Chủ nhật 31/05/2026 12:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập qua kiểm tra công tác nuôi con nuôi trong nước

Cục Con nuôi là đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực nuôi con nuôi; giải quyết các việc về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật; giúp Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ của Cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi quốc tế của Việt Nam.

Cục Con nuôi lấy năm 2019 làm “Năm con nuôi trong nước”, trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường con nuôi trong nước. Để đạt mục tiêu đề ra, Cục Con nuôi đã triển khai đồng bộ nhiều hoạt động cụ thể như sau:

- Hoàn thiện thêm một bước về mặt thể chế, Cục Con nuôi đã tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp trình Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2019/NĐ-CP ngày 05/3/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (Nghị định số 24/2019/NĐ-CP). Việc ban hành Nghị định số 24/2019/NĐ-CP nhằm mục đích tăng cường công tác đăng ký nuôi con nuôi trong nước, thể hiện qua các nội dung như xiết chặt đối tượng trẻ em khuyết tật, bệnh tật được nhận đích danh làm con nuôi nước ngoài để tăng cơ hội cho các trẻ em này tìm gia đình thay thế ở trong nước (khoản 2 Điều 1); tăng thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi trong nước (khoản 1 Điều 1); rà soát, tìm người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi (khoản 4 Điều 1).

- Xây dựng Đề án thí điểm về phát triển dịch vụ hỗ trợ nuôi con nuôi trong nước, trọng tâm của Đề án là thành lập tổ chức con nuôi trong nước nhằm hỗ trợ cha mẹ nuôi và giúp cơ quan nhà nước giảm tải một số nhiệm vụ trong điều kiện tinh gọn bộ máy hành chính hiện nay. Cục Con nuôi đã tiến hành khảo sát tại một số địa phương để phục vụ cho việc xây dựng Đề án sao cho sát với thực tế, nhu cầu và đề xuất của địa phương trên tinh thần mạnh dạn xã hội hóa một số công đoạn giải quyết nuôi con nuôi trong nước mà không nhất thiết phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước.

- Tăng cường công tác kiểm tra việc giải quyết nuôi con nuôi trong nước tại các địa phương. Năm 2019, Cục Con nuôi đã tổ chức các đoàn công tác đi kiểm tra việc giải quyết nuôi con nuôi trong nước tại Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Quảng Nam. Các đoàn công tác đã làm việc trực tiếp với các phường, xã nơi có thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi trong nước, kiểm tra hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi trong nước, trao đổi và hướng dẫn nghiệp vụ, đồng thời lắng nghe những vướng mắc, bất cập nhằm kịp thời tháo gỡ cho địa phương.

1. Một số vướng mắc, bất cập trong thực tiễn giải quyết nuôi con nuôi trong nước

Qua công tác kiểm tra việc giải quyết nuôi con nuôi trong nước tại các địa phương, Cục Con nuôi đã nắm bắt được những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn giải quyết nuôi con nuôi trong nước. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến một số vướng mắc, bất cập phổ biến mà các địa phương đều gặp phải, đó là việc đánh giá điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi và theo dõi tình hình phát triển của con nuôi.

1.1. Đánh giá điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi

Qua công tác kiểm tra việc giải quyết nuôi con nuôi trong nước cũng như báo cáo của các địa phương thì hầu hết đều đề xuất, kiến nghị về những khó khăn, vướng mắc trong việc đánh giá điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi. Luật Nuôi con nuôi quy định điều kiện đối với người nhận con nuôi tại điểm c khoản 1 Điều 14 như sau: “Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi”. Tuy nhiên, trong thực tiễn lại rất khó vận dụng để giải quyết đăng ký nuôi con nuôi. Điều kiện về sức khỏe thì có thể căn cứ vào xác nhận của cơ quan y tế, điều kiện về chỗ ở thì căn cứ vào nơi sinh sống thực tế nhưng điều kiện kinh tế thì không có tiêu chí cụ thể để đánh giá, định lượng cụ thể để áp dụng. Mặt khác, mặt bằng thu nhập cũng như mức sống mỗi địa phương có sự khác nhau. Ví dụ, với mức thu nhập là 05 triệu đồng/một tháng thì ở các thành phố lớn không đủ điều kiện để nhận con nuôi nhưng ở nông thôn, với mức thu nhập này thì có thể được chấp nhận. Chính vì vậy, mặc dù Luật quy định về điều kiện kinh tế nhưng còn chung chung, mang tính chất định tính, dẫn đến việc đánh giá phụ thuộc phần lớn vào cảm tính của người có trách nhiệm giải quyết đăng ký nuôi con nuôi. Qua công tác kiểm tra việc giải quyết nuôi con nuôi trong nước tại các địa phương cho thấy, việc đánh giá điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi có phần tùy tiện, chưa thống nhất ở các địa phương do không có tiêu chí cụ thể để đánh giá. Nhiều hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi trong nước chỉ có bản tự khai về hoàn cảnh gia đình mà không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc có trường hợp người nhận con nuôi không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế không bằng người cho con nuôi nhưng vẫn được nhận con nuôi dẫn đến việc giải quyết nuôi con nuôi không đúng quy định pháp luật.

1.2. Theo dõi tình hình phát triển của con nuôi

Luật Nuôi con nuôi quy định việc thông báo tình hình phát triển của con nuôi và theo dõi việc nuôi con nuôi tại Điều 23 như sau:

“1. Sáu tháng một lần trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ nuôi có trách nhiệm thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ thường trú về tình trạng sức khỏe, thể chất, tinh thần, sự hòa nhập của con nuôi với cha mẹ nuôi, gia đình, cộng đồng.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cha mẹ nuôi thường trú có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện việc nuôi con nuôi”.

Có thể nói, đây là quy định rất nhân văn nhằm bảo vệ trẻ em, đảm bảo cho trẻ em được sống trong môi trường gia đình không bị bạo hành hoặc ngược đãi, tuy nhiên, việc áp dụng quy định này trên thực tiễn lại chưa khả thi. Theo số liệu năm 2019 kiểm tra 289 hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi trong nước tại 06 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Quảng Nam) thì có đến 181/289 hồ sơ không có báo cáo tình hình phát triển của trẻ em được cho làm con nuôi (chiếm tỷ lệ 62,6%). Từ đó có thể thấy, đa số cha mẹ nuôi sau khi nhận con nuôi chưa thực hiện nghĩa vụ này theo quy định của pháp luật. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa cao, bên cạnh đó, cũng cần thẳng thắn thừa nhận thiếu xót trong hoạch định chính sách khi chưa có các quy định về chế tài để đảm bảo thực thi pháp luật một cách có hiệu quả (Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã chưa quy định mức xử phạt đối với hành vi không thực hiện nghĩa vụ này của cha, mẹ nuôi). Trở lại quy định về việc cha mẹ nuôi phải có nghĩa vụ báo cáo tình hình phát triển của trẻ em sau khi được nhận làm con nuôi thì nghĩa vụ này chấp hành cũng được mà không chấp hành thì cũng không sao vì chẳng có bất cứ điều kiện gì ràng buộc người có nghĩa vụ phải thực hiện, dẫn đến việc đại đa số chọn cách không chấp hành quy định pháp luật mà đúng ra họ phải thực hiện. Cũng quy định này đối với con nuôi nước ngoài thì lại được thực thi rất hiệu quả, định kỳ 06 tháng một lần trong 03 năm đầu, cha mẹ nuôi người nước ngoài gửi báo cáo tình hình phát triển của trẻ cho Cục Con nuôi. Trong báo cáo này, họ cung cấp các thông tin toàn diện về trẻ em như chiều cao, cân nặng, tình hình sức khỏe, mức độ hòa nhập của trẻ với gia đình cha mẹ nuôi và kèm theo báo cáo là hình ảnh con của họ. Như vậy, có thể nhận thấy, với cùng một quy định nhưng áp dụng cho những đối tượng khác nhau lại có kết quả khác nhau. Điều đó đỏi hỏi các nhà làm luật phải hoạch định chính sách phù hợp với thực tiễn, đánh giá từng đối tượng cụ thể chịu tác động để xây dựng chính sách phù hợp và có tính khả thi.

2. Giải pháp tháo gỡ vướng mắc, bất cập trong thực tiễn giải quyết nuôi con nuôi trong nước

2.1. Giải pháp trước mắt

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân. Theo tác giả, đây là giải pháp quan trọng để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống. Cần phải nói rằng, ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người dân ở nước ta so với các nước phát triển còn một khoảng cách không dễ có thể lấp đầy ngay được. Chính vì vậy, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Để chấp hành tốt pháp luật, trước tiên cần có những hiểu biết nhất định về pháp luật, đã có không ít trường hợp vi phạm pháp luật do người dân không hiểu biết về pháp luật. Những quy định pháp luật thường khô khan nên việc tuyên truyền pháp luật phải có kỹ năng và hình thức tuyên truyền phong phú mới có thể đem lại hiệu quả mong muốn.

Thứ hai, hướng dẫn nghiệp vụ cho địa phương và công dân về nuôi con nuôi được xem là giải pháp hữu hiệu tháo gỡ kịp thời những vướng mắc, bất cập trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực nuôi con nuôi trên phạm vi toàn quốc, Cục Con nuôi nhận được rất nhiều đề nghị của địa phương, đơn, thư của công dân liên quan đến lĩnh vực này. Chính vì vậy, Cục Con nuôi xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng là hướng dẫn nghiệp vụ cho địa phương và công dân về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật. Cán bộ làm công tác hướng dẫn nghiệp vụ cho địa phương và công dân về lĩnh vực nuôi con nuôi đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn vững vàng, am hiểu pháp luật về nuôi con nuôi nói riêng cũng như pháp luật nói chung, đồng thời, phải nhanh chóng, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của địa phương, của công dân trong lĩnh vực này. Trên thực tế có những vụ việc xảy ra từ những năm 1950, 1960 khi chưa có hệ thống pháp luật về nuôi con nuôi, do đó, khi hướng dẫn cho người dân gặp rất nhiều khó khăn; cán bộ phải tìm hiểu, tra cứu những quy định pháp luật có liên quan tại thời điểm đó để vận dụng xử lý hoặc có những vụ việc phát sinh trong thực tiễn lại chưa được pháp luật về nuôi con nuôi quy định thì lại phải nghiên cứu để hướng dẫn vận dụng các quy định pháp luật có liên quan. Để công tác này thực sự hiệu quả, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong giải quyết nuôi con nuôi trong nước, Cục Con nuôi đã xây dựng Cẩm nang “Hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước dành cho công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã”, trong đó hướng dẫn tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn cấp xã; xác định thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi trong nước; hướng dẫn việc tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi trong nước; hướng dẫn quy trình giải quyết việc nuôi con nuôi; hướng dẫn việc thay đổi hộ tịch của con nuôi; trách nhiệm thực hiện sau khi đăng ký việc nuôi con nuôi. Trong Cẩm nang có xây dựng phần hỏi - đáp để hướng dẫn giải quyết một số vướng mắc phát sinh trong thực tiễn. Có thể nói, Cẩm nang “Hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước dành cho công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã” là cuốn sổ tay, tài liệu rất bổ ích và cần thiết của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã khi giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước.

2.2. Giải pháp lâu dài

Để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn giải quyết nuôi con nuôi trong nước một cách căn cơ, triệt để thì cần phải thường xuyên cập nhật, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện về mặt thể chế, sao cho hệ thống pháp luật về nuôi con nuôi phù hợp với thực tiễn cuộc sống và có tính khả thi. Hệ thống pháp luật về lĩnh vực nuôi con nuôi hiện hành được đánh giá là tương đối hoàn chỉnh từ Luật Nuôi con nuôi đến các nghị định, thông tư quy định nguyên tắc, điều kiện nuôi con nuôi; thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ của cha mẹ nuôi, con nuôi và cha mẹ đẻ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc nuôi con nuôi. Tuy nhiên, sau gần 10 năm thi hành, Luật đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập cần thiết phải điều chỉnh, bổ sung vì:

- Một số hành vi mới phát sinh trong thực tiễn chưa được Luật điều chỉnh.

- Một số quy định còn chung chung, khó áp dụng trong thực tiễn, tính khả thi không cao.

- Một số quy định không còn thống nhất, phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.

Nhận diện được những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, Cục Con nuôi đã đề xuất sửa đổi Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, theo đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định này. Tuy nhiên, tầm của nghị định cũng chỉ dừng lại ở mức độ hướng dẫn thi hành luật trong khi có những vướng mắc, bất cập đòi hỏi phải sửa đổi quy định trong Luật. Hiện nay, Cục Con nuôi đang triển khai các hoạt động để tổng kết 10 năm thi hành Luật Nuôi con nuôi nhằm đánh giá tổng thể việc triển khai thi hành Luật trên phạm vi toàn quốc, từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định pháp luật về nuôi con nuôi.

Nguyễn Thanh Hà

Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: