Chủ nhật 18/01/2026 19:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số điểm mới về di chúc miệng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Tóm tắt: Chế định thừa kế là một chế định quan trọng và có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống dân sự của cá nhân. Các quy định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có những điểm khác biệt cơ bản so với Bộ luật Dân sự năm 2005. Riêng đối với phần di chúc miệng thì Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có một số thay đổi, khắc phục những bất cập, thiếu sót. Thông qua bài viết này, trên cơ sở so sánh các quy định về “di chúc miệng” giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015, chúng tôi chỉ ra một số điểm mới về di chúc miệng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Abstract: Inheritance is an important institution and has a strong influence on the inpidual's personal life. The provisions on inheritance under the Civil Code 2015 are fundamentally different from the 2005 Civil Code. Particularly for the oral testament, the new Civil Code has made some changes, In this article, on the basis of a comparison of “oral testimony” provisions under the 2005 Civil Code and the Civil Code 2015, we point out some new points in this article. Goodwill according to the provisions of the Civil Code 2015.

Quyền lập di chúc là một quyền dân sự cơ bản của cá nhân. Vì vậy, cá nhân có tài sản đáp ứng được những điều kiện pháp luật quy định có quyền lập di chúc. Theo quy định của pháp luật dân sự thì cá nhân có quyền lập di chúc dưới hai hình thức là di chúc bằng văn bản và di chúc miệng. Trong đó, hình thức di chúc miệng được thừa nhận từ rất sớm trong các văn bản quy phạm pháp luật và được kế thừa cho đến nay như: Bộ luật Hồng Đức, Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và đặc biệt Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn tiếp tục thừa nhận hình thức di chúc miệng và có những điểm tiến bộ rõ nét so với các văn bản trước đó.

1. Khái niệm di chúc miệng

Di chúc miệng là một loại hình thức di chúc được pháp luật Việt Nam thừa nhận, nhưng nhà làm luật lại chưa đưa ra khái niệm về di chúc miệng. Theo dân gian, di chúc miệng còn có tên gọi là “chúc ngôn” hoặc “di ngôn” để chỉ sự thể hiện ý chí của người lập di chúc thông qua lời nói trong những trường hợp đặc biệt. Thông thường di chúc miệng là những lời “trăn trối” hay “dặn dò” của người sắp chết cho những người còn sống thực hiện ý nguyện cuối cùng của mình về những vấn đề liên quan đến tài sản như: Phân chia di sản, chỉ định người hưởng di sản, truất quyền hưởng di sản, di sản thờ cúng, di tặng… để những người còn sống có thể căn cứ theo đó mà thực hiện.

Từ đó, ta có thể khái quát: “Di chúc miệng là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản thừa kế lúc còn sống trong việc định đoạt khối di sản của mình cho người khác”[1] hay “di chúc thể hiện ý chí của người để lại di sản thông qua lời nói nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho chủ thể khác sau khi chết”[2]. Đây là hình thức di chúc đặc biệt chỉ được lập trong những trường hợp nhất định khi cá nhân không thể lập được di chúc bằng văn bản.

2. Một số điểm mới về di chúc miệng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Thứ nhất, người lập di chúc miệng

Di chúc miệng không phải được lập một cách tùy tiện mà phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Trong đó, điều kiện quan trọng nhất là người lập di chúc phải có quyền lập di chúc miệng. Quyền lập di chúc miệng của cá nhân chỉ phát sinh khi cá nhân đó thuộc trường hợp đặc biệt như luật định.

Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”. Vậy, người lập di chúc miệng phải đang trong tình trạng tính mạng “bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc nguyên nhân khác”. Bàn về tình trạng người lập di chúc “tính mạng bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc nguyên nhân khác”. Ngoài nguyên nhân cái chết đe dọa do bệnh tật thì pháp luật cũng dự liệu những trường hợp khác đe dọa tính mạng của người di chúc miệng, nhưng nhà làm luật chưa có văn bản giải thích cụ thể “nguyên nhân khác” là nguyên nhân nào? Nguyên nhân đó phải thỏa mãn điều kiện gì? Như vậy, chỉ cần nhận định được lý do có thể khiến người di chúc miệng bị đe dọa tính mạng đều phát sinh quyền lập di chúc miệng, cho nên quy định “nguyên nhân khác” là không cần thiết.

Khoản 1 Điều 637 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sửa đổi về tình trạng của người lập di chúc miệng như sau: “Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng”. Như vậy, theo quy định này thì cá nhân rơi vào tình trạng “tính mạng bị cái chết đe dọa” mà không xem xét đến nguyên nhân gây ra tình trạng đó thì có thể lập di chúc miệng. Sự sửa đổi này thể hiện sự tiến bộ của Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định này hợp lý, ngắn gọn, dễ hiểu và tránh sự nhầm lẫn, lúng túng khi áp dụng pháp luật.

Thứ hai, ghi chép lại di chúc miệng

Di chúc miệng được lập khi người lập di chúc đang trong tình trạng nguy kịch tính mạng, thông thường sau khi để lại di nguyện cuối cùng thì người di chúc miệng chết nên không thể đối chứng. Theo tâm lý học, khả năng ghi nhớ thông tin của con người là có giới hạn, vì vậy, để phòng ngừa trường hợp người làm chứng sẽ quên hoặc nhớ không chính xác di nguyện của người chết nên pháp luật dân sự quy định di chúc miệng phải được ghi chép lại trong một khoảng thời gian hợp lý để bảo đảm tính chính xác, khách quan. Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề này như sau:

Theo khoản 5 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và “ngay sau đó” những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ”; khoản 5 Điều 638 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và “ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại”, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.

Về cơ bản, nội dung của hai điều khoản trên quy định tương tự nhau nhưng có sự khác nhau về mặt thuật ngữ pháp lý về việc ghi chép lại di chúc miệng:

- Thời điểm ghi chép lại di chúc miệng:

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định khi người lập di chúc miệng thể hiện ý chí trước mặt ít nhất hai người làm chứng và “ngay sau đó” di chúc phải được ghi chép lại. Thuật ngữ “ngay sau đó” đã phát sinh nhiều bất cập trong việc hiểu và áp dụng pháp luật, tạo cách hiểu chưa thống nhất là phải ghi chép lại ngay tức khắc hay phải được ghi chép lại trong một thời gian hợp lý. Cách hiểu thứ nhất, việc ghi chép lại di chúc miệng đi liền sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng mới được chấp nhận. Nếu di chúc không được ghi chép lại ngay (thường cùng ngày với ngày nghe được ý chí cuối cùng của người lập di chúc), thì sẽ không có giá trị pháp lý. Cách hiểu thứ hai, ngay sau đó được hiểu một cách rộng hơn là khoảng thời gian hợp lý, di chúc miệng có thể được ghi chép lại trong vòng 05 ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí sau cùng tương đương với thời hạn đi công chứng di chúc.

Trong thực tiễn xét xử thì Tòa án cũng xử lý vụ việc theo cách hiểu thứ nhất như trong vụ án “Bản án số 2408/2005/DS-ST ngày 03/11/2005 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh[3]: Ông Nam chết ngày 06/02/2002 có lập di chúc miệng trước mặt hai người làm chứng là bà Hương, bà Lang với nội dung để lại nhà và xe cho bà Tỵ, bà Linh. Bà Lang viết khảo tờ di chúc bản chính, hôm sau bà viết lại giao cho bà Linh. Tòa án các cấp không chấp nhận di chúc viết lại. Sau đó, bà Linh, bà Tỵ xuất trình thêm tờ di chúc ghi ngày 06/02/2002 và khai là bản chính nhưng cũng không được Tòa án chấp nhận. Tòa án không chấp nhận cả hai bản di chúc vì không có căn cứ cho rằng di chúc miệng được viết ngay lúc ông Nam thể hiện ý chí”.

Đối với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 “và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ” đã khẳng định việc ghi chép lại phải được thực hiện ngay theo cách hiểu thứ nhất, tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Sự thay đổi là điều cần thiết và hợp lý nâng cao tính chặt chẽ của pháp luật.

- Người ghi chép lại di chúc miệng:

Pháp luật quy định di chúc miệng phải được ghi chép lại. Vậy ai là người ghi chép lại thì Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có sự khác biệt. Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “những người làm chứng ghi chép lại”, còn theo Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “người làm chứng ghi chép lại”.

Về chủ thể ghi chép lại di chúc miệng không thay đổi đó là người làm chứng, nhưng người làm chứng cho di chúc miệng có từ hai người trở lên, vậy ai sẽ là người ghi chép lại trong những người làm chứng, hay tất cả những người làm chứng phải cùng ghi chép lại di chúc miệng, thì cả hai cách quy định trên vẫn chưa trả lời rõ ràng vấn đề này. Tuy nhiên, cách quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 bỏ đi từ “những” tạo nên cách hiểu có thể một trong những người làm chứng ghi chép lại di chúc miệng vẫn coi là hợp pháp, còn cách quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 dễ gây hiểu theo hướng nhiều người cùng ghi chép lại di chúc miệng, nhưng nếu nhiều người cùng ghi chép lại di chúc miệng sẽ dễ làm di chúc khó hiểu, không mạch lạc, không thống nhất về chữ viết và cách diễn đạt.

Thứ ba, công chứng, chứng thực di chúc miệng

Sau khi di chúc miệng đã được người làm chứng ghi chép lại và cùng ký tên hoặc điểm chỉ vẫn chưa có giá trị pháp lý mà di chúc đó phải được mang đi công chứng hoặc chứng thực. Khoản 2 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “… Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”. Vấn đề về công chứng, chứng thực di chúc miệng là một trong những vấn đề bất cập nhất của Bộ luật Dân sự năm 2005 về di chúc miệng, quy định này chưa rõ ràng nên phát sinh nhiều vấn đề pháp lý liên quan, dẫn đến di chúc miệng được lập không thể phát sinh hiệu lực trên thực tế: Thẩm quyền của công chứng viên trong chứng thực di chúc; Luật Công chứng năm 2014 không quy định thủ tục công chứng di chúc miệng dẫn đến trường hợp công chứng viên từ chối công chứng di chúc miệng, vì vậy, công chứng viên còn rất lúng túng về thủ tục công chứng, chứng thực di chúc miệng; khi công chứng di chúc miệng thì sẽ công chứng về vấn đề nào, nội dung di chúc miệng hay chỉ xác nhận có tồn tại bản di chúc miệng hay xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của những người làm chứng di chúc miệng?

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có điểm tiến bộ khi quy định rõ thẩm quyền của công chứng viên trong việc công chứng, chứng thực di chúc miệng tại khoản 5 Điều 638: “Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”. Bằng quy định này, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xác định rõ công chứng viên có thẩm quyền xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng và quy định này là hợp lý (vì công chứng viên không thể nào chứng thực được nội dung của di chúc) tạo căn cứ pháp lý cho công chứng viên, cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ của mình.

Từ những phân tích trên có thể thấy, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề di chúc miệng có sự tiến bộ so với Bộ luật Dân sự năm 2005 khi quy định rõ ràng, dễ hiểu, khắc phục một số hạn chế, bất cập, tuy nhiên vẫn chưa tạo được bước tiến quan trọng để hoàn thiện pháp luật về di chúc miệng.

ThS. Lê Đức Hiền, Trường Đại học Quy Nhơn

ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân, Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp


[1] Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 1), Nxb. Công an nhân dân, tr. 334.

[2] Đỗ Văn Đại (2012), Luật Thừa Kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 565.

[3] Đỗ Văn Đại (2012), Luật Thừa Kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị Quốc gia.tr. 551.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: