Chủ nhật 17/05/2026 17:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ trong kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay

Trong hệ thống pháp luật các quốc gia, trong đó có Việt Nam, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ được coi là hai nhánh có mối quan hệ tương hỗ trong kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Trong hệ thống pháp luật các quốc gia, trong đó có Việt Nam, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ được coi là hai nhánh có mối quan hệ tương hỗ trong kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế cũng như từng bước xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, hoàn thiện pháp luật kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói chung và làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ nói riêng được coi là một yêu cầu cấp thiết, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn ở Việt Nam hiện nay. Bài viết phân tích rõ mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ trong kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay. Qua đó, đưa ra một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật kiểm soát cạnh trạnh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay.

1. Dẫn nhập

Lịch sử hình thành và phát triển cho thấy, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ có mối quan hệ tương hỗ trong kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu bởi sự tương đồng về mục đích bảo vệ nhãn hiệu - “một loại tài sản vô hình tuyệt đối”[1], bảo vệ người tiêu dùng và xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh. Nếu như pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ tuyệt đối quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu thông qua việc xác lập văn bằng bảo hộ với thủ tục, quy trình khắt khe, thì pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu bảo vệ chủ sở hữu chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong trường hợp nhãn hiệu đó vượt quá giới hạn bảo hộ của pháp luật sở hữu trí tuệ. Giới hạn điều chỉnh của pháp luật kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu chính là ghi nhận điều kiện chung để xác định hành vi nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đã vượt quá giới hạn bảo hộ của pháp luật sở hữu trí tuệ sẽ bị giải quyết, xử lý bởi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh.

Xuất phát từ quan điểm trên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật cạnh tranh không lành mạnh của các quốc gia Châu Âu đã hình thành nguyên tắc ưu tiên (Pre-emption principle). Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh chỉ được áp dụng trong trường hợp hành vi vi phạm chưa chịu sự điều chỉnh theo quy định của các văn bản pháp luật khác[2]. Quan điểm này cũng thể hiện rõ trong nguyên tắc áp dụng luật thống nhất đã được Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng như tất cả các nước phát triển khác áp dụng là: “Luật chuyên sâu trước Luật phổ quát”. Do vậy, tại hệ thống pháp luật các quốc gia, trong đó có Việt Nam, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ được coi là hai nhánh có mối quan hệ tương hỗ trong kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

2. Thực trạng nguyên tắc áp dụng pháp luật trong kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu về bản chất vừa xâm phạm đến quyền, lợi ích của chủ sở hữu nhãn hiệu (quyền lợi tư) vừa xâm phạm đến chức năng bảo vệ người tiêu dùng, chức năng bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh của cơ quan quản lý nhà nước (quyền lợi công). Do vậy, hoạt động kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu về nguyên tắc là một nét đặc biệt vừa mang tính chất mệnh lệnh của quyền lực công với chế tài hành chính (buộc chấm dứt hành vi vi phạm, buộc khôi phục trở lại tình trạng hợp pháp ban đầu trước khi bị hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại, phạt tiền), đồng thời, lại như một hình thức trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng. Biện pháp xử lý hành vi vi phạm được kết hợp theo cơ chế người bị xâm hại khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh yêu cầu xử lý bằng chế tài hành chính, vừa khiếu kiện ra Tòa án dân sự để đòi bồi thường thiệt hại.

Luật Cạnh tranh năm 2018 đã xác định pháp luật kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh không chỉ bảo vệ quyền lợi tư của doanh nghiệp, người tiêu dùng, mà còn được thực thi dựa trên nguyên tắc bảo vệ trật tự công. Về nguyên tắc áp dụng pháp luật trong kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định cụ thể như sau: Mọi hoạt động điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh và giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật này[3]. Trường hợp Luật khác có quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hình thức tập trung kinh tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của Luật đó[4].

Trong khi đó, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019) có chức năng điều chỉnh các quan hệ dân sự liên quan đến tài sản trí tuệ (quyền nhân thân và quyền tài sản), trong đó có nhãn hiệu, do vậy, phương pháp điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ mang các đặc điểm của pháp luật dân sự thuộc phạm trù lĩnh vực luật tư. Chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ được Nhà nước bảo hộ đối với nhãn hiệu khi đã hoàn thành các thủ tục đăng ký nhãn hiệu nghiêm ngặt tại Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Phạm vi bảo hộ, thời gian bảo hộ liên tục của Nhà nước đối với nhãn hiệu được ghi nhận đầy đủ, rõ ràng trong văn bằng bảo hộ bao gồm chính nhãn hiệu đó, các yếu tố độc đáo của nhãn hiệu và danh mục hàng hóa được đăng ký bảo hộ. Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cụ thể như sau: Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh[5]. Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật này và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh[6].

Như vậy, theo quy định của pháp luật thực định, nguyên tắc áp dụng pháp luật trong quá trình kiểm soát và xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu của Việt Nam được quy định này khá rõ ràng, chi tiết và cụ thể: Việc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực nhãn hiệu được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Về giải quyết và xử lý, cơ quan có thẩm quyền kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu được quy định tại Luật Cạnh tranh năm 2018. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại được áp dụng biện pháp dân sự theo Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

3. Một số tồn tại và hạn chế

Mặc dù Luật Cạnh tranh năm 2018 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã xác định rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật trong quá trình kiểm soát và xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Tuy nhiên, thực trạng pháp luật hiện nay còn tồn tại một số hạn chế sau:

Thứ nhất, thiếu căn cứ pháp lý trong xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu vượt quá giới hạn phạm vi bảo hộ của pháp luật sở hữu trí tuệ: Luật Cạnh tranh năm 2018 đã loại bỏ hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn tại khoản 1 Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2004 nhằm đảm bảo tính thống nhất cũng như tạo cơ sở pháp lý rõ ràng trong việc xác định phạm vi áp dụng giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định ngoài 06 hành vi cạnh tranh không lành mạnh được liệt kê tại Điều 45, còn bao gồm “các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác bị cấm theo quy định của luật khác”[7]. Trong khi đó, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có đối tượng điều chỉnh các chỉ dẫn thương mại đã được đăng ký bảo hộ. Đối với trường hợp chỉ dẫn thương mại chưa được bảo hộ nếu có hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo khoản 1 Điều 30 sẽ áp dụng quy định pháp luật nào để kiểm soát và xử lý hành vi? Đồng thời, trong thực tế chưa có căn cứ pháp lý để xác định một chỉ dẫn thương mại chưa đăng ký bảo hộ nhưng đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng và đang bị gây nhầm lẫn.

Thứ hai, mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định về phạm vi áp dụng luật: Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định rõ về phạm vi áp dụng là ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trong trường hợp có quy định việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của Luật đó. Trong khi theo quy định của khoản 3 Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về nhãn hiệu thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

Thứ ba, mâu thuẫn trong quy định về biện pháp và chế tài hành chính: Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Nghị định số 75/2019/NĐ-CP[8] là bị áp dụng mức phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng. Trong khi đó, mức phạt tối đa quy định tại Nghị định số 99/2013/NĐ-CP[9] đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu mức phạt tối đa là 250.000.000 đồng đối với hàng hóa vi phạm có giá trị trên 500.000.000 đồng.

Thứ tư, mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm: Tại Điều 2 Nghị định số 75/2019/NĐ-CP quy định thẩm quyền giải quyết và xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung thuộc về ủy ban Cạnh tranh quốc gia. Trong khi tại Điều 18 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp trong đó có nhãn hiệu thuộc về Thanh tra Khoa học và Công nghệ, Thanh tra Thông tin và Truyền thông, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh.

4. Một số kiến nghị và giải pháp

Nhằm đảm bảo hiệu quả thi hành của pháp luật kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp, trong đó có nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay, giải pháp tối ưu trước mắt là Chính phủ cần xây dựng và ban hành nghị định về xử lý hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Nhằm khắc phục những hạn chế trong quy định về mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ trong kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu, nghị định cần đảm bảo những nội dung chính sau:

Một là, về phạm vi áp dụng luật: Luật Sở hữu trí tuệ chỉ quy định việc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ trong đó có nhãn hiệu, các vấn đề liên quan đến chế tài, thẩm quyền, thủ tục xử lý thì thực hiện theo quy định của Luật Cạnh tranh và Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Hai là, về căn cứ pháp lý để xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu (trong trường hợp nhãn hiệu chưa được bảo hộ, tạm mất quyền bảo hộ hoặc đang trong quá trình thực hiện thủ tục đăng ký bảo hộ): Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu được quy định tại Điều 130 Luật Sở hữu tuệ được xác định đối với các đối tượng đang được bảo hộ. Do vậy, cần có căn cứ pháp lý xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong trường hợp vượt quá giới hạn bảo hộ của Luật Sở hữu trí tuệ được quy định tại pháp luật cạnh tranh

Ba là, về chế tài phạt tiền: Cần quy định chi tiết, cụ thể đối với mức phạt tiền áp dụng cho hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Luật Cạnh tranh năm 2018 đã quy định mức phạt tiền tối đa đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh là 2.000.000.000 đồng. Do vậy, khi xây dựng và ban hành văn bản xử lý vi phạm cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp nói chung và hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng cần tăng mức phạt để thể hiện tình răn đe, trừng trị với hành vi.

Tóm lại, trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, là thành viên chính thức của Hiệp định Đối tác tiến bộ và toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)... cũng như từng bước xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, hoàn thiện pháp luật kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói chung và làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ nói riêng được coi là một yêu cầu cấp thiết, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu cần phải xuất phát từ sứ mệnh của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh là phương thức bổ trợ cho pháp luật sở hữu trí tuệ trong việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh được coi là giải pháp phù hợp và tin cậy cho người bị thiệt hại áp dụng yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu vượt quá giới hạn bảo hộ pháp luật sở hữu trí tuệ để bảo vệ lợi thế cạnh tranh.

Nguyễn Thùy Dung
NCS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội



[1]. Bùi Thị Hải Như (2017), Giải quyết tranh chấp về nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 36.

[2]. Đoàn Tử Tích Phước (2009), Chế định cạnh tranh không lành mạnh, Tọa đàm Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranh, do Cục Quản lý Cạnh tranh - Bộ Công thương tổ chức ngày 27/08/2009, tr.17.

[3]. Khoản 8 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[4]. Khoản 2 Điều 4 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[5]. Khoản 3 Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

[6]. Khoản 3 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

[7]. Khoản 7 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[8]. Nghị định số 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh.

[9]. Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: