội thảo “Những điểm mới của Luật Cạnh tranh năm 2018 và góp ý cho dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Cạnh tranh năm 2018”, năm 2019, tr. 48.

[2]. Các điều kiện này không áp dụng khi các bên thực hiện các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở nhóm 2 như đã phân tích.

[3]. Điều 33 Hiến pháp năm 2013.

[4]. https://vtudien.com/viet-viet/dictionary/nghia-cua-tu-mi%E1%BB%85n%20tr%E1%BB%AB, truy cập ngày 10/02/2022.

[5]. Khoản 9 Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định: Thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận.

[6]. Điều 20 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[7]. Khoản 1 Điều 22 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[8]. Phạm Công Thành, “Chính sách cạnh tranh trong quá trình thực hiện chính sách phát triển mũi nhọn”, http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207157, truy cập ngày 10/02/2022.

[9]. “The Sherman Antitrust Act of 1890 is a federal statute which prohibits activities that restrict interstate commerce and competition in the marketplace. The Sherman Act was amended by the Clayton Act in 1914”, https://www.law.cornell.edu/wex/sherman_antitrust_act.

[10]. Alice Phạm, “Cẩm nang Luật Cạnh tranh Việt Nam” năm 2007, Bản dịch năm 2008, được dịch bởi Hoàng Lệ Quyên, tr. 16.

[11]. Sự cạnh tranh khốc liệt của ngành bán lẻ trong thời đại 4.0, https://www.bachhoaviet.com/su-canh-tranh-khoc-liet-cua-nganh-ban-le-trong-thoi-dai-40.

[12]. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tài liệu Hội thảo “Những điểm mới của Luật Cạnh tranh năm 2018 và góp ý cho dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Cạnh tranh năm 2018”, năm 2019, tr. 15.

[13]. Bộ Công thương, Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật Cạnh tranh sửa đổi năm 2017.

[14]. Phạm Hoài Huấn, “Vấn đề miễn trừ đối với các thỏa thuận nghiên cứu và phát triển”, http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/210507/Van-de-mien-tru-doi-voi-cac-thoa-thuan-ve-nghien-cuu-va-phat-trien.html, truy cập ngày 09/9/2021.

[15]. Các trường hợp bãi bỏ quyết định miễn trừ gồm: (i) Điều kiện được hưởng miễn trừ không còn; (ii) Phát hiện có sự gian dối trong việc đề nghị hưởng miễn trừ; (iii) Doanh nghiệp được hưởng miễn trừ vi phạm các điều kiện, nghĩa vụ để được hưởng miễn trừ trong quyết định hưởng miễn trừ; (iv) Quyết định hưởng miễn trừ dựa trên thông tin, tài liệu không chính xác về điều kiện được hưởng miễn trừ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: