Thứ năm 05/03/2026 06:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ trong kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay

Trong hệ thống pháp luật các quốc gia, trong đó có Việt Nam, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ được coi là hai nhánh có mối quan hệ tương hỗ trong kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Trong hệ thống pháp luật các quốc gia, trong đó có Việt Nam, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ được coi là hai nhánh có mối quan hệ tương hỗ trong kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế cũng như từng bước xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, hoàn thiện pháp luật kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói chung và làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ nói riêng được coi là một yêu cầu cấp thiết, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn ở Việt Nam hiện nay. Bài viết phân tích rõ mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ trong kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay. Qua đó, đưa ra một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật kiểm soát cạnh trạnh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay.

1. Dẫn nhập

Lịch sử hình thành và phát triển cho thấy, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ có mối quan hệ tương hỗ trong kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu bởi sự tương đồng về mục đích bảo vệ nhãn hiệu - “một loại tài sản vô hình tuyệt đối”[1], bảo vệ người tiêu dùng và xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh. Nếu như pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ tuyệt đối quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu thông qua việc xác lập văn bằng bảo hộ với thủ tục, quy trình khắt khe, thì pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu bảo vệ chủ sở hữu chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong trường hợp nhãn hiệu đó vượt quá giới hạn bảo hộ của pháp luật sở hữu trí tuệ. Giới hạn điều chỉnh của pháp luật kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu chính là ghi nhận điều kiện chung để xác định hành vi nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đã vượt quá giới hạn bảo hộ của pháp luật sở hữu trí tuệ sẽ bị giải quyết, xử lý bởi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh.

Xuất phát từ quan điểm trên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật cạnh tranh không lành mạnh của các quốc gia Châu Âu đã hình thành nguyên tắc ưu tiên (Pre-emption principle). Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh chỉ được áp dụng trong trường hợp hành vi vi phạm chưa chịu sự điều chỉnh theo quy định của các văn bản pháp luật khác[2]. Quan điểm này cũng thể hiện rõ trong nguyên tắc áp dụng luật thống nhất đã được Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng như tất cả các nước phát triển khác áp dụng là: “Luật chuyên sâu trước Luật phổ quát”. Do vậy, tại hệ thống pháp luật các quốc gia, trong đó có Việt Nam, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ được coi là hai nhánh có mối quan hệ tương hỗ trong kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

2. Thực trạng nguyên tắc áp dụng pháp luật trong kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu về bản chất vừa xâm phạm đến quyền, lợi ích của chủ sở hữu nhãn hiệu (quyền lợi tư) vừa xâm phạm đến chức năng bảo vệ người tiêu dùng, chức năng bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh của cơ quan quản lý nhà nước (quyền lợi công). Do vậy, hoạt động kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu về nguyên tắc là một nét đặc biệt vừa mang tính chất mệnh lệnh của quyền lực công với chế tài hành chính (buộc chấm dứt hành vi vi phạm, buộc khôi phục trở lại tình trạng hợp pháp ban đầu trước khi bị hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại, phạt tiền), đồng thời, lại như một hình thức trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng. Biện pháp xử lý hành vi vi phạm được kết hợp theo cơ chế người bị xâm hại khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh yêu cầu xử lý bằng chế tài hành chính, vừa khiếu kiện ra Tòa án dân sự để đòi bồi thường thiệt hại.

Luật Cạnh tranh năm 2018 đã xác định pháp luật kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh không chỉ bảo vệ quyền lợi tư của doanh nghiệp, người tiêu dùng, mà còn được thực thi dựa trên nguyên tắc bảo vệ trật tự công. Về nguyên tắc áp dụng pháp luật trong kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định cụ thể như sau: Mọi hoạt động điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh và giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật này[3]. Trường hợp Luật khác có quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hình thức tập trung kinh tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của Luật đó[4].

Trong khi đó, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019) có chức năng điều chỉnh các quan hệ dân sự liên quan đến tài sản trí tuệ (quyền nhân thân và quyền tài sản), trong đó có nhãn hiệu, do vậy, phương pháp điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ mang các đặc điểm của pháp luật dân sự thuộc phạm trù lĩnh vực luật tư. Chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ được Nhà nước bảo hộ đối với nhãn hiệu khi đã hoàn thành các thủ tục đăng ký nhãn hiệu nghiêm ngặt tại Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Phạm vi bảo hộ, thời gian bảo hộ liên tục của Nhà nước đối với nhãn hiệu được ghi nhận đầy đủ, rõ ràng trong văn bằng bảo hộ bao gồm chính nhãn hiệu đó, các yếu tố độc đáo của nhãn hiệu và danh mục hàng hóa được đăng ký bảo hộ. Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cụ thể như sau: Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh[5]. Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật này và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh[6].

Như vậy, theo quy định của pháp luật thực định, nguyên tắc áp dụng pháp luật trong quá trình kiểm soát và xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu của Việt Nam được quy định này khá rõ ràng, chi tiết và cụ thể: Việc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực nhãn hiệu được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Về giải quyết và xử lý, cơ quan có thẩm quyền kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu được quy định tại Luật Cạnh tranh năm 2018. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại được áp dụng biện pháp dân sự theo Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

3. Một số tồn tại và hạn chế

Mặc dù Luật Cạnh tranh năm 2018 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã xác định rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật trong quá trình kiểm soát và xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Tuy nhiên, thực trạng pháp luật hiện nay còn tồn tại một số hạn chế sau:

Thứ nhất, thiếu căn cứ pháp lý trong xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu vượt quá giới hạn phạm vi bảo hộ của pháp luật sở hữu trí tuệ: Luật Cạnh tranh năm 2018 đã loại bỏ hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn tại khoản 1 Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2004 nhằm đảm bảo tính thống nhất cũng như tạo cơ sở pháp lý rõ ràng trong việc xác định phạm vi áp dụng giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định ngoài 06 hành vi cạnh tranh không lành mạnh được liệt kê tại Điều 45, còn bao gồm “các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác bị cấm theo quy định của luật khác”[7]. Trong khi đó, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có đối tượng điều chỉnh các chỉ dẫn thương mại đã được đăng ký bảo hộ. Đối với trường hợp chỉ dẫn thương mại chưa được bảo hộ nếu có hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo khoản 1 Điều 30 sẽ áp dụng quy định pháp luật nào để kiểm soát và xử lý hành vi? Đồng thời, trong thực tế chưa có căn cứ pháp lý để xác định một chỉ dẫn thương mại chưa đăng ký bảo hộ nhưng đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng và đang bị gây nhầm lẫn.

Thứ hai, mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định về phạm vi áp dụng luật: Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định rõ về phạm vi áp dụng là ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trong trường hợp có quy định việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của Luật đó. Trong khi theo quy định của khoản 3 Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về nhãn hiệu thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

Thứ ba, mâu thuẫn trong quy định về biện pháp và chế tài hành chính: Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Nghị định số 75/2019/NĐ-CP[8] là bị áp dụng mức phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng. Trong khi đó, mức phạt tối đa quy định tại Nghị định số 99/2013/NĐ-CP[9] đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu mức phạt tối đa là 250.000.000 đồng đối với hàng hóa vi phạm có giá trị trên 500.000.000 đồng.

Thứ tư, mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm: Tại Điều 2 Nghị định số 75/2019/NĐ-CP quy định thẩm quyền giải quyết và xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung thuộc về ủy ban Cạnh tranh quốc gia. Trong khi tại Điều 18 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp trong đó có nhãn hiệu thuộc về Thanh tra Khoa học và Công nghệ, Thanh tra Thông tin và Truyền thông, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh.

4. Một số kiến nghị và giải pháp

Nhằm đảm bảo hiệu quả thi hành của pháp luật kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp, trong đó có nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay, giải pháp tối ưu trước mắt là Chính phủ cần xây dựng và ban hành nghị định về xử lý hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Nhằm khắc phục những hạn chế trong quy định về mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ trong kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu, nghị định cần đảm bảo những nội dung chính sau:

Một là, về phạm vi áp dụng luật: Luật Sở hữu trí tuệ chỉ quy định việc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ trong đó có nhãn hiệu, các vấn đề liên quan đến chế tài, thẩm quyền, thủ tục xử lý thì thực hiện theo quy định của Luật Cạnh tranh và Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Hai là, về căn cứ pháp lý để xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu (trong trường hợp nhãn hiệu chưa được bảo hộ, tạm mất quyền bảo hộ hoặc đang trong quá trình thực hiện thủ tục đăng ký bảo hộ): Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu được quy định tại Điều 130 Luật Sở hữu tuệ được xác định đối với các đối tượng đang được bảo hộ. Do vậy, cần có căn cứ pháp lý xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong trường hợp vượt quá giới hạn bảo hộ của Luật Sở hữu trí tuệ được quy định tại pháp luật cạnh tranh

Ba là, về chế tài phạt tiền: Cần quy định chi tiết, cụ thể đối với mức phạt tiền áp dụng cho hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Luật Cạnh tranh năm 2018 đã quy định mức phạt tiền tối đa đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh là 2.000.000.000 đồng. Do vậy, khi xây dựng và ban hành văn bản xử lý vi phạm cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp nói chung và hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng cần tăng mức phạt để thể hiện tình răn đe, trừng trị với hành vi.

Tóm lại, trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, là thành viên chính thức của Hiệp định Đối tác tiến bộ và toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)... cũng như từng bước xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, hoàn thiện pháp luật kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói chung và làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ nói riêng được coi là một yêu cầu cấp thiết, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu cần phải xuất phát từ sứ mệnh của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh là phương thức bổ trợ cho pháp luật sở hữu trí tuệ trong việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh được coi là giải pháp phù hợp và tin cậy cho người bị thiệt hại áp dụng yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu vượt quá giới hạn bảo hộ pháp luật sở hữu trí tuệ để bảo vệ lợi thế cạnh tranh.

Nguyễn Thùy Dung
NCS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội



[1]. Bùi Thị Hải Như (2017), Giải quyết tranh chấp về nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 36.

[2]. Đoàn Tử Tích Phước (2009), Chế định cạnh tranh không lành mạnh, Tọa đàm Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranh, do Cục Quản lý Cạnh tranh - Bộ Công thương tổ chức ngày 27/08/2009, tr.17.

[3]. Khoản 8 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[4]. Khoản 2 Điều 4 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[5]. Khoản 3 Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

[6]. Khoản 3 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

[7]. Khoản 7 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[8]. Nghị định số 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh.

[9]. Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: