Thứ năm 12/03/2026 07:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập trong hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại

Hiện nay, hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại đang gặp phải không ít khó khăn và hạn chế. Trong đó, các quy định pháp luật liên quan đến vi bằng của Thừa phát lại còn khá nhiều bất cập. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định pháp luật và thực tiễn quá trình lập vi bằng của Thừa phát lại là rất cần thiết và quan trọng.


1. Vai trò của vi bằng trong quá trình xét xử, thi hành án dân sự và trong đời sống xã hội

Vi bằng (công chứng thư) được quan niệm là một “sản phẩm độc quyền của riêng Thừa phát lại”[1]. Bởi lẽ, căn cứ quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, chỉ Thừa phát lại - chủ thể duy nhất mới có quyền hạn tiến hành lập vi bằng. Vi bằng do Thừa phát lại lập phản ánh rất nhiều sự kiện pháp lý khác nhau xảy ra trong đời sống và nội dung của nó rất đa dạng, phong phú. Về bản chất, vi bằng là một loại văn bản pháp lý do Thừa phát lại lập dùng để ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác. Hoặc nói cách khác, “vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật”[2].

Vi bằng có giá trị pháp lý không chỉ trong các giao dịch dân sự mà còn là nguồn chứng cứ rất quan trọng dùng trong quá trình xét xử giải quyết các tranh chấp. Bởi đối với giai đoạn tố tụng dân sự, chứng cứ được xác định giữ vai trò tối quan trọng và là cơ sở, là căn cứ để Tòa án quyết định vụ án[3]. Cũng từ đó, Tòa án mới có thể xác định hậu quả pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Trong xét xử giải quyết các tranh chấp, giá trị pháp lý của vi bằng thể hiện: “Vi bằng do Thừa phát lại lập là các công chứng thư, là nguồn chứng cứ quan trọng, đáng tin cậy để Tòa án sử dụng là căn cứ trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự”[4]. Từ đó, có thể khẳng định, vi bằng của Thừa phát lại “là nguồn chứng cứ quan trọng và rất phong phú bổ sung cho nguồn chứng cứ hiện hành, phục vụ không những cho công tác xét xử của Tòa án, mà còn phục vụ đắc lực cho cơ quan công quyền ngay từ giai đoạn điều tra”[5].

Vi bằng còn có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động thi hành án dân sự. Căn cứ Điều 66 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), khi phát hiện hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì đương sự có quyền yêu cầu bằng văn bản để Chấp hành viên áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự[6]. Tuy nhiên, để nâng cao trách nhiệm và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án thì người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của họ. Vì vậy, để đảm bảo yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm có căn cứ và hợp pháp thì trước đó người yêu cầu có thể yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng đối với các hành vi nêu trên. Hay trong quá trình thi hành án dân sự nếu như các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án như chuyển giao tiền, tài sản thì họ cũng có thể yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng để ghi nhận những sự kiện này. Sau này, nếu có vấn đề phát sinh liên quan đến quá trình thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự và Tòa án có thể căn cứ các vi bằng đã được lập để làm cơ sở giải quyết. Vì thế, vi bằng của Thừa phát lại đã góp phần hỗ trợ đắc lực cho hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự. Ngoài ra, đối với hoạt động thi hành án dân sự, vi bằng còn có thể được sử dụng để ghi nhận việc các bên đương sự thi hành nghĩa vụ, xác nhận việc từ chối thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức hay xác nhận tình trạng tài sản là đối tượng thi hành án...

Đối với xã hội, vi bằng của Thừa phát lại cung cấp cho người dân một hình thức dịch vụ pháp lý mới để người dân có thêm cơ sở bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Với sự xuất hiện của vi bằng, người dân có thêm lựa chọn trong việc xác nhận các sự kiện pháp lý xảy ra trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày. Vi bằng có thể được sử dụng để ghi nhận ngay cả các sự kiện pháp lý đang diễn ra và trước khi được pháp luật xem xét, giải quyết. Đây là một thuận lợi rất lớn của vi bằng so với các dịch vụ pháp lý công khác. Vì khi chủ thể có thẩm quyền giải quyết các vụ việc đó thì rất có thể các tình tiết, sự kiện, môi trường tồn tại... của vụ việc đó đã bị các bên cố tình thay đổi. Thừa phát lại với quyền hạn đặc biệt lập vi bằng mà không chủ thể nào có được trong nhiều trường hợp đã nhanh chóng tiếp cận hiện trường và lưu lại những chứng cứ quan trọng để từ đó, các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở xem xét, giải quyết. Chính vì thế, vi bằng của Thừa phát lại đáp ứng rất tốt nhu cầu của đông đảo tầng lớp nhân dân vì rất gần gũi với các hoạt động vật chất và giao dịch dân sự của họ. Thừa phát lại được hưởng phí dịch vụ từ khách hàng, nên đòi hỏi sẽ chuyên tâm và luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Từ đó, quyền và lợi ích của khách hàng luôn được nhanh chóng bảo đảm.

Tóm lại, xã hội hóa thi hành án dân sự trong đó cho phép Thừa phát lại có quyền lập vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi trong các giao dịch và đời sống hàng ngày đã đóng góp rất lớn vào tiến trình cải cách tư pháp nói chung và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự nói riêng. Vi bằng của Thừa phát lại đã cung cấp những chứng cứ quan trọng cho quá trình xét xử giải quyết các tranh chấp. Bởi với vai trò là một nguồn chứng cứ trong xét xử, vi bằng của Thừa phát lại đã góp phần giảm tải áp lực công việc và trách nhiệm cho các hoạt động điều tra, thu thập, xác minh chứng cứ của Tòa án. Còn với quá trình thi hành án dân sự, vi bằng giúp cho các chủ thể được pháp luật trao thẩm quyền tổ chức thi hành án có thêm cơ sở, căn cứ để tiến hành các hoạt động thi hành án. Từ đó, quá trình thi hành án dân sự diễn ra nhanh chóng, thuận tiện và đúng quy định pháp luật. Đồng thời, đối với xã hội, vi bằng của Thừa phát lại đã góp phần hỗ trợ tích cực cho cá nhân, tổ chức xác lập chứng cứ, hạn chế các tranh chấp, rủi ro pháp lý trong các giao dịch, từ đó kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Hay có thể khẳng định, “tác dụng của Thừa phát lại với chức năng lập vi bằng sẽ làm giàu nguồn chứng cứ và là cơ chế để người dân tự bảo vệ quyền lợi của mình”[7].

2. Hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại và một số bất cập

Hiện nay, pháp luật quy định chỉ Thừa phát lại mới là chủ thể có quyền lập vi bằng. Vì vậy, đây là hoạt động đặc thù của riêng Thừa phát lại. Do nhu cầu từ thực tiễn xã hội nên nội dung vi bằng thể hiện sự phong phú trên khá nhiều lĩnh vực khác nhau. Pháp luật quy định cho phép Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ trường hợp các việc mà Thừa phát lại không được làm, các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng, xâm phạm đời tư, đạo đức xã hội và các trường hợp pháp luật cấm; hoặc các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng, thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp hoặc các trường hợp khác do pháp luật quy định[8]. Ngoài ra, Thừa phát lại cũng không được phép lập vi bằng đối với các trường hợp liên quan đến quyền, lợi ích bản thân Thừa phát lại hay của những người thân thích của Thừa phát lại hoặc các vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức đang thi hành công vụ trừ trường hợp sự kiện, hành vi đó rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người yêu cầu lập vi bằng[9].

Các quy định điều chỉnh về việc lập vi bằng của Thừa phát lại được quy định từ Điều 25 đến Điều 29 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và các khoản 8, 9 Điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP. Trên thực tế, lập vi bằng là hoạt động chính và là nguồn thu chủ yếu của các văn phòng Thừa phát lại hiện nay. Theo số liệu thống kê từ các văn phòng Thừa phát lại trên cả nước, hoạt động lập vi bằng với 42.911 vi bằng được lập và doanh thu gần 59 tỷ đồng (chiếm 43% tổng doanh thu). Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án chiếm tỷ trọng nhỏ với 885 việc xác minh và 378 vụ việc trực tiếp tổ chức thi hành án, doanh thu của 02 loại công việc trên mới đạt gần 8 tỷ đồng (chiếm 6% tổng doanh thu)”[10]. Tuy nhiên, hiện nay, do vẫn chưa có luật về Thừa phát lại nên các quy định về hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại đang tồn tại khá nhiều hạn chế, bất cập.

Trên thực tế, do những quy định không có sự thống nhất nên dẫn đến tình trạng một số Sở Tư pháp “căn cứ vào Công văn số 1128/BTP-TCTHADS ngày 18/4/2014 của Bộ Tư pháp (về việc tổ chức thực hiện thí điểm Thừa phát lại) từ chối đăng ký các vi bằng có nội dung ghi nhận sự kiện các bên ký tên vào văn bản (hợp đồng, giao dịch không bắt buộc phải công chứng, hoặc các tờ khai, cam kết, xác nhận, trình bày…) với lý do là thuộc lĩnh vực công chứng, chứng thực. Thực chất, các văn phòng Thừa phát lại chỉ lập vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi, chứ không chứng nhận nội dung hợp đồng, giao dịch hay chứng thực chữ ký. Việc từ chối đăng ký một số vi bằng nêu trên, gây khó khăn rất nhiều cho các văn phòng Thừa phát lại trong quá trình hoạt động”[11].

Ngoài ra, liên quan đến việc vi bằng sau khi được Thừa phát lại lập sẽ phải đăng ký tại Sở Tư pháp thì mới được coi là hợp lệ cũng đang gây ra khá nhiều khó khăn cho các bên và không đảm bảo được quyền lợi của người có nhu cầu lập vi bằng. Theo quy định, vi bằng sẽ được lập thành ba bản chính, trong đó, một bản sẽ giao cho người yêu cầu lập vi bằng, một bản lưu trữ tại văn phòng Thừa phát lại và một bản còn lại sẽ phải gửi đến Sở Tư pháp trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày lập vi bằng[12]. Trong thời hạn không quá hai ngày làm việc kể từ ngày Sở Tư pháp nhận được vi bằng, Sở Tư pháp sẽ phải vào sổ đăng ký vi bằng của Thừa phát lại[13]. “Việc đăng ký vi bằng được coi là hoàn thành và vi bằng được coi là hợp lệ sau khi vào sổ đăng ký. Sở Tư pháp đóng dấu xác nhận đã đăng ký lên vi bằng được đăng ký”[14]. Như vậy, phải đến khi kết thúc quá trình này thì vi bằng mới chính thức có hiệu lực pháp luật. Song quy định này không thật sự hợp lý và quyền lợi của người yêu cầu lập vi bằng chưa thực sự được bảo vệ. Bởi lẽ, quy định này làm cho vi bằng không thể được sử dụng ngay sau khi lập với lý do, vi bằng đó chưa được đăng ký nên chưa có hiệu lực pháp luật. Hơn nữa, chủ thể yêu cầu lập vi bằng cũng không biết được đến lúc nào vi bằng của họ mới có hiệu lực pháp luật. Vì chủ thể yêu cầu lập vi bằng không thể nắm bắt được quá trình tiến hành các thủ tục đăng ký vi bằng giữa Văn phòng Thừa phát lại với Sở Tư pháp.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì cá nhân, tổ chức muốn lập vi bằng sẽ phải thỏa thuận với Trưởng Văn phòng Thừa phát lại về việc lập vi bằng và việc thỏa thuận này cũng sẽ phải lập thành hai bản. Điều này có nghĩa là Thừa phát lại chỉ được quyền lập vi bằng sau khi người yêu cầu lập vi bằng đã đạt được thỏa thuận với Trưởng Văn phòng Thừa phát lại. Tuy nhiên, quy định này chưa thật sự hợp lý vì không tạo điều kiện đảm bảo tốt nhất cho quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu lập vi bằng. Sở dĩ như vậy là vì, vi bằng có đặc thù ghi nhận các sự kiện, hành vi khách quan tức thời nên luôn cần phải kịp thời, nhanh chóng để mang lại hiệu quả tốt nhất. Nếu xảy ra trường hợp người yêu cầu đến Văn phòng Thừa phát lại để thỏa thuận lập vi bằng nhưng Trưởng Văn phòng Thừa phát lại không có mặt thì các “Thừa phát lại cũng không thể lập vi bằng để ghi nhận sự kiện, hành vi cần được ghi nhận ngay sau đó”[15]. Điều này gây ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng và làm phát sinh sự lệ thuộc giữa việc lập vi bằng với Trưởng Văn phòng Thừa phát lại.

3. Một vài kiến nghị

Từ thực tế hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại cho thấy, các quy định về lập vi bằng hiện vẫn còn khá nhiều hạn chế, bất cập. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại, cần thiết xem xét các giải pháp sau:

Thứ nhất, một trong những hạn chế lớn của vi bằng là vi bằng sau khi được lập chưa có hiệu lực pháp luật ngay. Bởi lẽ, như đã trình bày, pháp luật yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại phải đăng ký vi bằng với Sở Tư pháp thì vi bằng đó mới có hiệu lực pháp luật. Theo tác giả, quy định này chưa thật sự hợp lý và ảnh hưởng không nhỏ đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể lập vi bằng. Từ đó, tác giả cho rằng, pháp luật quy định cho Thừa phát lại quyền hạn đặc biệt được phép lập vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi xảy ra trong đời sống xã hội thì đồng thời với đó, Thừa phát lại cũng sẽ phải chịu trách nhiệm với nội dung vi bằng được lập. Hơn nữa, bản chất Thừa phát lại cũng giống như Luật sư vì đều là các hoạt động độc lập, hành nghề tự do và tự chịu trách nhiệm nên họ có thể tự mình đảm nhiệm các công việc tham gia. Ngoài ra, Văn phòng Thừa phát lại nơi nhận yêu cầu lập vi bằng thì mới là nơi phải có trách nhiệm bảo quản, lưu trữ vi bằng. Điều này mới thực sự hợp lý và phù hợp với bản chất của vi bằng. Vì vậy, nên sửa đổi quy định hiện nay theo hướng sau khi Thừa phát lại lập vi bằng thì vi bằng sẽ có ngay hiệu lực pháp luật. Thừa phát lại lập vi bằng phải chịu trách nhiệm với nội dung vi bằng được lập. Đồng thời, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại cũng sẽ phải chịu trách nhiệm cùng với Thừa phát lại về vi bằng đó. Điều này vẫn đảm bảo sự chặt chẽ, tuân thủ pháp luật của vi bằng và có thể nhanh chóng, kịp thời đáp ứng nhu cầu của chủ thể yêu cầu lập vi bằng. Ngoài ra, để Sơ Tư pháp kịp thời nắm bắt và giám sát quá trình lập vi bằng của Văn phòng Thừa phát lại thì nên tổ chức triển khai và phát triển mô hình mạng dữ liệu điện tử. Ngay sau khi Thừa phát lại lập vi bằng, thì Văn phòng Thừa phát lại sẽ phải báo cáo các thông tin cần thiết về vi bằng vừa được lập để Sở Tư pháp kịp thời nắm bắt và giám sát.

Thứ hai, quy định tại Điều 29 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì cá nhân, tổ chức muốn lập vi bằng sẽ phải thỏa thuận với Trưởng Văn phòng Thừa phát lại về việc lập vi bằng. Tuy nhiên, quy định này lại tạo ra khó khăn cho Thừa phát lại và cũng không tạo thuận lợi cho khách hàng khi có nhu cầu lập vi bằng. Vì vi bằng thường có tính khẩn cấp, tức thời nên luôn cần phải kịp thời, nhanh chóng ghi nhận lại các sự kiện, hành vi đang diễn ra. Nếu Trưởng Văn phòng Thừa phát lại không có mặt để có thể thỏa thuận với chủ thể có yêu cầu lập vi bằng thì vi bằng cũng không thể được lập. Tác giả cho rằng, quy định này là chưa thật sự thỏa đáng và gây ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng. Mặt khác, Thừa phát lại mới là chủ thể được pháp luật trao quyền lập vi bằng. Vì vậy, nếu như cần thỏa thuận thì chỉ cần Thừa phát lại và khách hàng thỏa thuận với nhau. Thừa phát lại sẽ có thể nhanh chóng tiến hành lập vi bằng và chịu trách nhiệm về nội dung vi bằng. Từ đó, theo tác giả, quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP cần thiết phải được sửa đổi lại theo hướng cho phép Thừa phát lại và khách hàng có thể tự do thỏa thuận về việc lập vi bằng. Có như vậy mới tạo nên sự chủ động trong hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại và đảm bảo tính khẩn cấp, kịp thời khi ghi nhận các sự kiện, hành vi đang diễn ra.

TS. Nguyễn Vinh Hưng

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội





[1]. Nguyễn Vinh Hưng (2017), Thừa phát lại trong thi hành án dân sự, Tạp chí Kiểm sát điện tử, nguồn truy cập: http://www.kiemsat.vn/thua-phat-lai-trong-thi-hanh-dan-su.html , ngày truy cập 03/3/2018.

[2]. Nguyễn Vinh Hưng (2018), Cần nghiên cứu, đổi mới cơ chế hoạt động của Thừa phát lại ở nước ta hiện nay, Dân chủ và Pháp luật, số 01, tr. 27.

[3]. Nguyễn Vinh Hưng (2018), Nghĩa vụ chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tạp chí Kiểm sát, số 20.

[4]. Phạm Phúc Thịnh (2014), Thừa phát lại trong thi hành án dân sự, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 46.

[5]. Nguyễn Đức Chính (chủ biên 2006), Tổ chức Thừa phát lại, Nxb. Tư pháp, tr. 62 - 63.

[6]. Khoản 1 và 3 Điều 66 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[7]. Nguyễn Đức Chính (chủ biên 2006), Tổ chức Thừa phát lại, sđd, tr. 65.

[8]. Khoản 8 Điều 2 Nghị định số 135/NĐ-CP ngày 18/10/2013 về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh.

[9]. Mục 1.1, phần 1, Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 về hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động Thừa phát lại.

[10]. Báo cáo số 538/BC-CP của Chính phủ ngày 19/10/2015, về tổng kết việc triển khai tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội, tr. 9.

[11]. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2016), Thực tiễn hoạt động Thừa phát lại quận Bình Thạnh, nguồn truy cập: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=124 , ngày 19/12/2016.

[12]. Khoản 4 Điều 26 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh.

[13]. Khoản 9 Điều 2 Nghị định số 135/NĐ-CP ngày 18/10/2013 về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh.

[14]. Mục 1.2, phần 1, Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 về hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động Thừa phát lại.

[15]. Phạm Phúc Thịnh (2014), Thừa phát lại trong thi hành án dân sự, sđd, tr. 49.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: