Thứ ba 28/04/2026 21:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số điểm mới đáng lưu ý của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức

Ngày 25/11/2019 Quốc hội đã ban hành Luật số 52/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức. Trong bài viết này, tác giả sẽ trình bày một số điểm mới đáng lưu ý của Luật số 52/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức (gọi tắt là Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019).


1. Một số điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 so với Luật Cán bộ, công chức năm 2008

1.1. Về đối tượng là công chức

Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 sửa đổi khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 về khái niệm công chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.

Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 không tiếp tục quy định đối tượng lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập là công chức mà khẳng định công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với “vị trí việc làm”. Nói cách khác, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã không thực hiện chế độ công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập, thu hẹp đối tượng là công chức. Thay đổi này của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 là phù hợp vì trong thời gian vừa qua, mặc dù đối tượng lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập được xác định là công chức nhưng không được tính trong tổng số biên chế công chức, không được hưởng phụ cấp công vụ[1]. Qua tổng kết cho thấy, việc áp dụng 02 chế độ công chức và viên chức trong cùng một loại hình tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập dẫn đến vướng mắc, không thống nhất trong việc thực hiện chế độ, chính sách và áp dụng cơ chế quản lý. Việc tách bạch 02 đối tượng này phù hợp với quan điểm tiếp tục thực hiện mạnh mẽ chủ trương phân định rõ việc quản lý nhà nước với quản trị đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập[2].

1.2. Về phân loại cán bộ

Theo khoản 1 Điều 29 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì căn cứ vào kết quả đánh giá, cán bộ được phân loại đánh giá như sau: (i) Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; (ii) Hoàn thành tốt nhiệm vụ; (iii) Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực; (iv) Không hoàn thành nhiệm vụ.

Trong khi đó, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định căn cứ vào kết quả đánh giá, cán bộ được xếp loại chất lượng theo các mức như sau: (i) Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; (ii) Hoàn thành tốt nhiệm vụ; (iii) Hoàn thành nhiệm vụ; (iv) Không hoàn thành nhiệm vụ[3].

Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã thay thế mức “hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực” bằng mức “hoàn thành nhiệm vụ”. Sự thay đổi này phù hợp giữa quy định của Đảng và quy định của Nhà nước, cụ thể Quy định số 89-QĐ/TW ngày 04/8/2017 của Ban chấp hành Trung ương về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã quy định xếp loại cán bộ có 04 mức: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ, không hoàn thành nhiệm vụ, mà không có mức “hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực”. Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã sửa đổi cho thống nhất với Quy định số 89-QĐ/TW ngày 04/8/2017, bởi lẽ “công tác cán bộ được xác định là công tác của Đảng, cần bảo đảm sự tập trung, thống nhất”[4].

Xuất phát từ sự thay đổi trên nên Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã bỏ quy định “cán bộ 02 năm liên tiếp hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 02 năm liên tiếp, trong đó 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bố trí công tác khác” tại khoản 3 Điều 29 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 để cho thống nhất.

1.3. Về đối tượng được tuyển dụng công chức thông qua xét tuyển

Khoản 2 Điều 37 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định một nhóm đối tượng được tuyển dụng thông qua xét tuyển là “Người có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được tuyển dụng thông qua xét tuyển”. Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã mở rộng thêm các nhóm đối tượng được tuyển dụng thông qua xét tuyển, cụ thể là có 03 nhóm đối tượng được tuyển dụng thông qua xét tuyển như sau: (i) Cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; (ii) Người học theo chế độ cử tuyển theo quy định của Luật giáo dục, sau khi tốt nghiệp về công tác tại địa phương nơi cử đi học; (iii) Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng[5].

Quy định mới này của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 nhằm thu hút nhân tài, tạo nguồn công chức trẻ, tạo sự cạnh tranh công bằng để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức.

1.4. Về tiếp nhận công chức không qua thi tuyển, xét tuyển

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định 02 hình thức tuyển dụng công chức là thi tuyển và xét tuyển. Trong khi đó, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 ngoài việc quy định ngoài hình thức tuyển dụng thông qua thi tuyển và xét tuyển, người đứng đầu cơ quan quản lý công chức quyết định tiếp nhận người đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm vào làm công chức đối với trường hợp sau đây: (i) Viên chức công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập; (ii) Cán bộ, công chức cấp xã; (iii) Người hưởng lương trong lực lượng vũ trang nhân dân, người làm việc trong tổ chức cơ yếu nhưng không phải là công chức; (iv) Tiếp nhận để bổ nhiệm làm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với người đang là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Thành viên Hội đồng thành viên, Thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và người đang giữ chức vụ, chức danh quản lý khác theo quy định của Chính phủ trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; người được tiếp nhận phải được quy hoạch vào chức vụ bổ nhiệm hoặc chức vụ tương đương; (v) Người đã từng là cán bộ, công chức sau đó được cấp có thẩm quyền điều động, luân chuyển giữ các vị trí công tác không phải là cán bộ, công chức tại các cơ quan, tổ chức khác[6].

Trước đây hình thức tuyển dụng đặc biệt nêu trên chỉ được quy định tại các văn bản dưới luật mà chưa được luật hóa. Với việc bổ sung này của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 sẽ tạo nhiều cơ hội hơn cho nhiều người và tạo hành lang pháp lý vững chắc để các chủ thể có thẩm quyền áp dụng thống nhất pháp luật. Ngoài ra, “luật hóa quy định về việc tiếp nhận làm công chức đối với một số trường hợp để tạo cơ chế liên thông trong công tác cán bộ”[7].

1.5. Về hình thức xét nâng ngạch công chức

Theo Điều 44 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, việc nâng ngạch công chức được thực hiện qua hình thức thi tuyển, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 lại tiếp tục bổ sung thêm hình thức xét nâng ngạch công chức. Việc thi nâng ngạch, xét nâng ngạch công chức phải bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh, công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật.

Sự bổ sung này xuất phát từ lý do là quá trình triển khai thực hiện cho thấy việc thi nâng ngạch chưa thay đổi căn bản theo đúng mục đích, yêu cầu; việc bố trí, sử dụng người được nâng ngạch chưa căn cứ vào vị trí việc làm; chất lượng của các kỳ thi nâng ngạch còn nhiều bất cập. Đối với một số trường hợp có thành tích vượt trội trong công tác chưa có hình thức xét nâng ngạch không qua thi (tương tự như xét thăng hạng đối với viên chức)[8]. Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã quy định thêm hình thức “xét nâng ngạch công chức” để phù hợp với tình hình.

1.6. Về tổ chức thi nâng ngạch, xét nâng ngạch công chức

Khoản 2, khoản 3 Điều 46 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 cho phép Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan tổ chức kỳ thi nâng ngạch công chức. Trong khi đó, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 sửa đổi theo hướng giao cho Chính phủ quy định thẩm quyền tổ chức thi nâng ngạch, xét nâng ngạch công chức.

Sự đổi mới này nhằm phù hợp với phân cấp quản lý công chức trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội.

1.7. Về đánh giá công chức

Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 bổ sung các nội dung đánh giá công chức, cũng như làm rõ hơn nội dung đánh giá công chức như: Chấp hành quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao; tiến độ và chất lượng thực hiện nhiệm vụ (việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phải gắn với vị trí việc làm, thể hiện thông qua công việc, sản phẩm cụ thể); thái độ phục vụ doanh nghiệp đối với những vị trí tiếp xúc trực tiếp hoặc trực tiếp giải quyết công việc của doanh nghiệp…

Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 còn thêm thời điểm đánh giá công chức như sau: “Căn cứ vào yêu cầu quản lý của cơ quan, tổ chức, đơn vị, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức quy định đánh giá công chức theo quý, tháng hoặc tuần phù hợp với đặc thù công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình”[9].

Sự đổi mới này là cần thiết, bởi lẽ các quy định về đánh giá công chức của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 còn thiếu sự gắn kết giữa các tiêu chí đánh giá với kết quả thực hiện công việc theo vị trí việc làm, công tác đánh giá còn hình thức, “cào bằng”, chưa thực sự tạo động lực trong việc rèn luyện, phấn đấu của công chức, đồng thời cũng không có cơ sở để loại bỏ những người có năng lực yếu kém[10].

1.8. Về xác định công chức cấp xã

Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định “đối với xã, thị trấn chưa tổ chức công an chính quy theo quy định của Luật Công an nhân dân số 37/2018/QH14 thì trưởng Công an được xác định là công chức cấp xã”[11]. Theo quy định này thì trưởng công an xã, thị trấn đã tổ chức công an chính quy thì không còn là công chức nữa mà sẽ là đối tượng thuộc lực lượng công an nhân dân.

Việc điều động công an chính quy đảm nhiệm các chức danh công an xã là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và Bộ Công an nhằm sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”[12]. Đội ngũ công an chính quy sẽ giữ vai trò nòng cốt trong công tác bảo đảm an ninh trật tự, phòng chống tội phạm, bảo vệ sự bình yên ở địa bàn vùng nông thôn.

1.9. Về các hình thức kỷ luật đối với công chức

Để thống nhất về việc xử lý người có hành vi tham nhũng nêu tại Điều 92 Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14 ngày 20/11/2018, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã bổ sung thêm quy định về việc xử lý công chức có hành vi tham nhũng. Theo đó, công chức sẽ bị buộc thôi việc nếu thuộc một trong 02 trường hợp: (i) Bị kết án phạt tù mà không được hưởng án treo; (ii) Bị kết án về tội phạm tham nhũng.

Như vậy, có thể thấy, việc bổ sung quy định này là hoàn toàn hợp lý, không chỉ thống nhất các quy định của pháp luật mà còn giúp công tác phòng, chống tham nhũng được nghiêm minh hơn.

Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 cũng bổ sung thêm quy định về hình thức hạ bậc lương với công chức. Theo đó, hình thức hạ bậc lương chỉ áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (trước đây không có quy định về điều này).

1.10. Về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật cán bộ, công chức

Thứ nhất, về thời hiệu xử lý kỷ luật cán bộ, công chức

Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, thời hiệu xử lý kỷ luật áp dụng đối với cán bộ, công chức là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy, thời gian 24 tháng là quá ít khi hành vi vi phạm để bị kỷ luật của công chức nhiều khi rất khó phát hiện, xử lý và đang “cào bằng” giữa các hình thức xử lý vi phạm. Bên cạnh đó, một số trường hợp đã bị xử lý kỷ luật về Đảng (hoặc đã bị xử lý hình sự nhưng cho hưởng án treo) khi xét kỷ luật theo quy định của Luật thì hết thời hiệu[13]. Do đó, để phù hợp với thực tế, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật, cụ thể là: (i) 02 năm đối với hành vi vi phạm ít nghiêm trọng đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách; (ii) 05 năm đối với hành vi vi phạm không thuộc trường hợp quy định nêu trên.

Đặc biệt, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định thêm 04 trường hợp không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật: (i) Cán bộ, công chức là đảng viên có hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ; (ii) Có hành vi vi phạm quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; (iii) Có hành vi xâm hại đến lợi ích quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại; (iv) Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận, xác nhận giả hoặc không hợp pháp.

Có thể thấy, những hành vi này vô cùng nghiêm trọng do đó việc không áp dụng thời hiệu xử lý là quy định hoàn toàn phù hợp.

Thứ hai, thời hạn xử lý kỷ luật cán bộ, công chức

Khoản 2 Điều 80 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định “thời hạn xử lý kỷ luật không quá 02 tháng; trường hợp vụ việc có những tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 04 tháng”. Trong khi đó, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã tăng thời hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức như sau “thời hạn xử lý kỷ luật không quá 90 ngày; trường hợp vụ việc có tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng không quá 150 ngày”. Bởi lẽ, thời hạn xử lý kỷ luật như quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 là quá ngắn.

Ngoài ra, trường hợp cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm kỷ luật thì bị xem xét xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, so với trước đây thì Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã bổ sung quy định “thời gian điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự không được tính vào thời hạn xử lý kỷ luật”. Bổ sung mới này sẽ giúp áp dụng thống nhất pháp luật và giải quyết được vấn đề khó khăn trước đây là khi cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xử lý kỷ luật nhận được quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án và tài liệu có liên quan thì đã hết thời hạn lý kỷ luật.

1.11. Về việc xử lý cán bộ, công chức bị xử lý kỷ luật

Theo quy định tại Điều 82 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì cán bộ, công chức bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức thì không thực hiện việc nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực.

Trong khi đó, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 thì xác định rõ:

+ Trường hợp bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo hoặc hạ bậc lương thì không thực hiện việc nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực;

+ Trường hợp bị kỷ luật bằng hình thức giáng chức hoặc cách chức thì không thực hiện việc nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm trong thời hạn 24 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực[14].

Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã phân định cách thức xử lý đối với cán bộ, công chức bị kỷ luật bằng các hình thức khác nhau. Điều này tránh được tình trạng quy định chung chung, “cào bằng” giữa các hình thức xử lý kỷ luật.

Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã bỏ quy định không giải quyết nghỉ hưu. Như vậy trường hợp cán bộ, công chức đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử mà đến tuổi nghỉ hưu thì thực hiện thủ tục nghỉ hưu theo quy định. Trước đây, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì không được giải quyết nghỉ hưu.

1.12. Về việc xử lý đối với hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 là việc bổ sung thêm 01 hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, đặc biệt nhấn mạnh việc sau khi đã nghỉ việc, nghỉ hưu, cán bộ, công chức vẫn có thể bị xử lý bằng hình thức “xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm”.

Theo đó, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 chính thức quy định: “Cán bộ, công chức sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật”[15].

Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 cũng quy định rõ, cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm trong thời gian công tác trước ngày 01/7/2020 cũng được thực hiện theo quy định của Luật này.

Như vậy, có thể thấy, quan niệm “hạ cánh an toàn” trước đây bắt đầu từ 01/7/2020 sẽ hoàn toàn bị loại bỏ. Đồng thời, quy định này cũng thống nhất và đồng bộ với những văn bản quy phạm pháp luật khác như Quy định số 102-QĐ/TW Xử lý kỷ luật Đảng viên vi phạm ngày 15/11/2017 và Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành.

2. Luật Viên chức

2.1. Về hợp đồng làm việc của viên chức

Thứ nhất, hợp đồng không xác định thời hạn

Viên chức vẫn thực hiện 02 loại hợp đồng là không xác định thời hạn và xác định thời hạn.

Đối với hợp đồng không xác định thời hạn hay còn gọi là “chế độ biên chế suốt đời” của viên chức sẽ không còn được áp dụng với các đối tượng mới được tuyển dụng từ ngày 01/7/2020. Như vậy, căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 thì việc thực hiện hợp đồng loại không xác định thời hạn chỉ còn được áp dụng với 03 trường hợp: (i) Viên chức được tuyển dụng trước ngày 01/7/2020; (ii) Cán bộ, công chức chuyển thành viên chức; (iii) Người được tuyển dụng làm viên chức làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Có thể thấy quy định này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tiễn cũng như đồng bộ với Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 khóa XII đã đề ra chủ trương “thực hiện chế độ hợp đồng viên chức có thời hạn đối với những trường hợp tuyển dụng mới (trừ các đơn vị sự nghiệp công lập ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn)”.

Thứ hai, hợp đồng xác định thời hạn

Không chỉ tác động đến hợp đồng làm việc không xác định thời hạn mà đối với hợp đồng xác định thời hạn, khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 cũng sửa đổi thời hạn thực hiện hợp đồng. Theo đó, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã nâng thời hạn thực hiện hợp đồng xác định thời hạn của viên chức từ 36 tháng như quy định hiện nay lên 60 tháng. Trong đó, hợp đồng xác định thời hạn là loại hợp đồng mà hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

Đặc biệt, trước khi hết hạn hợp đồng làm việc 60 ngày, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải ký tiếp hoặc chấm dứt hợp đồng với viên chức. Trong đó, nếu viên chức đáp ứng đầu đủ các yêu cầu và đơn vị còn nhu cầu thì bắt buộc phải ký tiếp hợp đồng. Ngược lại, nếu từ chối thì phải có văn bản nêu rõ lý do vì sao.

Có thể thấy, việc kéo dài thời hạn này tạo điều kiện cho viên chức được làm quen và phát huy được khả năng của mình trong công việc.

Ngoài ra Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 còn bổ sung thêm trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc, cụ thể là: “Nếu viên chức không đạt yêu cầu sau thời gian tập sự thì đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức”[16].

2.2. Về đánh giá viên chức

So với trước đây thì Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã quy định các nội dung đánh giá viên chức theo từng công việc, sản phẩm cụ thể, cụ thể là Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã bổ sung một số nội dung đánh giá viên chức như sau: (i) Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị; (ii) Kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao; tiến độ, chất lượng thực hiện nhiệm vụ. Việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phải gắn với vị trí việc làm, thể hiện thông qua công việc, sản phẩm cụ thể[17].

Sự bổ sung này xuất phát từ nguyên nhân là việc triển khai đánh giá viên chức trên thực tế chưa phù hợp với đặc điểm của từng loại hình cơ quan, tổ chức, đơn vị và đặc thù công việc của từng ngành, nghề, lĩnh vực, đồng thời công tác đánh giá còn hình thức, “cào bằng”[18]. Nói cách khác, mỗi ngành nghề có đặc thù riêng nên sẽ áp dụng một tiêu chuẩn với nội dung khác nhau khi đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ. Do đó, với quy định đánh giá viên chức dựa vào kết quả thực hiện nhiệm vụ gắn với vị trí việc làm và thể hiện thông qua công việc, sản phẩm cụ thể đã tạo sự rõ ràng, thuận lợi hơn.

2.3. Về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật viên chức

Tương tự như thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật cán bộ, công chức thì Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã có những thay đổi nhất định về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật đối với viên chức.

Thứ nhất, thời hiệu xử lý kỷ luật viên chức

Thay vì quy định chung chung cho tất cả các trường hợp đều có thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm như Luật Viên chức năm 2010 thì Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã có sự phân hóa theo từng hành vi vi phạm sẽ có thời hiệu xử lý kỷ luật khác nhau, cụ thể như sau: (i) 02 năm đối với hành vi vi phạm ít nghiêm trọng đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách; (ii) 05 năm đối với hành vi vi phạm không thuộc trường hợp nêu trên (khoản 7 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019).

Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã bổ sung thêm các hành vi vi phạm không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật là: (i) Viên chức là đảng viên có hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ; (ii) Có hành vi vi phạm quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; (iii) Có hành vi xâm hại đến lợi ích quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại; (iv) Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận, xác nhận giả hoặc không hợp pháp.

Thứ hai, thời hạn xử lý kỷ luật viên chức

Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 tiếp tục tăng thời hạn xử lý kỷ luật viên chức, cụ thể là: “Thời hạn xử lý kỷ luật không quá 90 ngày; trường hợp vụ việc có tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng không quá 150 ngày” (khoản 7 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019). Trong khi đó, theo quy định của khoản 2 Điều 53 Luật Viên chức năm 2010 thì “thời hạn xử lý kỷ luật không quá 02 tháng; trường hợp vụ việc có những tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng không quá 04 tháng”.

Sự thay đổi, gia tăng về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật viên chức như trên xuất phát từ lý do rằng quy định về thời hiệu, thời hạn của Luật Viên chức năm 2010 là “quá ngắn, không bảo đảm tính nghiêm khắc đối với việc xử lý viên chức có hành vi vi phạm’[19].

2.4. Về xử lý viên chức bị kỷ luật

Theo Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 thì khi viên chức bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo vẫn có thể được bổ nhiệm lại nhưng không được bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn trong thời hạn 12 tháng[20]. Trong khi đó, khoản 2 Điều 56 Luật Viên chức năm 2010 quy định “không bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng”.

Tiếp đến, nếu như trước đây, Luật Viên chức năm 2010 không giải quyết nghỉ hưu cho viên chức đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã loại bỏ nội dung “không giải quyết nghỉ hưu” ra khỏi điều luật.

Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã quy định theo hướng mở hơn. Theo đó, khi đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, viên chức vẫn được xem xét giải quyết nghỉ hưu và khi viên chức bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo thì trong thời hạn 12 tháng vẫn có thể được bổ nhiệm lại hoặc bố trí chức vụ thấp hơn./.

Nguyễn Thanh Quyên

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh






[1] http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/thoi-su/2019-05-25/bo-che-do-cong-chuc-trong-don-vi-su-nghiep-cong-lap-71842.aspx, truy cập ngày 13/6/2020.

[2] Tờ trình số 100/TTr-CP ngày 22/03/2019 tóm tắt dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

[3] Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019.

[4] Tờ trình số 99/TTr-CP ngày 22/03/2019 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

[5] Khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019.

[6] Khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019.

[7]Tờ trình số 99/TTr-CP ngày 22/03/2019 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

[8] Tờ trình số 99/TTr-CP ngày 22/03/2019 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

[9] Khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019.

[10]Tờ trình số 99/TTr-CP ngày 22/03/2019 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

[11] Khoản 13 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019.

[12] https://congannghean.vn/binh-yen-xu-nghe/202005/cong-an-tinh-nghe-an-day-manh-hoan-thanh-bo-tri-cong-an-chinh-quy-ve-xa-bai-2-899236/, truy cập ngày 14/06/2020.

[13] Tờ trình số 99/TTr-CP ngày 22/03/2019 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

[14] Khoản 17 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019.

[15] Khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019.

[16] Khoản 4 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019.

[17] Khoản 5 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019.

[18] Tờ trình số 99/TTr-CP ngày 22/03/2019 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

[19] Tờ trình số 99/TTr-CP ngày 22/03/2019 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

[20] Khoản 8 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: