Thứ sáu 20/03/2026 08:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập về cách tính thời hạn khởi kiện theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009

Điều 22 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định về quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường và các quy định có liên quan, chúng tôi nhận thấy có hai bất cập lớn liên quan đến cách tính thời hạn khởi kiện. Một là, thời điểm nào được coi là người bị thiệt hại nhận được quyết định giải quyết bồi thường để làm cơ sở tính thời hạn khởi kiện. Hai là, cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường không thực hiện trách nhiệm chi trả tiền bồi thường khi quyết định giải quyết bồi thường đã có hiệu lực, thì người bị thiệt hại có quyền được khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết hay không. Qua bài viết này, các tác giả sẽ chỉ ra những bất cập và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về cách tính thời hạn khởi kiện theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.

1. Về thời điểm người bị thiệt hại nhận được quyết định giải quyết bồi thường để làm cơ sở tính thời hạn khởi kiện

Điều 22 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định thời hạn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường là 15 ngày, kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định giải quyết bồi thường, nhưng không đồng ý với quyết định đó thì có quyền khởi kiện ra Toà án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường, quy định như vậy chưa toàn diện, bởi trong thực tiễn có một số trường hợp sau sẽ không thể giải quyết được theo Luật này, đó là:

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 3/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Nghị định số 16/2010/NĐ-CP) thì đối với trường hợp người được bồi thường vắng mặt, quyết định giải quyết bồi thường có thể được giao cho người thân có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với họ. Người thân của người được bồi thường phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận quyết định giải quyết bồi thường. Ngày người thân của người được bồi thường ký nhận được tính là ngày người được bồi thường nhận được quyết định giải quyết bồi thường. Trường hợp này đã quy định rất rõ về ngày nhận quyết định của người bị thiệt hại. Nhưng trong trường hợp người được bồi thường không có người thân có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng họ từ chối nhận hộ quyết định giải quyết bồi thường, thì có thể giao quyết định giải quyết bồi thường thông qua Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã - nơi người được bồi thường cư trú. Quy định này không rõ thời điểm người bị thiệt hại nhận được quyết định giải quyết bồi thường là ngày nào, là ngày UBND cấp xã nhận từ người chuyển giao hay ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định từ UBND cấp xã giao. Bởi luật quy định rằng, phải giao ngay quyết định cho người bị thiệt hại để đảm bảo quyền lợi cho họ, vì thời hạn để khởi kiện ra Toà án là rất ngắn.

Đồng thời, Điều 10 Nghị định số 16/2010/NĐ-CP cũng có quy định “trường hợp việc giao quyết định giải quyết bồi thường qua người khác thì người thực hiện việc giao quyết định phải lập biên bản ghi rõ việc người được bồi thường vắng mặt, quyết định giải quyết bồi thường đã được giao cho ai; lý do; ngày, giờ giao; quan hệ giữa người nhận hộ với người bị thiệt hại; cam kết giao ngay tận tay quyết định giải quyết bồi thường cho người được bồi thường. Biên bản có chữ ký của người nhận chuyển quyết định giải quyết bồi thường và người thực hiện việc giao quyết định giải quyết bồi thường, người chứng kiến”. Người khác ở đây đương nhiên được hiểu là người thân có đủ năng lực hành vi dân sự và cùng cư trú với người bị thiệt hại, nhưng có được hiểu là UBND cấp xã không? Pháp luật của Việt Nam hay sử dụng từ người cho cả cá nhân và tổ chức, ví dụ như quy định “người khởi kiện” bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức[1], ngay cả các nhà khoa học cũng vậy, họ cho rằng: Khái niệm pháp lý về “con người” với tính cách là chủ thể chung của các quan hệ pháp luật cần được hiểu là bao gồm các loại thể nhân và pháp nhân[2], nên có lẽ trong trường hợp này “người khác” cũng được hiểu là UBND cấp xã. Chúng tôi kiến nghị trong trường hợp này, pháp luật nên quy định rõ là ngày nhận quyết định của người bị thiệt hại là ngày được người đại diện của Ủy ban giao cho, bởi người này cũng thuộc danh sách những người được pháp luật quy định có nhiệm vụ thực hiện việc chuyển giao quyết định và cũng đảm bảo quyền khởi kiện cho người bị thiệt hại.

Thứ hai, trường hợp người được bồi thường vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ, thì người thực hiện việc giao quyết định giải quyết bồi thường phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc giao quyết định. Biên bản phải có chữ ký của người cung cấp thông tin về người được bồi thường. Trường hợp này xảy ra có thể do lỗi hoặc không do lỗi của người bị thiệt hại, thiết nghĩ trong trường hợp này nên áp dụng thủ tục niêm yết tương tự như trong quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004[3]. Bởi lẽ, thực ra thủ tục chuyển giao quyết định này khi nghiên cứu kỹ thì rất giống với thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng quy định tại Chương X - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Nhưng như đã đề cập trên, quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong nhiều trường hợp còn rất nhiều lỗ hổng, chưa dự liệu hết các trường hợp có thể xảy ra mà Bộ luật Tố tụng dân sự đã dự liệu được, mà lại thiếu các quy định viện dẫn về việc áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, muốn quy định cụ thể ra trực tiếp nhưng lại không ghi nhận được hết các trường hợp có khả năng xảy ra. Bên cạnh đó, việc đưa ra kiến nghị về việc niêm yết quyết định giải quyết bồi thường trong trường hợp này cũng là sự tiếp thu các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, có thể coi đây là luật hình thức khá đầy đủ để giải quyết các quan hệ dân sự rộng lớn, ví dụ như quy định về thời hạn kháng cáo tại khoản 1 Điều 245 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định: “Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết”. Do đó, chúng tôi kiến nghị trong trường hợp này xem như ngày niêm yết là ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định giải quyết bồi thường.

Thứ ba, trường hợp người được bồi thường từ chối nhận quyết định giải quyết bồi thường thì người thực hiện việc giao quyết định phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối. Trong trường hợp này chắc chắn là lỗi của người bị thiệt hại, nên chúng tôi cho rằng ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định là ngày họ từ chối nhận quyết định giải quyết bồi thường.

Trên các cơ sở lập luận trên, chúng tôi kiến nghị cần quy định bổ sung thêm Điều 10 Nghị định số 16/2010/NĐ-CP các nội dung đã trình bày trên như quy định cụ thể ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường là ngày nào, trường hợp nào phải niêm yết và thủ tục niêm yết. Theo đó, cần sửa đổi Điều 22 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 cho phù hợp.

2. Việc không thực hiện trách nhiệm chi trả tiền bồi thường

Nếu như trách nhiệm này được xác định trong bản án dân sự có hiệu lực pháp luật thì áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể là các quy định tại Chương XXXI - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và pháp luật về thi hành án và Điều này đã được Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 khẳng định tại khoản 5 Điều 54 như sau: "Trường hợp bản án, quyết định giải quyết bồi thường của Toà án có hiệu lực pháp luật mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không tự nguyện thi hành thì người được bồi thường có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự". Thực ra, nếu Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 không quy định như trên thì đương nhiên các quy định tại Chương XXXI của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn được áp dụng, vì đây là trường hợp Toà án giải quyết vụ án dân sự thì pháp luật tố tụng dân sự được áp dụng một cách toàn diện nhất, điều này cho thấy một cái thừa của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế người bị thiệt hại vẫn chưa vận dụng triệt để quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho mình, đó là trường hợp của ông P. Cụ thể như sau:

Ông P. khổ sở đi đòi bồi thường oan sai đã kéo dài 15 năm nay. Năm 1999, Toà án nhân dân (TAND) tỉnh Thái Bình tuyên phạt ông P. 17 năm tù về hai tội trốn thuế và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa. Xét xử phúc thẩm năm 2000, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội tuyên ông P. không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và hủy phần tội trốn thuế để điều tra lại. Năm 2010, TAND tỉnh Thái Bình đã bồi thường cho ông P. 600 triệu đồng, đây là tiền bồi thường cho 3 năm ông P. ngồi tù và thu nhập thực tế bị mất. Riêng vụ kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản, tháng 8/2013, TAND thành phố Thái Bình tuyên buộc TAND tỉnh Thái Bình phải bồi thường cho ông P. hơn 21,4 tỉ đồng về tài sản bị kê biên, phát mại và một số chi phí khác sau khi ông P. bị bắt.

Trường hợp của ông P. khi bản án đã có hiệu lực chín tháng mà các cơ quan chưa trả tiền bồi thường cho ông Phi do ông P. bị bắt giam oan, tài sản bị phát mãi với giá rẻ mạt, ra tù cuộc sống của rất khó khăn. Nhiều năm qua ông P. chỉ biết đi kiện, nên ông P. cảm thấy thật sự rất mệt mỏi vì phải chờ đợi các cơ quan tố tụng từ năm này qua năm khác mà không biết khi nào mới nhận được số tiền bồi thường. Để giải tỏa những trăn trở của ông P. thì một cán bộ Toà án đã trả lời: "Theo nguyên tắc của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, bản án phải được TAND tối cao xem xét xem có phải kháng nghị giám đốc thẩm hay không. Nếu không có kháng nghị thì sẽ tiến hành chi trả tiền cho ông P."[4]. Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 không có nguyên tắc như vậy và nếu chờ kháng nghị giám đốc thẩm thì người bị thiệt hại phải chờ rất lâu[5]. Thiết nghĩ, trong trường hợp bản án, quyết định giải quyết bồi thường của Toà án cũng như những bản án dân sự khác, khi đã có hiệu lực pháp luật thì phải được thi hành theo thủ tục quy định, còn nếu có căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hay tái thẩm thì số tiền đã thi hành không đúng có thể được giải quyết trong một bản án dân sự và áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 tại chương XX về nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, thực tiễn có những trường hợp như thế xảy ra và Toà án cũng đã áp dụng linh hoạt các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết (Điều 281, Điều 256, Điều 599 đến Điều 603)[6].

Theo chúng tôi, trong trường hợp cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường theo quyết định giải quyết bồi thường mà không nghiêm túc thực hiện việc bồi thường cho người bị thiệt hại, thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện cơ quan có trách nhiệm bồi thường để yêu cầu cơ quan này thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Lý giải cho việc kiến nghị này, theo chúng tôi quyết định giải quyết bồi thường về bản chất cũng giống như quyết định hoàn trả[7], nó không phải là quyết định hành chính nên không thể khởi kiện vụ án hành chính, mà đây thực chất như một thỏa thuận mang bản chất dân sự nên khởi kiện vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự là hợp lý, để khi bản án, quyết định có hiệu lực mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không chấp hành, thì người bị thiệt hại có cơ sở yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự vào cuộc và có thể cưỡng chế thi hành án như những trường hợp thông thường khác, vì suy cho cùng cơ quan có trách nhiệm bồi thường cũng là người phải thi hành án như các chủ thể khác của pháp luật dân sự.

Trên cơ sở các bất cập và kiến nghị sửa đổi văn bản hướng dẫn nêu trên, chúng tôi kiến nghị sửa Điều 22 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 như sau:

Điều 22. Khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường

"Thời hạn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường là 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường theo quy định tại Điều 20 của Luật này mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định hoặc kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết.

Trường hợp quyết định giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật thì thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày hết thời hạn thực hiện việc chi trả bồi thường theo quy định tại Điều 54 của Luật này mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ".

ThS. Lê Đức Hiền, Đại học Quy Nhơn

Châu Nữ Thu Hân, TAND TP. Cao Lãnh - Đồng Tháp

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).

2. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.

3. Nguyễn Như Phát (2007), "Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường Nhà nước", Tạp chí Nhà nước và pháp luật (4), tr. 25.


[1] Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định về quyền khởi kiện vụ án: Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

[2] Nguyễn Như Phát (2007), "Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường Nhà nước", Tạp chí Nhà nước và pháp luật (4),tr. 25.

[3] Điều 154 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 về thủ tục niêm yết công khai

(1). Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng chỉ được thực hiện khi không rõ tung tích của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo hoặc không thể thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp.

(2). Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do Toà án trực tiếp hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo được thực hiện theo thủ tục sau đây:

a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Toà án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo;

b) Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo;

c) Lập biên bản về việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết.

(3). Thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụng là mười lăm ngày, kể từ ngày niêm yết.

[5] Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành tại Điều 288 như sau: Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quyền kháng nghị trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm hai năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị:

a) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 284 của Bộ luật này và sau khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;

b) Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 283 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.

[6] Xem thêm bản án số 17/2012/DS-ST ngày 28/6/2012 "về việc tranh chấp về quyền sở hữu tài sản" của Tòa án nhân dân huyện DL, tỉnh LĐ.

[7] Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23/01/2014 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, quy định tại Điều 4. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong việc xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: