Chủ nhật 08/02/2026 06:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam

Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là mô hình lần đầu tiên được đề cập ở Việt Nam, vì vậy, trong quá trình xây dựng, đòi hỏi chúng ta phải vừa làm, vừa học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia khác. Hiện nay, trong số các mô hình đơn vị hành chính lãnh thổ đặc biệt trên thế giới, thì mô hình đặc khu kinh tế có nhiều nét tương đồng với mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt hơn cả. Ở bài viết này, tác giả đã tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của những mô hình đặc khu kinh tế thành công, được các chuyên gia trên thế giới đánh giá cao để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.


1. Mô hình tổ chức và hoạt động của các đặc khu kinh tế ở một số quốc gia trên thế giới
Hiện nay, sự gia tăng nhanh chóng và các tác động kinh tế của các đặc khu kinh tế trên thế giới đã được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (World Bank), hiện có khoảng 3.000 đặc khu kinh tế tại 135 quốc gia, chiếm hơn 68 triệu việc làm trực tiếp và hơn 500 tỷ đô la về giá trị gia tăng liên quan trực tiếp đến thương mại trong khu vực[1]. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh, không phải tất cả đặc khu kinh tế trên thế giới đều hoạt động có hiệu quả, đạt được mục đích đề ra.
1.1. Đặc khu Thâm Quyến
Là đặc khu kinh tế đầu tiên của Trung Quốc từ năm 1980, Thâm Quyến được nhiều chuyên gia trên thế giới đánh giá là một hình mẫu thành công nhất trong việc thu hút vốn đầu tư và nhân lực từ trong nước lẫn ngoài nước, tạo ra hiệu ứng lan tỏa thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc. Những kinh nghiệm trong việc xây dựng các đặc khu kinh tế của Trung Quốc nói chung, đặc khu Thâm Quyến nói riêng có ý nghĩa tham khảo lớn cho Việt Nam bởi nhiều nguyên nhân, trước hết là sự gần gũi về vị trí địa lý giữa Việt Nam và Trung Quốc, cũng như mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia, cùng với đó là sự tương đồng về thể chế chính trị của Việt Nam và Trung Quốc.
Về cơ cấu tổ chức, chính quyền đặc khu Thâm Quyến gồm 32 bộ phận: Văn phòng tổng hợp của chính quyền huyện Thâm Quyến; Ủy ban Cải cách và phát triển; Ủy ban Thông tin, thương mại và kinh tế; Ủy ban Khoa học, công nghệ và đổi mới; Ủy ban Tài chính; Ủy ban Quản lý nguồn lực, đất đai và kế hoạch; Ủy ban Môi trường, tái định cư; Ủy ban Giao thông; Ủy ban Y tế, kế hoạch hóa gia đình; Phòng giáo dục; Công an; Thanh tra; Phòng Các vấn đề xã hội; Phòng Tư pháp; Phòng Lao động và xã hội; Phòng Thể thao, văn hóa và du lịch; Phòng Kiểm toán Thâm Quyến; Phòng Giám sát công sản; Phòng Xây dựng và nhà ở; Phòng Quản lý nguồn nước; Thuế; Giám sát thị trường; Phòng Dược; Phòng Thống kê; Phòng Quản lý đô thị; Phòng Khí tượng thủy văn; Văn phòng cảng Thâm Quyến; Cơ quan lập pháp Thâm Quyến; Văn phòng đối ngoại; Văn phòng quan hệ với Đài Loan; Cơ quan quản lý các vấn đề khẩn cấp; Phòng Dịch vụ và phát triển tài chính[2].
Về các chính sách ưu đãi được áp dụng, chính quyền đặc khu Thâm Quyến đã tận dụng đầy đủ những lợi thế của một đặc khu kinh tế khi được trao quyền lập pháp để xây dựng một môi trường kinh doanh thông thoáng, công bằng, minh bạch và thoải mái với nhiều chính sách ưu đãi nổi bật như: (i) Miễn thuế xuất nhập khẩu đối với mọi hàng hòa nhập khẩu vào đặc khu Thâm Quyến và từ đặc khu Thâm Quyến xuất khẩu ra bên ngoài; (ii) Áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng… thấp hơn nhiều so với nội địa và Hồng Kông[3]; (iii) Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các ngành công nghệ cao trong 02 năm và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này cho 08 năm tiếp theo. Các doanh nghiệp kỹ thuật cao được miễn thuế tài sản trong 05 năm; (iv) Giảm 50% tiền thuê đất cho các doanh nghiệp mới thành lập; (v) Giao cho các cá nhân, tổ chức được thuê đất trong thời hạn không quá 70 năm và áp dụng giá thuê đất ưu đãi, chỉ bằng 30% đến 50% giá thuê đất trong nội địa.
1.2. Khu kinh tế tự do Incheon
Khu kinh tế tự do Incheon được thành lập năm 2003, đến nay đã trở thành hình mẫu trong phát triển kinh tế - xã hội của thế giới.
Về tổ chức, để quản lý các khu kinh tế tự do trong lãnh thổ, Hàn Quốc đã thành lập Ủy ban Khu kinh tế tự do. Theo Điều 25 Luật Thành lập và hoạt động của khu kinh tế tự do, Ủy ban này thuộc Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng gồm có 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch và các thành viên khác. Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng là Chủ tịch Ủy ban và Phó Chủ tịch được bầu bằng phiếu bầu. Các thành viên chính thức được bầu trong số các cán bộ thuộc cơ quan hành chính trung ương và các cơ quan tương ứng được điều chỉnh bởi nghị định của Tổng thống. Chủ tịch Ủy ban chỉ định các thành viên trong số những người có kiến ​​thức và kinh nghiệm phong phú trong các lĩnh vực liên quan có thể đóng góp vào sự phát triển và hoạt động của khu kinh tế tự do. Ủy ban Khu kinh tế tự do có thẩm quyền quyết định những vấn đề như: Hệ thống chính sách quan trọng của khu kinh tế tự do; chỉ định, hủy bỏ và thay đổi khu kinh tế tự do; kế hoạch phát triển khu kinh tế tự do; dịch vụ hành chính hỗ trợ cần thiết trong khu kinh tế tự do cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài… Trực tiếp quản lý khu kinh tế tự do Incheon là Trưởng đơn vị được Tỉnh trưởng bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 03 năm. Trưởng khu kinh tế tự do có quyền đề xuất Tỉnh trưởng phê chuẩn tổ chức, hoạt động của đơn vị hành chính khu kinh tế tự do.
Về các chính sách ưu đãi được áp dụng, để thu hút nhiều doanh nghiệp quốc tế, khu kinh tế tự do Incheon đã áp dụng nhiều chính sách ưu đãi đối với nhà đầu tư nước ngoài như: (i) Không hạn chế việc chuyển lợi nhuận ra khỏi đất nước: Nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển tiền ra khỏi Hàn Quốc mà không bị hạn chế lợi nhuận từ cổ phiếu, bao gồm cổ tức, nguyên tắc và lãi được trả theo thỏa thuận vay hoặc tiền bản quyền liên quan đến chuyển giao công nghệ[4]; (ii) Về ưu đãi thuế, các nhà đầu tư nước ngoài vào khu kinh tế tự do Incheon sẽ được miễn hoặc giảm các loại thuế trong khoảng thời gian khác nhau tùy theo lĩnh vực đầu tư và quy mô vốn đầu tư. Theo Đạo luật đặc biệt về chỉ định và quản lý các khu kinh tế tự do và Luật hạn chế của thuế đặc biệt của Hàn Quốc thì các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng các ưu đãi về thuế như sau: Đối với thuế quốc gia, gồm thuế doanh nghiệp được miễn giảm trong 05 năm, 03 năm đầu được miễn 100%; 02 năm tiếp theo được giảm 50%; thuế thu nhập được miễn 100% trong 05 năm đầu tiên, 02 năm tiếp theo được giảm 50%...; Đối với thuế địa phương, gồm thuế mua lại được miễn thuế 100% tối đa 15 năm phù hợp với quy định của địa phương; thuế bất động sản được giảm tối đa 15 năm phù hợp với quy định của địa phương[5]...
(iii) Hỗ trợ về chi phí thuê văn phòng, đối với những doanh nghiệp có vốn đầu từ nước ngoài từ 5 đến 10 triệu đô la Mỹ, tạo việc làm trung bình hàng ngày cho từ 100 đến 200 người, có trên 50% sản lượng xuất khẩu thì được giảm ít nhất 50% tiền thuê văn phòng.
2. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trên cơ sở thực tiễn xây dựng mô hình đặc khu kinh tế, khu kinh tế tự do được đề cập nghiên cứu, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt như sau:
Một là, lựa chọn đơn vị hành chính có vị trí thuận lợi, có khả năng liên kết với các trung tâm kinh tế trong khu vực và trên thế giới
Yếu tố đầu tiên quyết định sự thành công của các đặc khu kinh tế trên thế giới là vị trí chiến lược của các đặc khu này. Nếu không có đủ các liên kết, các đặc khu kinh tế “sẽ chỉ tạo ra một số thu nhập thêm cho nước chủ nhà mà không phát triển tất cả tiềm năng đặc biệt, không thể phát huy lợi thế cực tăng trưởng”[6].
Thâm Quyến được lựa chọn trở thành đặc khu đầu tiên của Trung Quốc vì vị trí đặc biệt của mình. Thâm Quyến nằm giáp Hồng Kông - nơi có chung ngôn ngữ (tiếng Quảng Đông), chung văn hóa và dân tộc nhưng lại có giá nhân công, đất đai rẻ hơn nhiều, vì thế có thể dễ dàng thu hút nguồn vốn đầu tư dồi dào, học hỏi khoa học công nghệ và kỹ năng quản lý từ các chuyên gia của Hồng Kông, cũng như xuất khẩu hàng hóa sang Hồng Kông và đi các nước.
Tương tự như Thâm Quyến, Incheon được chọn trở thành khu kinh tế tự do là vì điều kiện vị trí thuận lợi khi nằm ở giữa bán đảo Hàn Quốc, trung tâm của biển Hoàng Hải, gần với nhiều thành phố quan trọng của Trung Quốc (như Bắc Kinh, Thượng Hải) và Nhật Bản. Ngoài ra, Incheon chỉ cách sân bay quốc tế Incheon - sân bay lớn thứ tư thế giới, nằm trên tuyến đường hàng không Bắc Thái Bình Dương kết nối Đông Bắc và Tây Bắc Á, Bắc Mỹ và ở tuyến đầu của tuyến đường hàng không Siberia kết nối với châu Âu và Đông Bắc Á 20 phút lái xe. Bên cạnh sân bay quốc tế, cảng Incheon giúp cho khu kinh tế tự do Incheon khả năng thông thương với các cảng quốc tế từ hơn 180 nước trên thế giới... Đây là điều kiện thuận lợi để khu thương mại tự do Incheon hình thành mạng lưới vận tải biển, hàng không và hậu cần.
Hai là, lựa chọn phát triển ngành nghề phù hợp với tiềm năng để tạo lợi thế cạnh tranh của từng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
Kinh nghiệm của các nước cho thấy, cần có sự lựa chọn ngành nghề ưu tiên phát triển tại các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt khác nhau để phù hợp với đặc điểm, tình hình và phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế so sánh của từng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Mục đích của việc thành lập các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là nhằm cạnh tranh với các quốc gia khác trong thu hút đầu tư nước ngoài, chứ không phải là để tạo ra sự cạnh tranh với các đơn vị hành chính khác trong nước. Vì vậy, nếu không tìm ra được ngành nghề trọng điểm, có ưu thế riêng của từng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt để phát triển thành ngành nghề mũi nhọn thì nguy cơ cạnh tranh lẫn nhau, làm giảm sức hút đầu tư là rất lớn.
Ba là, cần có lộ trình phát triển các đơn vị hành chính - đặc biệt thích hợp, tuân thủ quy hoạch phát triển
Một trong những mục đích xây dựng các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là nhằm tạo môi trường thử nghiệm thể chế hành chính, thể chế kinh tế vượt trội để nhân rộng mô hình thành công trên cả nước. Vì vậy, không nên thành lập ồ ạt các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt mà cần lựa chọn và phân bố các đơn vị này theo từng giai đoạn, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và lộ trình thích hợp. Với quan điểm phát triển đặc khu kinh tế theo nhiều tầng nấc, “dò đá qua sông”, “từ điểm đến diện”, Trung Quốc cho thấy rằng, không thể cùng một lúc phát triển các loại hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt một cách đồng đều tại các khu vực trên cả nước, mà phải có sự lựa chọn, tập trung vào một số địa bàn trọng điểm, có lợi thế so sánh vượt trội. Sau khi đơn vị này hoạt động hiệu quả thì mới tiếp tục nhân rộn mô hình này sang các địa phương khác. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, bởi việc xây dựng các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đòi hỏi đầu tư lớn cả về thời gian, công sức và tài chính của Nhà nước và của nhân dân.
Bốn là, có sự hỗ trợ ban đầu của Chính phủ cho sự phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực
Thực tế hoạt động của các mô hình đơn vị hành chính có tính chất đặc biệt trên thế giới đã cho thấy, sự hỗ trợ của Chính phủ trong việc phát triển cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là trong giai đoạn đầu đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Mục đích xây dựng các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ở Việt Nam là nhằm “khai thác tốt nhất các tiềm năng khu vực có lợi thế vượt trội, thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư, công nghệ cao, phương thức quản lý mới tiên tiến, hình thành khu vực tăng trưởng cao, tạo thêm nguồn lực và động lực, góp phần thúc đẩy nhanh phát triển và tái cơ cấu kinh tế cho tỉnh, vùng và cả nước”[7]. Như vậy, việc thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài vào các đơn vị hành chính - kinh tế là một trong những mục đích xây dựng các đơn vị này. Khi các nhà đầu tư trong và ngoài nước xem xét để quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư, họ đặc biệt quan tâm đến điều kiện cơ sở hạ tầng đang có trên địa bàn. Do đó, các hạng mục công trình phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh (như nhà xưởng, đường giao thông, nhà ga, bến cảng, sân bay, trạm trung chuyển hàng hóa, hệ thống điện, nước…); cũng như các công trình phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày (nhà ở, trung tâm thương mại, khu giải trí, trường học, bệnh viện, các công trình văn hóa…) là một trong những yếu tố thu hút các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng đặc biệt quan tâm đến lực lượng lao động có trình độ tay nghề, chuyên môn cao, có ý thức kỷ luật với mức lương thấp.
Năm là, cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội, tạo khả năng cạnh tranh toàn cầu
Để thu hút các nhà đầu tư, các đặc khu kinh tế trên thế giới đều coi việc thiết lập cơ chế, chính sách ưu đãi hấp dẫn là giải pháp quan trọng, cần thiết. Hầu hết các đặc khu kinh tế trên thế giới đều áp dụng các chính sách ưu đãi về tài chính (như miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu hàng hóa, thuế nhập khẩu hàng hóa, thuế giá trị gia tăng…), ưu đãi về đất đai, ưu đãi về xuất nhập cảnh… Những ưu đãi này phải có tính chất vượt trội so với các đơn vị hành chính khác trên cả nước và có tính chất cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới thì mới tạo được sức hút với các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, vấn đề các nhà đầu tư quan tâm là những chính sách ưu đãi được áp dụng tại các đặc khu kinh tế phải được thông báo công khai và đảm bảo tính ổn định.
Sáu là, bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu quả, tự chủ cao; thủ tục hành chính đơn giản, thuận tiện và minh bạch
Để bảo đảm đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có thể hoạt động hiệu quả, phát huy được vai trò là đầu tàu kinh tế, là phòng thí nghiệm thể chế và quản lý thì bộ máy quản lý nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng trên địa bàn phải được tổ chức một cách gọn nhẹ, ít tầng nấc, phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của từng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Bên cạnh đó, theo tổ chức Ngân hàng Thế giới thì: “Một yếu tố chính góp phần vào kết quả của các đặc khu kinh tế là tính tự chủ và hiệu quả của cơ quan chịu trách nhiệm điều hành đặc khu kinh tế”[8]. Chính quyền đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt phải được tự chủ đầy đủ, đặc biệt là về hoạch định chính sách, nhân sự, ngân sách. Đây là yếu tố mấu chốt giúp chính quyền đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có thể phát huy tối đa sức sáng tạo, linh hoạt và chủ động, tạo hiệu quả quản lý cao[9]. Ở nhiều quốc gia, quá trình kiểm tra, phê duyệt đầu tư đã được chuyển từ đánh giá từng trường hợp cụ thể sang một quy trình đăng ký đầu tư đơn giản, đáp ứng các tiêu chí xác định rõ ràng. Hầu hết các đặc khu kinh tế thành công trên thế giới đã áp dụng mô hình chính phủ điện tử và chế độ giải quyết thủ hành chính theo cơ chế “một cửa”.
Bảy là, có luật riêng điều chỉnh tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
Hiện nay, trên thế giới có hai cách thức luật hóa vấn đề tổ chức và hoạt động của các đặc khu kinh tế và các mô hình tương tự: (i) Một số quốc gia ban hành một đạo luật chung điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các đặc khu kinh tế trong cả nước như Ấn Độ, Nhật Bản, Cộng hòa liên bang Nga…; (ii) Một số quốc gia ban hành từng đạo luật riêng áp dụng với từng đặc khu kinh tế như Trung Quốc, Hàn Quốc… Dù sử dụng cách thức nào thì các quốc gia thành công trên thế giới trong việc xây dựng đặc khu kinh tế đều công nhận sự cần thiết của việc tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập các đặc khu. Tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là một mô hình đơn vị hành chính có tính chất đặc biệt quan trọng trong các đơn vị hành chính lãnh thổ của quốc gia. Vì vậy, các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt phải được ghi nhận và điều chỉnh trong các văn bản luật, chứ không phải là trong các văn bản dưới luật.
Tám là, xây dựng môi trường sống văn minh, hiện đại, an toàn và đạt đẳng cấp quốc tế
Các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cần đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, đảm bảo môi trường sinh thái xanh, sạch, đẹp và hài hòa để tạo sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài. Môi trường sống an toàn, tiện nghi cũng là yếu tố hấp dẫn thu hút những nhân lực chất lượng cao đến sinh sống và làm việc tại đây. Nhận thức rõ được điều này, chính quyền đặc khu Thâm Quyến và khu kinh tế tự do Incheon đã chú trọng cải tạo các công trình dân sinh và môi trường sinh thái theo đúng tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng điều kiện cư trú cho các nhà đầu tư nước ngoài. Tại khu kinh tế tự do Incheon, nhiều trường quốc tế (như Chadwick Songdo, trường Ngoại ngữ Cheongna Dalton…) đã được xây dựng. Bên cạnh đó, Incheon đã thành lập các cơ sở y tế đẳng cấp thế giới để cung cấp môi trường y tế và phúc lợi chất lượng cao cho các nhà đầu tư nước ngoài. Tại đây, một loạt các khu dân cư dành riêng cho người nước ngoài được xây dựng với các công trình giải trí và văn hóa, trung tâm mua sắm... phức hợp.

ThS. Trần Thái Hà
Học viện Báo chí và tuyên truyền



[1]. FIAS (2008), Special Economic Zone: Performance, Lessions learned, and Implication for Zone development, World Bank, Washington DC, p. 7.
[2]. Nguyễn Thị Ngọc Lan (2017), Tổ chức chính quyền địa phương tại các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính công, bảo vệ tại Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội, tr. 66-67.
[3]. Ban Soạn thảo Luật Ðơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (2017), Báo cáo tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về xây dựng, phát triển và quản lý mô hình đặc khu kinh tế, đặc khu hành chính và và các mô hình tương tự khác, Hà Nội, tr. 12.
[4].http://english.visitkorea.or.kr/enu/bs/tour_investment_support/invest_guidance/foreigner_invest_ liberalization.jsp
[5]. http://fez.go.kr/global/en/why/incentive.do#tab1.
[6]. Đặng Thị Phương Hoa (2012), Khu kinh tế tự do - thực tiễn phát triển ở Trung Quốc và Ấn Độ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 48.
[7]. Bộ Chính trị (2017), Thông báo Kết luận số 21-TB/TW ngày 23/3/2017 của Bộ Chính trị về các Đề án xây dựng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang).
[8]. FIAS (2008), Special Economic Zone: Performance, Lessions learned, and Implication for Zone development, World Bank, Washington DC, p. 56.
[9]. FIAS (2008), Special Economic Zone: Performance, Lessions learned, and Implication for Zone development, World Bank, Washington DC, p. 58.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: