Thứ năm 05/03/2026 08:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số điểm mới về di chúc miệng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Tóm tắt: Chế định thừa kế là một chế định quan trọng và có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống dân sự của cá nhân. Các quy định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có những điểm khác biệt cơ bản so với Bộ luật Dân sự năm 2005. Riêng đối với phần di chúc miệng thì Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có một số thay đổi, khắc phục những bất cập, thiếu sót. Thông qua bài viết này, trên cơ sở so sánh các quy định về “di chúc miệng” giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015, chúng tôi chỉ ra một số điểm mới về di chúc miệng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Abstract: Inheritance is an important institution and has a strong influence on the inpidual's personal life. The provisions on inheritance under the Civil Code 2015 are fundamentally different from the 2005 Civil Code. Particularly for the oral testament, the new Civil Code has made some changes, In this article, on the basis of a comparison of “oral testimony” provisions under the 2005 Civil Code and the Civil Code 2015, we point out some new points in this article. Goodwill according to the provisions of the Civil Code 2015.

Quyền lập di chúc là một quyền dân sự cơ bản của cá nhân. Vì vậy, cá nhân có tài sản đáp ứng được những điều kiện pháp luật quy định có quyền lập di chúc. Theo quy định của pháp luật dân sự thì cá nhân có quyền lập di chúc dưới hai hình thức là di chúc bằng văn bản và di chúc miệng. Trong đó, hình thức di chúc miệng được thừa nhận từ rất sớm trong các văn bản quy phạm pháp luật và được kế thừa cho đến nay như: Bộ luật Hồng Đức, Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và đặc biệt Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn tiếp tục thừa nhận hình thức di chúc miệng và có những điểm tiến bộ rõ nét so với các văn bản trước đó.

1. Khái niệm di chúc miệng

Di chúc miệng là một loại hình thức di chúc được pháp luật Việt Nam thừa nhận, nhưng nhà làm luật lại chưa đưa ra khái niệm về di chúc miệng. Theo dân gian, di chúc miệng còn có tên gọi là “chúc ngôn” hoặc “di ngôn” để chỉ sự thể hiện ý chí của người lập di chúc thông qua lời nói trong những trường hợp đặc biệt. Thông thường di chúc miệng là những lời “trăn trối” hay “dặn dò” của người sắp chết cho những người còn sống thực hiện ý nguyện cuối cùng của mình về những vấn đề liên quan đến tài sản như: Phân chia di sản, chỉ định người hưởng di sản, truất quyền hưởng di sản, di sản thờ cúng, di tặng… để những người còn sống có thể căn cứ theo đó mà thực hiện.

Từ đó, ta có thể khái quát: “Di chúc miệng là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản thừa kế lúc còn sống trong việc định đoạt khối di sản của mình cho người khác”[1] hay “di chúc thể hiện ý chí của người để lại di sản thông qua lời nói nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho chủ thể khác sau khi chết”[2]. Đây là hình thức di chúc đặc biệt chỉ được lập trong những trường hợp nhất định khi cá nhân không thể lập được di chúc bằng văn bản.

2. Một số điểm mới về di chúc miệng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Thứ nhất, người lập di chúc miệng

Di chúc miệng không phải được lập một cách tùy tiện mà phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Trong đó, điều kiện quan trọng nhất là người lập di chúc phải có quyền lập di chúc miệng. Quyền lập di chúc miệng của cá nhân chỉ phát sinh khi cá nhân đó thuộc trường hợp đặc biệt như luật định.

Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”. Vậy, người lập di chúc miệng phải đang trong tình trạng tính mạng “bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc nguyên nhân khác”. Bàn về tình trạng người lập di chúc “tính mạng bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc nguyên nhân khác”. Ngoài nguyên nhân cái chết đe dọa do bệnh tật thì pháp luật cũng dự liệu những trường hợp khác đe dọa tính mạng của người di chúc miệng, nhưng nhà làm luật chưa có văn bản giải thích cụ thể “nguyên nhân khác” là nguyên nhân nào? Nguyên nhân đó phải thỏa mãn điều kiện gì? Như vậy, chỉ cần nhận định được lý do có thể khiến người di chúc miệng bị đe dọa tính mạng đều phát sinh quyền lập di chúc miệng, cho nên quy định “nguyên nhân khác” là không cần thiết.

Khoản 1 Điều 637 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sửa đổi về tình trạng của người lập di chúc miệng như sau: “Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng”. Như vậy, theo quy định này thì cá nhân rơi vào tình trạng “tính mạng bị cái chết đe dọa” mà không xem xét đến nguyên nhân gây ra tình trạng đó thì có thể lập di chúc miệng. Sự sửa đổi này thể hiện sự tiến bộ của Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định này hợp lý, ngắn gọn, dễ hiểu và tránh sự nhầm lẫn, lúng túng khi áp dụng pháp luật.

Thứ hai, ghi chép lại di chúc miệng

Di chúc miệng được lập khi người lập di chúc đang trong tình trạng nguy kịch tính mạng, thông thường sau khi để lại di nguyện cuối cùng thì người di chúc miệng chết nên không thể đối chứng. Theo tâm lý học, khả năng ghi nhớ thông tin của con người là có giới hạn, vì vậy, để phòng ngừa trường hợp người làm chứng sẽ quên hoặc nhớ không chính xác di nguyện của người chết nên pháp luật dân sự quy định di chúc miệng phải được ghi chép lại trong một khoảng thời gian hợp lý để bảo đảm tính chính xác, khách quan. Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề này như sau:

Theo khoản 5 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và “ngay sau đó” những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ”; khoản 5 Điều 638 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và “ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại”, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.

Về cơ bản, nội dung của hai điều khoản trên quy định tương tự nhau nhưng có sự khác nhau về mặt thuật ngữ pháp lý về việc ghi chép lại di chúc miệng:

- Thời điểm ghi chép lại di chúc miệng:

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định khi người lập di chúc miệng thể hiện ý chí trước mặt ít nhất hai người làm chứng và “ngay sau đó” di chúc phải được ghi chép lại. Thuật ngữ “ngay sau đó” đã phát sinh nhiều bất cập trong việc hiểu và áp dụng pháp luật, tạo cách hiểu chưa thống nhất là phải ghi chép lại ngay tức khắc hay phải được ghi chép lại trong một thời gian hợp lý. Cách hiểu thứ nhất, việc ghi chép lại di chúc miệng đi liền sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng mới được chấp nhận. Nếu di chúc không được ghi chép lại ngay (thường cùng ngày với ngày nghe được ý chí cuối cùng của người lập di chúc), thì sẽ không có giá trị pháp lý. Cách hiểu thứ hai, ngay sau đó được hiểu một cách rộng hơn là khoảng thời gian hợp lý, di chúc miệng có thể được ghi chép lại trong vòng 05 ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí sau cùng tương đương với thời hạn đi công chứng di chúc.

Trong thực tiễn xét xử thì Tòa án cũng xử lý vụ việc theo cách hiểu thứ nhất như trong vụ án “Bản án số 2408/2005/DS-ST ngày 03/11/2005 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh[3]: Ông Nam chết ngày 06/02/2002 có lập di chúc miệng trước mặt hai người làm chứng là bà Hương, bà Lang với nội dung để lại nhà và xe cho bà Tỵ, bà Linh. Bà Lang viết khảo tờ di chúc bản chính, hôm sau bà viết lại giao cho bà Linh. Tòa án các cấp không chấp nhận di chúc viết lại. Sau đó, bà Linh, bà Tỵ xuất trình thêm tờ di chúc ghi ngày 06/02/2002 và khai là bản chính nhưng cũng không được Tòa án chấp nhận. Tòa án không chấp nhận cả hai bản di chúc vì không có căn cứ cho rằng di chúc miệng được viết ngay lúc ông Nam thể hiện ý chí”.

Đối với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 “và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ” đã khẳng định việc ghi chép lại phải được thực hiện ngay theo cách hiểu thứ nhất, tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Sự thay đổi là điều cần thiết và hợp lý nâng cao tính chặt chẽ của pháp luật.

- Người ghi chép lại di chúc miệng:

Pháp luật quy định di chúc miệng phải được ghi chép lại. Vậy ai là người ghi chép lại thì Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có sự khác biệt. Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “những người làm chứng ghi chép lại”, còn theo Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “người làm chứng ghi chép lại”.

Về chủ thể ghi chép lại di chúc miệng không thay đổi đó là người làm chứng, nhưng người làm chứng cho di chúc miệng có từ hai người trở lên, vậy ai sẽ là người ghi chép lại trong những người làm chứng, hay tất cả những người làm chứng phải cùng ghi chép lại di chúc miệng, thì cả hai cách quy định trên vẫn chưa trả lời rõ ràng vấn đề này. Tuy nhiên, cách quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 bỏ đi từ “những” tạo nên cách hiểu có thể một trong những người làm chứng ghi chép lại di chúc miệng vẫn coi là hợp pháp, còn cách quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 dễ gây hiểu theo hướng nhiều người cùng ghi chép lại di chúc miệng, nhưng nếu nhiều người cùng ghi chép lại di chúc miệng sẽ dễ làm di chúc khó hiểu, không mạch lạc, không thống nhất về chữ viết và cách diễn đạt.

Thứ ba, công chứng, chứng thực di chúc miệng

Sau khi di chúc miệng đã được người làm chứng ghi chép lại và cùng ký tên hoặc điểm chỉ vẫn chưa có giá trị pháp lý mà di chúc đó phải được mang đi công chứng hoặc chứng thực. Khoản 2 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “… Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”. Vấn đề về công chứng, chứng thực di chúc miệng là một trong những vấn đề bất cập nhất của Bộ luật Dân sự năm 2005 về di chúc miệng, quy định này chưa rõ ràng nên phát sinh nhiều vấn đề pháp lý liên quan, dẫn đến di chúc miệng được lập không thể phát sinh hiệu lực trên thực tế: Thẩm quyền của công chứng viên trong chứng thực di chúc; Luật Công chứng năm 2014 không quy định thủ tục công chứng di chúc miệng dẫn đến trường hợp công chứng viên từ chối công chứng di chúc miệng, vì vậy, công chứng viên còn rất lúng túng về thủ tục công chứng, chứng thực di chúc miệng; khi công chứng di chúc miệng thì sẽ công chứng về vấn đề nào, nội dung di chúc miệng hay chỉ xác nhận có tồn tại bản di chúc miệng hay xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của những người làm chứng di chúc miệng?

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có điểm tiến bộ khi quy định rõ thẩm quyền của công chứng viên trong việc công chứng, chứng thực di chúc miệng tại khoản 5 Điều 638: “Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”. Bằng quy định này, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xác định rõ công chứng viên có thẩm quyền xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng và quy định này là hợp lý (vì công chứng viên không thể nào chứng thực được nội dung của di chúc) tạo căn cứ pháp lý cho công chứng viên, cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ của mình.

Từ những phân tích trên có thể thấy, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề di chúc miệng có sự tiến bộ so với Bộ luật Dân sự năm 2005 khi quy định rõ ràng, dễ hiểu, khắc phục một số hạn chế, bất cập, tuy nhiên vẫn chưa tạo được bước tiến quan trọng để hoàn thiện pháp luật về di chúc miệng.

ThS. Lê Đức Hiền, Trường Đại học Quy Nhơn

ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân, Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp


[1] Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 1), Nxb. Công an nhân dân, tr. 334.

[2] Đỗ Văn Đại (2012), Luật Thừa Kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 565.

[3] Đỗ Văn Đại (2012), Luật Thừa Kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị Quốc gia.tr. 551.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: