Thứ sáu 13/03/2026 14:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam

Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là mô hình lần đầu tiên được đề cập ở Việt Nam, vì vậy, trong quá trình xây dựng, đòi hỏi chúng ta phải vừa làm, vừa học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia khác. Hiện nay, trong số các mô hình đơn vị hành chính lãnh thổ đặc biệt trên thế giới, thì mô hình đặc khu kinh tế có nhiều nét tương đồng với mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt hơn cả. Ở bài viết này, tác giả đã tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của những mô hình đặc khu kinh tế thành công, được các chuyên gia trên thế giới đánh giá cao để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.


1. Mô hình tổ chức và hoạt động của các đặc khu kinh tế ở một số quốc gia trên thế giới
Hiện nay, sự gia tăng nhanh chóng và các tác động kinh tế của các đặc khu kinh tế trên thế giới đã được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (World Bank), hiện có khoảng 3.000 đặc khu kinh tế tại 135 quốc gia, chiếm hơn 68 triệu việc làm trực tiếp và hơn 500 tỷ đô la về giá trị gia tăng liên quan trực tiếp đến thương mại trong khu vực[1]. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh, không phải tất cả đặc khu kinh tế trên thế giới đều hoạt động có hiệu quả, đạt được mục đích đề ra.
1.1. Đặc khu Thâm Quyến
Là đặc khu kinh tế đầu tiên của Trung Quốc từ năm 1980, Thâm Quyến được nhiều chuyên gia trên thế giới đánh giá là một hình mẫu thành công nhất trong việc thu hút vốn đầu tư và nhân lực từ trong nước lẫn ngoài nước, tạo ra hiệu ứng lan tỏa thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc. Những kinh nghiệm trong việc xây dựng các đặc khu kinh tế của Trung Quốc nói chung, đặc khu Thâm Quyến nói riêng có ý nghĩa tham khảo lớn cho Việt Nam bởi nhiều nguyên nhân, trước hết là sự gần gũi về vị trí địa lý giữa Việt Nam và Trung Quốc, cũng như mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia, cùng với đó là sự tương đồng về thể chế chính trị của Việt Nam và Trung Quốc.
Về cơ cấu tổ chức, chính quyền đặc khu Thâm Quyến gồm 32 bộ phận: Văn phòng tổng hợp của chính quyền huyện Thâm Quyến; Ủy ban Cải cách và phát triển; Ủy ban Thông tin, thương mại và kinh tế; Ủy ban Khoa học, công nghệ và đổi mới; Ủy ban Tài chính; Ủy ban Quản lý nguồn lực, đất đai và kế hoạch; Ủy ban Môi trường, tái định cư; Ủy ban Giao thông; Ủy ban Y tế, kế hoạch hóa gia đình; Phòng giáo dục; Công an; Thanh tra; Phòng Các vấn đề xã hội; Phòng Tư pháp; Phòng Lao động và xã hội; Phòng Thể thao, văn hóa và du lịch; Phòng Kiểm toán Thâm Quyến; Phòng Giám sát công sản; Phòng Xây dựng và nhà ở; Phòng Quản lý nguồn nước; Thuế; Giám sát thị trường; Phòng Dược; Phòng Thống kê; Phòng Quản lý đô thị; Phòng Khí tượng thủy văn; Văn phòng cảng Thâm Quyến; Cơ quan lập pháp Thâm Quyến; Văn phòng đối ngoại; Văn phòng quan hệ với Đài Loan; Cơ quan quản lý các vấn đề khẩn cấp; Phòng Dịch vụ và phát triển tài chính[2].
Về các chính sách ưu đãi được áp dụng, chính quyền đặc khu Thâm Quyến đã tận dụng đầy đủ những lợi thế của một đặc khu kinh tế khi được trao quyền lập pháp để xây dựng một môi trường kinh doanh thông thoáng, công bằng, minh bạch và thoải mái với nhiều chính sách ưu đãi nổi bật như: (i) Miễn thuế xuất nhập khẩu đối với mọi hàng hòa nhập khẩu vào đặc khu Thâm Quyến và từ đặc khu Thâm Quyến xuất khẩu ra bên ngoài; (ii) Áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng… thấp hơn nhiều so với nội địa và Hồng Kông[3]; (iii) Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các ngành công nghệ cao trong 02 năm và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này cho 08 năm tiếp theo. Các doanh nghiệp kỹ thuật cao được miễn thuế tài sản trong 05 năm; (iv) Giảm 50% tiền thuê đất cho các doanh nghiệp mới thành lập; (v) Giao cho các cá nhân, tổ chức được thuê đất trong thời hạn không quá 70 năm và áp dụng giá thuê đất ưu đãi, chỉ bằng 30% đến 50% giá thuê đất trong nội địa.
1.2. Khu kinh tế tự do Incheon
Khu kinh tế tự do Incheon được thành lập năm 2003, đến nay đã trở thành hình mẫu trong phát triển kinh tế - xã hội của thế giới.
Về tổ chức, để quản lý các khu kinh tế tự do trong lãnh thổ, Hàn Quốc đã thành lập Ủy ban Khu kinh tế tự do. Theo Điều 25 Luật Thành lập và hoạt động của khu kinh tế tự do, Ủy ban này thuộc Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng gồm có 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch và các thành viên khác. Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng là Chủ tịch Ủy ban và Phó Chủ tịch được bầu bằng phiếu bầu. Các thành viên chính thức được bầu trong số các cán bộ thuộc cơ quan hành chính trung ương và các cơ quan tương ứng được điều chỉnh bởi nghị định của Tổng thống. Chủ tịch Ủy ban chỉ định các thành viên trong số những người có kiến ​​thức và kinh nghiệm phong phú trong các lĩnh vực liên quan có thể đóng góp vào sự phát triển và hoạt động của khu kinh tế tự do. Ủy ban Khu kinh tế tự do có thẩm quyền quyết định những vấn đề như: Hệ thống chính sách quan trọng của khu kinh tế tự do; chỉ định, hủy bỏ và thay đổi khu kinh tế tự do; kế hoạch phát triển khu kinh tế tự do; dịch vụ hành chính hỗ trợ cần thiết trong khu kinh tế tự do cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài… Trực tiếp quản lý khu kinh tế tự do Incheon là Trưởng đơn vị được Tỉnh trưởng bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 03 năm. Trưởng khu kinh tế tự do có quyền đề xuất Tỉnh trưởng phê chuẩn tổ chức, hoạt động của đơn vị hành chính khu kinh tế tự do.
Về các chính sách ưu đãi được áp dụng, để thu hút nhiều doanh nghiệp quốc tế, khu kinh tế tự do Incheon đã áp dụng nhiều chính sách ưu đãi đối với nhà đầu tư nước ngoài như: (i) Không hạn chế việc chuyển lợi nhuận ra khỏi đất nước: Nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển tiền ra khỏi Hàn Quốc mà không bị hạn chế lợi nhuận từ cổ phiếu, bao gồm cổ tức, nguyên tắc và lãi được trả theo thỏa thuận vay hoặc tiền bản quyền liên quan đến chuyển giao công nghệ[4]; (ii) Về ưu đãi thuế, các nhà đầu tư nước ngoài vào khu kinh tế tự do Incheon sẽ được miễn hoặc giảm các loại thuế trong khoảng thời gian khác nhau tùy theo lĩnh vực đầu tư và quy mô vốn đầu tư. Theo Đạo luật đặc biệt về chỉ định và quản lý các khu kinh tế tự do và Luật hạn chế của thuế đặc biệt của Hàn Quốc thì các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng các ưu đãi về thuế như sau: Đối với thuế quốc gia, gồm thuế doanh nghiệp được miễn giảm trong 05 năm, 03 năm đầu được miễn 100%; 02 năm tiếp theo được giảm 50%; thuế thu nhập được miễn 100% trong 05 năm đầu tiên, 02 năm tiếp theo được giảm 50%...; Đối với thuế địa phương, gồm thuế mua lại được miễn thuế 100% tối đa 15 năm phù hợp với quy định của địa phương; thuế bất động sản được giảm tối đa 15 năm phù hợp với quy định của địa phương[5]...
(iii) Hỗ trợ về chi phí thuê văn phòng, đối với những doanh nghiệp có vốn đầu từ nước ngoài từ 5 đến 10 triệu đô la Mỹ, tạo việc làm trung bình hàng ngày cho từ 100 đến 200 người, có trên 50% sản lượng xuất khẩu thì được giảm ít nhất 50% tiền thuê văn phòng.
2. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trên cơ sở thực tiễn xây dựng mô hình đặc khu kinh tế, khu kinh tế tự do được đề cập nghiên cứu, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt như sau:
Một là, lựa chọn đơn vị hành chính có vị trí thuận lợi, có khả năng liên kết với các trung tâm kinh tế trong khu vực và trên thế giới
Yếu tố đầu tiên quyết định sự thành công của các đặc khu kinh tế trên thế giới là vị trí chiến lược của các đặc khu này. Nếu không có đủ các liên kết, các đặc khu kinh tế “sẽ chỉ tạo ra một số thu nhập thêm cho nước chủ nhà mà không phát triển tất cả tiềm năng đặc biệt, không thể phát huy lợi thế cực tăng trưởng”[6].
Thâm Quyến được lựa chọn trở thành đặc khu đầu tiên của Trung Quốc vì vị trí đặc biệt của mình. Thâm Quyến nằm giáp Hồng Kông - nơi có chung ngôn ngữ (tiếng Quảng Đông), chung văn hóa và dân tộc nhưng lại có giá nhân công, đất đai rẻ hơn nhiều, vì thế có thể dễ dàng thu hút nguồn vốn đầu tư dồi dào, học hỏi khoa học công nghệ và kỹ năng quản lý từ các chuyên gia của Hồng Kông, cũng như xuất khẩu hàng hóa sang Hồng Kông và đi các nước.
Tương tự như Thâm Quyến, Incheon được chọn trở thành khu kinh tế tự do là vì điều kiện vị trí thuận lợi khi nằm ở giữa bán đảo Hàn Quốc, trung tâm của biển Hoàng Hải, gần với nhiều thành phố quan trọng của Trung Quốc (như Bắc Kinh, Thượng Hải) và Nhật Bản. Ngoài ra, Incheon chỉ cách sân bay quốc tế Incheon - sân bay lớn thứ tư thế giới, nằm trên tuyến đường hàng không Bắc Thái Bình Dương kết nối Đông Bắc và Tây Bắc Á, Bắc Mỹ và ở tuyến đầu của tuyến đường hàng không Siberia kết nối với châu Âu và Đông Bắc Á 20 phút lái xe. Bên cạnh sân bay quốc tế, cảng Incheon giúp cho khu kinh tế tự do Incheon khả năng thông thương với các cảng quốc tế từ hơn 180 nước trên thế giới... Đây là điều kiện thuận lợi để khu thương mại tự do Incheon hình thành mạng lưới vận tải biển, hàng không và hậu cần.
Hai là, lựa chọn phát triển ngành nghề phù hợp với tiềm năng để tạo lợi thế cạnh tranh của từng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
Kinh nghiệm của các nước cho thấy, cần có sự lựa chọn ngành nghề ưu tiên phát triển tại các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt khác nhau để phù hợp với đặc điểm, tình hình và phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế so sánh của từng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Mục đích của việc thành lập các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là nhằm cạnh tranh với các quốc gia khác trong thu hút đầu tư nước ngoài, chứ không phải là để tạo ra sự cạnh tranh với các đơn vị hành chính khác trong nước. Vì vậy, nếu không tìm ra được ngành nghề trọng điểm, có ưu thế riêng của từng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt để phát triển thành ngành nghề mũi nhọn thì nguy cơ cạnh tranh lẫn nhau, làm giảm sức hút đầu tư là rất lớn.
Ba là, cần có lộ trình phát triển các đơn vị hành chính - đặc biệt thích hợp, tuân thủ quy hoạch phát triển
Một trong những mục đích xây dựng các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là nhằm tạo môi trường thử nghiệm thể chế hành chính, thể chế kinh tế vượt trội để nhân rộng mô hình thành công trên cả nước. Vì vậy, không nên thành lập ồ ạt các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt mà cần lựa chọn và phân bố các đơn vị này theo từng giai đoạn, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và lộ trình thích hợp. Với quan điểm phát triển đặc khu kinh tế theo nhiều tầng nấc, “dò đá qua sông”, “từ điểm đến diện”, Trung Quốc cho thấy rằng, không thể cùng một lúc phát triển các loại hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt một cách đồng đều tại các khu vực trên cả nước, mà phải có sự lựa chọn, tập trung vào một số địa bàn trọng điểm, có lợi thế so sánh vượt trội. Sau khi đơn vị này hoạt động hiệu quả thì mới tiếp tục nhân rộn mô hình này sang các địa phương khác. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, bởi việc xây dựng các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đòi hỏi đầu tư lớn cả về thời gian, công sức và tài chính của Nhà nước và của nhân dân.
Bốn là, có sự hỗ trợ ban đầu của Chính phủ cho sự phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực
Thực tế hoạt động của các mô hình đơn vị hành chính có tính chất đặc biệt trên thế giới đã cho thấy, sự hỗ trợ của Chính phủ trong việc phát triển cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là trong giai đoạn đầu đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Mục đích xây dựng các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ở Việt Nam là nhằm “khai thác tốt nhất các tiềm năng khu vực có lợi thế vượt trội, thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư, công nghệ cao, phương thức quản lý mới tiên tiến, hình thành khu vực tăng trưởng cao, tạo thêm nguồn lực và động lực, góp phần thúc đẩy nhanh phát triển và tái cơ cấu kinh tế cho tỉnh, vùng và cả nước”[7]. Như vậy, việc thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài vào các đơn vị hành chính - kinh tế là một trong những mục đích xây dựng các đơn vị này. Khi các nhà đầu tư trong và ngoài nước xem xét để quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư, họ đặc biệt quan tâm đến điều kiện cơ sở hạ tầng đang có trên địa bàn. Do đó, các hạng mục công trình phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh (như nhà xưởng, đường giao thông, nhà ga, bến cảng, sân bay, trạm trung chuyển hàng hóa, hệ thống điện, nước…); cũng như các công trình phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày (nhà ở, trung tâm thương mại, khu giải trí, trường học, bệnh viện, các công trình văn hóa…) là một trong những yếu tố thu hút các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng đặc biệt quan tâm đến lực lượng lao động có trình độ tay nghề, chuyên môn cao, có ý thức kỷ luật với mức lương thấp.
Năm là, cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội, tạo khả năng cạnh tranh toàn cầu
Để thu hút các nhà đầu tư, các đặc khu kinh tế trên thế giới đều coi việc thiết lập cơ chế, chính sách ưu đãi hấp dẫn là giải pháp quan trọng, cần thiết. Hầu hết các đặc khu kinh tế trên thế giới đều áp dụng các chính sách ưu đãi về tài chính (như miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu hàng hóa, thuế nhập khẩu hàng hóa, thuế giá trị gia tăng…), ưu đãi về đất đai, ưu đãi về xuất nhập cảnh… Những ưu đãi này phải có tính chất vượt trội so với các đơn vị hành chính khác trên cả nước và có tính chất cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới thì mới tạo được sức hút với các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, vấn đề các nhà đầu tư quan tâm là những chính sách ưu đãi được áp dụng tại các đặc khu kinh tế phải được thông báo công khai và đảm bảo tính ổn định.
Sáu là, bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu quả, tự chủ cao; thủ tục hành chính đơn giản, thuận tiện và minh bạch
Để bảo đảm đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có thể hoạt động hiệu quả, phát huy được vai trò là đầu tàu kinh tế, là phòng thí nghiệm thể chế và quản lý thì bộ máy quản lý nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng trên địa bàn phải được tổ chức một cách gọn nhẹ, ít tầng nấc, phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của từng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Bên cạnh đó, theo tổ chức Ngân hàng Thế giới thì: “Một yếu tố chính góp phần vào kết quả của các đặc khu kinh tế là tính tự chủ và hiệu quả của cơ quan chịu trách nhiệm điều hành đặc khu kinh tế”[8]. Chính quyền đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt phải được tự chủ đầy đủ, đặc biệt là về hoạch định chính sách, nhân sự, ngân sách. Đây là yếu tố mấu chốt giúp chính quyền đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có thể phát huy tối đa sức sáng tạo, linh hoạt và chủ động, tạo hiệu quả quản lý cao[9]. Ở nhiều quốc gia, quá trình kiểm tra, phê duyệt đầu tư đã được chuyển từ đánh giá từng trường hợp cụ thể sang một quy trình đăng ký đầu tư đơn giản, đáp ứng các tiêu chí xác định rõ ràng. Hầu hết các đặc khu kinh tế thành công trên thế giới đã áp dụng mô hình chính phủ điện tử và chế độ giải quyết thủ hành chính theo cơ chế “một cửa”.
Bảy là, có luật riêng điều chỉnh tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
Hiện nay, trên thế giới có hai cách thức luật hóa vấn đề tổ chức và hoạt động của các đặc khu kinh tế và các mô hình tương tự: (i) Một số quốc gia ban hành một đạo luật chung điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các đặc khu kinh tế trong cả nước như Ấn Độ, Nhật Bản, Cộng hòa liên bang Nga…; (ii) Một số quốc gia ban hành từng đạo luật riêng áp dụng với từng đặc khu kinh tế như Trung Quốc, Hàn Quốc… Dù sử dụng cách thức nào thì các quốc gia thành công trên thế giới trong việc xây dựng đặc khu kinh tế đều công nhận sự cần thiết của việc tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập các đặc khu. Tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là một mô hình đơn vị hành chính có tính chất đặc biệt quan trọng trong các đơn vị hành chính lãnh thổ của quốc gia. Vì vậy, các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt phải được ghi nhận và điều chỉnh trong các văn bản luật, chứ không phải là trong các văn bản dưới luật.
Tám là, xây dựng môi trường sống văn minh, hiện đại, an toàn và đạt đẳng cấp quốc tế
Các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cần đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, đảm bảo môi trường sinh thái xanh, sạch, đẹp và hài hòa để tạo sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài. Môi trường sống an toàn, tiện nghi cũng là yếu tố hấp dẫn thu hút những nhân lực chất lượng cao đến sinh sống và làm việc tại đây. Nhận thức rõ được điều này, chính quyền đặc khu Thâm Quyến và khu kinh tế tự do Incheon đã chú trọng cải tạo các công trình dân sinh và môi trường sinh thái theo đúng tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng điều kiện cư trú cho các nhà đầu tư nước ngoài. Tại khu kinh tế tự do Incheon, nhiều trường quốc tế (như Chadwick Songdo, trường Ngoại ngữ Cheongna Dalton…) đã được xây dựng. Bên cạnh đó, Incheon đã thành lập các cơ sở y tế đẳng cấp thế giới để cung cấp môi trường y tế và phúc lợi chất lượng cao cho các nhà đầu tư nước ngoài. Tại đây, một loạt các khu dân cư dành riêng cho người nước ngoài được xây dựng với các công trình giải trí và văn hóa, trung tâm mua sắm... phức hợp.

ThS. Trần Thái Hà
Học viện Báo chí và tuyên truyền



[1]. FIAS (2008), Special Economic Zone: Performance, Lessions learned, and Implication for Zone development, World Bank, Washington DC, p. 7.
[2]. Nguyễn Thị Ngọc Lan (2017), Tổ chức chính quyền địa phương tại các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính công, bảo vệ tại Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội, tr. 66-67.
[3]. Ban Soạn thảo Luật Ðơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (2017), Báo cáo tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về xây dựng, phát triển và quản lý mô hình đặc khu kinh tế, đặc khu hành chính và và các mô hình tương tự khác, Hà Nội, tr. 12.
[4].http://english.visitkorea.or.kr/enu/bs/tour_investment_support/invest_guidance/foreigner_invest_ liberalization.jsp
[5]. http://fez.go.kr/global/en/why/incentive.do#tab1.
[6]. Đặng Thị Phương Hoa (2012), Khu kinh tế tự do - thực tiễn phát triển ở Trung Quốc và Ấn Độ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 48.
[7]. Bộ Chính trị (2017), Thông báo Kết luận số 21-TB/TW ngày 23/3/2017 của Bộ Chính trị về các Đề án xây dựng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang).
[8]. FIAS (2008), Special Economic Zone: Performance, Lessions learned, and Implication for Zone development, World Bank, Washington DC, p. 56.
[9]. FIAS (2008), Special Economic Zone: Performance, Lessions learned, and Implication for Zone development, World Bank, Washington DC, p. 58.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: