Thứ hai 22/06/2026 07:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số điểm mới về di chúc miệng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Tóm tắt: Chế định thừa kế là một chế định quan trọng và có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống dân sự của cá nhân. Các quy định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có những điểm khác biệt cơ bản so với Bộ luật Dân sự năm 2005. Riêng đối với phần di chúc miệng thì Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có một số thay đổi, khắc phục những bất cập, thiếu sót. Thông qua bài viết này, trên cơ sở so sánh các quy định về “di chúc miệng” giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015, chúng tôi chỉ ra một số điểm mới về di chúc miệng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Abstract: Inheritance is an important institution and has a strong influence on the inpidual's personal life. The provisions on inheritance under the Civil Code 2015 are fundamentally different from the 2005 Civil Code. Particularly for the oral testament, the new Civil Code has made some changes, In this article, on the basis of a comparison of “oral testimony” provisions under the 2005 Civil Code and the Civil Code 2015, we point out some new points in this article. Goodwill according to the provisions of the Civil Code 2015.

Quyền lập di chúc là một quyền dân sự cơ bản của cá nhân. Vì vậy, cá nhân có tài sản đáp ứng được những điều kiện pháp luật quy định có quyền lập di chúc. Theo quy định của pháp luật dân sự thì cá nhân có quyền lập di chúc dưới hai hình thức là di chúc bằng văn bản và di chúc miệng. Trong đó, hình thức di chúc miệng được thừa nhận từ rất sớm trong các văn bản quy phạm pháp luật và được kế thừa cho đến nay như: Bộ luật Hồng Đức, Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và đặc biệt Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn tiếp tục thừa nhận hình thức di chúc miệng và có những điểm tiến bộ rõ nét so với các văn bản trước đó.

1. Khái niệm di chúc miệng

Di chúc miệng là một loại hình thức di chúc được pháp luật Việt Nam thừa nhận, nhưng nhà làm luật lại chưa đưa ra khái niệm về di chúc miệng. Theo dân gian, di chúc miệng còn có tên gọi là “chúc ngôn” hoặc “di ngôn” để chỉ sự thể hiện ý chí của người lập di chúc thông qua lời nói trong những trường hợp đặc biệt. Thông thường di chúc miệng là những lời “trăn trối” hay “dặn dò” của người sắp chết cho những người còn sống thực hiện ý nguyện cuối cùng của mình về những vấn đề liên quan đến tài sản như: Phân chia di sản, chỉ định người hưởng di sản, truất quyền hưởng di sản, di sản thờ cúng, di tặng… để những người còn sống có thể căn cứ theo đó mà thực hiện.

Từ đó, ta có thể khái quát: “Di chúc miệng là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản thừa kế lúc còn sống trong việc định đoạt khối di sản của mình cho người khác”[1] hay “di chúc thể hiện ý chí của người để lại di sản thông qua lời nói nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho chủ thể khác sau khi chết”[2]. Đây là hình thức di chúc đặc biệt chỉ được lập trong những trường hợp nhất định khi cá nhân không thể lập được di chúc bằng văn bản.

2. Một số điểm mới về di chúc miệng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Thứ nhất, người lập di chúc miệng

Di chúc miệng không phải được lập một cách tùy tiện mà phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Trong đó, điều kiện quan trọng nhất là người lập di chúc phải có quyền lập di chúc miệng. Quyền lập di chúc miệng của cá nhân chỉ phát sinh khi cá nhân đó thuộc trường hợp đặc biệt như luật định.

Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”. Vậy, người lập di chúc miệng phải đang trong tình trạng tính mạng “bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc nguyên nhân khác”. Bàn về tình trạng người lập di chúc “tính mạng bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc nguyên nhân khác”. Ngoài nguyên nhân cái chết đe dọa do bệnh tật thì pháp luật cũng dự liệu những trường hợp khác đe dọa tính mạng của người di chúc miệng, nhưng nhà làm luật chưa có văn bản giải thích cụ thể “nguyên nhân khác” là nguyên nhân nào? Nguyên nhân đó phải thỏa mãn điều kiện gì? Như vậy, chỉ cần nhận định được lý do có thể khiến người di chúc miệng bị đe dọa tính mạng đều phát sinh quyền lập di chúc miệng, cho nên quy định “nguyên nhân khác” là không cần thiết.

Khoản 1 Điều 637 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sửa đổi về tình trạng của người lập di chúc miệng như sau: “Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng”. Như vậy, theo quy định này thì cá nhân rơi vào tình trạng “tính mạng bị cái chết đe dọa” mà không xem xét đến nguyên nhân gây ra tình trạng đó thì có thể lập di chúc miệng. Sự sửa đổi này thể hiện sự tiến bộ của Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định này hợp lý, ngắn gọn, dễ hiểu và tránh sự nhầm lẫn, lúng túng khi áp dụng pháp luật.

Thứ hai, ghi chép lại di chúc miệng

Di chúc miệng được lập khi người lập di chúc đang trong tình trạng nguy kịch tính mạng, thông thường sau khi để lại di nguyện cuối cùng thì người di chúc miệng chết nên không thể đối chứng. Theo tâm lý học, khả năng ghi nhớ thông tin của con người là có giới hạn, vì vậy, để phòng ngừa trường hợp người làm chứng sẽ quên hoặc nhớ không chính xác di nguyện của người chết nên pháp luật dân sự quy định di chúc miệng phải được ghi chép lại trong một khoảng thời gian hợp lý để bảo đảm tính chính xác, khách quan. Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề này như sau:

Theo khoản 5 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và “ngay sau đó” những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ”; khoản 5 Điều 638 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và “ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại”, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.

Về cơ bản, nội dung của hai điều khoản trên quy định tương tự nhau nhưng có sự khác nhau về mặt thuật ngữ pháp lý về việc ghi chép lại di chúc miệng:

- Thời điểm ghi chép lại di chúc miệng:

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định khi người lập di chúc miệng thể hiện ý chí trước mặt ít nhất hai người làm chứng và “ngay sau đó” di chúc phải được ghi chép lại. Thuật ngữ “ngay sau đó” đã phát sinh nhiều bất cập trong việc hiểu và áp dụng pháp luật, tạo cách hiểu chưa thống nhất là phải ghi chép lại ngay tức khắc hay phải được ghi chép lại trong một thời gian hợp lý. Cách hiểu thứ nhất, việc ghi chép lại di chúc miệng đi liền sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng mới được chấp nhận. Nếu di chúc không được ghi chép lại ngay (thường cùng ngày với ngày nghe được ý chí cuối cùng của người lập di chúc), thì sẽ không có giá trị pháp lý. Cách hiểu thứ hai, ngay sau đó được hiểu một cách rộng hơn là khoảng thời gian hợp lý, di chúc miệng có thể được ghi chép lại trong vòng 05 ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí sau cùng tương đương với thời hạn đi công chứng di chúc.

Trong thực tiễn xét xử thì Tòa án cũng xử lý vụ việc theo cách hiểu thứ nhất như trong vụ án “Bản án số 2408/2005/DS-ST ngày 03/11/2005 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh[3]: Ông Nam chết ngày 06/02/2002 có lập di chúc miệng trước mặt hai người làm chứng là bà Hương, bà Lang với nội dung để lại nhà và xe cho bà Tỵ, bà Linh. Bà Lang viết khảo tờ di chúc bản chính, hôm sau bà viết lại giao cho bà Linh. Tòa án các cấp không chấp nhận di chúc viết lại. Sau đó, bà Linh, bà Tỵ xuất trình thêm tờ di chúc ghi ngày 06/02/2002 và khai là bản chính nhưng cũng không được Tòa án chấp nhận. Tòa án không chấp nhận cả hai bản di chúc vì không có căn cứ cho rằng di chúc miệng được viết ngay lúc ông Nam thể hiện ý chí”.

Đối với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 “và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ” đã khẳng định việc ghi chép lại phải được thực hiện ngay theo cách hiểu thứ nhất, tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Sự thay đổi là điều cần thiết và hợp lý nâng cao tính chặt chẽ của pháp luật.

- Người ghi chép lại di chúc miệng:

Pháp luật quy định di chúc miệng phải được ghi chép lại. Vậy ai là người ghi chép lại thì Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có sự khác biệt. Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “những người làm chứng ghi chép lại”, còn theo Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “người làm chứng ghi chép lại”.

Về chủ thể ghi chép lại di chúc miệng không thay đổi đó là người làm chứng, nhưng người làm chứng cho di chúc miệng có từ hai người trở lên, vậy ai sẽ là người ghi chép lại trong những người làm chứng, hay tất cả những người làm chứng phải cùng ghi chép lại di chúc miệng, thì cả hai cách quy định trên vẫn chưa trả lời rõ ràng vấn đề này. Tuy nhiên, cách quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 bỏ đi từ “những” tạo nên cách hiểu có thể một trong những người làm chứng ghi chép lại di chúc miệng vẫn coi là hợp pháp, còn cách quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 dễ gây hiểu theo hướng nhiều người cùng ghi chép lại di chúc miệng, nhưng nếu nhiều người cùng ghi chép lại di chúc miệng sẽ dễ làm di chúc khó hiểu, không mạch lạc, không thống nhất về chữ viết và cách diễn đạt.

Thứ ba, công chứng, chứng thực di chúc miệng

Sau khi di chúc miệng đã được người làm chứng ghi chép lại và cùng ký tên hoặc điểm chỉ vẫn chưa có giá trị pháp lý mà di chúc đó phải được mang đi công chứng hoặc chứng thực. Khoản 2 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “… Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”. Vấn đề về công chứng, chứng thực di chúc miệng là một trong những vấn đề bất cập nhất của Bộ luật Dân sự năm 2005 về di chúc miệng, quy định này chưa rõ ràng nên phát sinh nhiều vấn đề pháp lý liên quan, dẫn đến di chúc miệng được lập không thể phát sinh hiệu lực trên thực tế: Thẩm quyền của công chứng viên trong chứng thực di chúc; Luật Công chứng năm 2014 không quy định thủ tục công chứng di chúc miệng dẫn đến trường hợp công chứng viên từ chối công chứng di chúc miệng, vì vậy, công chứng viên còn rất lúng túng về thủ tục công chứng, chứng thực di chúc miệng; khi công chứng di chúc miệng thì sẽ công chứng về vấn đề nào, nội dung di chúc miệng hay chỉ xác nhận có tồn tại bản di chúc miệng hay xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của những người làm chứng di chúc miệng?

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có điểm tiến bộ khi quy định rõ thẩm quyền của công chứng viên trong việc công chứng, chứng thực di chúc miệng tại khoản 5 Điều 638: “Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”. Bằng quy định này, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xác định rõ công chứng viên có thẩm quyền xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng và quy định này là hợp lý (vì công chứng viên không thể nào chứng thực được nội dung của di chúc) tạo căn cứ pháp lý cho công chứng viên, cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ của mình.

Từ những phân tích trên có thể thấy, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề di chúc miệng có sự tiến bộ so với Bộ luật Dân sự năm 2005 khi quy định rõ ràng, dễ hiểu, khắc phục một số hạn chế, bất cập, tuy nhiên vẫn chưa tạo được bước tiến quan trọng để hoàn thiện pháp luật về di chúc miệng.

ThS. Lê Đức Hiền, Trường Đại học Quy Nhơn

ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân, Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp


[1] Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 1), Nxb. Công an nhân dân, tr. 334.

[2] Đỗ Văn Đại (2012), Luật Thừa Kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 565.

[3] Đỗ Văn Đại (2012), Luật Thừa Kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị Quốc gia.tr. 551.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.

Theo dõi chúng tôi trên: