Thứ tư 04/03/2026 08:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số điểm tiến bộ của luật doanh nghiệp năm 2020 trong quy định về doanh nghiệp nhà nước

Một số điểm tiến bộ của luật doanh nghiệp năm 2020 trong quy định về doanh nghiệp nhà nước

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích, đánh giá làm rõ một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 trong quy định về doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở so sánh với Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Abstract: The article focuses on analyzing, evaluating and clarifying a number of new points of the 2020 Enterprise Law in the regulations on state-owned enterprises on the basis of comparison with the 2014 Enterprise Law.

1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước

Trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có sự thay đổi về khái niệm doanh nghiệp nhà nước (DNNN) so với Luật Doanh nghiệp năm 2014. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”[1], tuy nhiên, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì “Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 của Luật này”[2]. Như vậy, theo cách định nghĩa của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì DNNN được hiểu là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ nhưng theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì khái niệm DNNN đã được sửa đổi theo nguyên tắc phân chia các loại doanh nghiệp có sở hữu nhà nước theo mức độ sở hữu khác nhau. Cụ thể, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã xác định rõ DNNN gồm:

(i) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Theo đó, những doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ trong trường hợp này bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

(ii) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Theo đó, những doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trong trường hợp này bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

Như vậy, với cách định nghĩa của Luật Doanh nghiệp năm 2020, để được xem là DNNN thì doanh nghiệp này phải do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Sự thay đổi trong cách quy định về khái niệm DNNN này vừa phù hợp, bám sát với tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 12-NQ/TW về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước[3], vừa đa dạng hóa các loại hình DNNN để thu hút các nhà đầu tư chiến lược với nguồn vốn dồi dào cũng như góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả hơn việc sử dụng vốn nhà nước trong các DNNN. Bởi, khi Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ sẽ cho phép DNNN hoạt động dưới các loại hình đa dạng hơn bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty cổ phần[4]. Điều này sẽ giúp DNNN có cơ hội thực hiện các kênh huy động vốn đa dạng, tiếp cận nhanh chóng các nguồn lực từ khu vực tư nhân để thực hiện và phát triển các mục tiêu của doanh nghiệp. Đồng thời, việc giữ tỷ lệ sở hữu trên 50% vốn điều lệ cũng đã đủ bảo đảm quyền chi phối trực tiếp việc ra các quyết định thông thường (chỉ yêu cầu tỷ lệ trên 50%) và chi phối gián tiếp việc ra một số các quyết định khác (yêu cầu tỷ lệ 65%) của DNNN.

2. Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên

So với Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bỏ quy định thành viên Hội đồng thành viên phải làm việc theo chế độ chuyên trách[5]. Đồng thời, thay vào đó “trừ Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc, Tổng giám đốc công ty đó hoặc công ty khác không phải là doanh nghiệp thành viên theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu”[6]. Việc Luật Doanh nghiệp năm 2020 bỏ đi quy định thành viên Hội đồng thành viên tại các DNNN phải làm việc theo chế độ chuyên trách là cần thiết bởi quy định này không rõ ràng, khó áp dụng thống nhất trên thực tế[7]. Ngoài ra, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, về nguyên tắc, một cá nhân sẽ được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc thành viên Hội đồng thành viên tại các DNNN với thời hạn không quá 05 năm và không quá 02 nhiệm kỳ tại một công ty nhưng nếu cá nhân này đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty đó trước khi được bổ nhiệm lần đầu thì sẽ không bị ràng buộc bởi quy định giới hạn 02 nhiệm kỳ. Đây là điểm mới và tiến bộ của Luật Doanh nghiệp năm 2020 so với Luật Doanh nghiệp năm 2014, quy định này giúp tận dụng, phát huy được năng lực của những nhân sự có nhiều gắn bó, cống hiến tại doanh nghiệp.

Về tiêu chuẩn và điều kiện đối với thành viên Hội đồng thành viên tại DNNN, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã quy định bổ sung thêm các đối tượng không được xem xét bổ nhiệm vào Hội đồng thành viên. Theo đó, ngoài các trường hợp được quy định tại Điều 92 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì những đối tượng thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng sẽ không được bổ nhiệm vào vị trí thành viên Hội đồng thành viên tại các DNNN. Việc Luật Doanh nghiệp năm 2020 mở rộng thêm các đối tượng nêu trên không được xem xét bổ nhiệm vào vị trí thành viên Hội đồng thành viên tại các DNNN là cần thiết, bởi điều này giúp loại bỏ được những trường hợp không đáp ứng được các tiêu chuẩn, năng lực, sức khỏe hoặc có khả năng mang lại những nguy cơ rủi ro cho DNNN nếu để họ tham gia vào việc quản lý, điều hành các doanh nghiệp này. Ngoài ra, về vấn đề cách chức Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng thành viên, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng quy định rõ đối với trường hợp Chủ tịch hoặc thành viên khác của Hội đồng thành viên bị truy tố và bị buộc tội thì người này chỉ bị cách chức khi bị Tòa án kết án và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật[8]. Cách quy định này cụ thể, rõ ràng, hợp lý và thuyết phục hơn so với cách quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014[9] bởi một người chỉ được xem là có tội khi có quyết định hoặc bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

3. Chủ tịch công ty

Chế định Chủ tịch công ty được ghi nhận trong mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, Chủ tịch công ty tại các DNNN do cơ quan đại diện chủ sở hữu bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, có nhiệm kỳ không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại. Mỗi cá nhân chỉ được bổ nhiệm vào vị trí Chủ tịch công ty không quá 02 nhiệm kỳ, tuy nhiên điều này không áp dụng đối với trường hợp người được bổ nhiệm đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty đó trước khi được bổ nhiệm lần đầu[10]. Việc Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định không giới hạn 02 nhiệm kỳ đối với người được bổ nhiệm đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty đó trước khi được bổ nhiệm lần đầu là một quy định mới và tiến bộ so với Luật Doanh nghiệp năm 2014. Bởi quy định này cho phép DNNN tận dụng và phát huy năng lực của những nhân sự có nhiều gắn bó, cống hiến tại doanh nghiệp. Hơn nữa, con số 15 năm là khoảng thời gian đủ lâu để một người tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng trong công việc cũng như chứng minh sự tận tụy, trung thành vì lợi ích của doanh nghiệp và có thể giao nhiệm vụ quản lý doanh nghiệp trong nhiều nhiệm kỳ nếu họ vẫn tiếp tục được tín nhiệm.

Bên cạnh đó, theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, Chủ tịch công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ngoài thực hiện các trách nhiệm được quy định tại Điều 83 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì còn phải có trách nhiệm thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho chủ sở hữu công ty về doanh nghiệp mà mình làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối và doanh nghiệp mà người có liên quan của mình làm chủ, cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phần, phần vốn góp chi phối[11]. Điều này khác so với Luật Doanh nghiệp năm 2014, bởi tại khoản 4 Điều 83 Luật Doanh nghiệp năm 2014 chỉ quy định, Chủ tịch công ty có trách nhiệm: “Thông báo kịp thời, đầy đủ và chính xác cho công ty về doanh nghiệp mà họ và người có liên quan của họ làm chủ sở hữu hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối”. Việc Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định bắt buộc Chủ tịch công ty phải có trách nhiệm thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho chủ sở hữu công ty theo như quy định tại khoản 4 Điều 83 Luật Doanh nghiệp 2020 là một quy định mới so với Luật Doanh nghiệp năm 2014. Quy định này bảo đảm sự quản lý, giám sát kịp thời, hiệu quả của chủ sở hữu đối với DNNN cũng như Chủ tịch công ty, từ đó giúp xác định, kiểm soát và hạn chế được các vấn đề rủi ro, thất thoát có khả năng xảy ra tại DNNN trước các nguy cơ bị chi phối từ những mối quan hệ có liên quan.

4. Giám đốc, Tổng giám đốc

Giám đốc, Tổng giám đốc có vị trí quan trọng trong việc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Để nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có quy định về tiêu chuẩn và điều kiện để một người được bổ nhiệm làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc DNNN.

So với Luật Doanh nghiệp năm 2014, các tiêu chí và điều kiện để xem xét bổ nhiệm một người vào vị trí Giám đốc hoặc Tổng giám đốc về cơ bản là giống với các tiêu chuẩn, điều kiện được quy định cụ thể trong Luật Doanh nghiệp năm 2014[12]. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có sự quy định mở rộng hơn về các đối tượng không được xem xét bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Theo đó, ngoài các đối tượng được quy định tại Điều 100 Luật Doanh nghiệp năm 2014; đối tượng là người có quan hệ gia đình của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Phó Tổng giám đốc, Phó giám đốc và kế toán trưởng của công ty, kiểm soát viên công ty; Luật Doanh nghiệp năm 2020 còn bổ sung thêm những đối tượng thuộc trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng không được xem xét bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc hoặc Tổng giám đốc tại các DNNN. Việc Luật Doanh nghiệp năm 2020 mở rộng thêm các đối tượng không thuộc trường hợp được xem xét bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc hoặc Tổng giám đốc như trên là cần thiết, bởi điều này giúp sàng lọc, lựa chọn được những ứng cử viên đáp ứng được các tiêu chuẩn, năng lực, sức khỏe để bảo đảm việc điều hành doanh nghiệp hiệu quả trên cơ sở hạn chế được những rủi ro tiềm ẩn có khả năng xảy ra.

5. Thành viên Hội đồng quản trị

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và công ty con của DNNN tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần, ngoài những điều kiện được quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 155 thì còn đòi hỏi thành viên Hội đồng quản trị không được là người có quan hệ gia đình của Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty; của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ[13]. Như vậy, theo nội dung quy định này, để đáp ứng tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị tại các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và công ty con của DNNN dưới hình thức công ty cổ phần thì đòi hỏi ứng viên không phải là vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, con đẻ, con nuôi, con rể, con dâu, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu, anh ruột của vợ, anh ruột của chồng, chị ruột của vợ, chị ruột của chồng, em ruột của vợ, em ruột của chồng của Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty, hoặc của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ. Từ quy định trên, có thể thấy rằng, so với Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có sự quy định mở rộng hơn về đối tượng được xem là người có quan hệ gia đình, theo đó, đối tượng được xem là người có quan hệ gia đình không chỉ là vợ, chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu mà còn bao gồm cả các đối tượng là bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, con rể, con dâu, anh ruột của vợ, anh ruột của chồng, chị ruột của vợ, chị ruột của chồng, em ruột của vợ, em ruột của chồng. Thực tế, thời gian qua đã xảy ra trường hợp các đối tượng tận dụng kẽ hở của pháp luật trong việc chưa bao quát hết những người được xem là có quan hệ gia đình để xác lập, thực hiện các hợp đồng, giao dịch gây thất thoát cho DNNN. Vì vậy, việc mở rộng thêm các đối tượng được xem là người có quan hệ gia đình trong trường hợp này là cần thiết và phù hợp, bởi điều này sẽ giúp hạn chế được tình trạng thành viên Hội đồng quản trị nói riêng và người đóng vai trò quản lý nói chung có thể thông đồng với những người có quan hệ gia đình nêu trên để trục lợi hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực đến DNNN.

6. Ban kiểm soát; tiêu chuẩn, điều kiện của kiểm soát viên và Trưởng Ban kiểm soát

Ban kiểm soát đóng vai trò quan trọng và là một bộ phận không thể thiếu trong các DNNN với chức năng là giám sát công việc quản lý, điều hành tại các doanh nghiệp này. So với Luật Doanh nghiệp năm 2014, vấn đề thành lập Ban kiểm soát được quy định trong Chương IV về DNNN của Luật Doanh nghiệp năm 2020 có sự thay đổi nhất định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì: “Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định bổ nhiệm 01 kiểm soát viên hoặc thành lập Ban kiểm soát gồm 03 đến 05 kiểm soát viên. Nhiệm kỳ kiểm soát viên không quá 05 năm và được bổ nhiệm lại nhưng mỗi cá nhân chỉ được bổ nhiệm làm kiểm soát viên của một công ty không quá 02 nhiệm kỳ”. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì: “Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập Ban kiểm soát có từ 01 đến 05 kiểm soát viên, trong đó có Trưởng Ban kiểm soát. Nhiệm kỳ kiểm soát viên không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 02 nhiệm kỳ liên tục tại công ty đó. Trường hợp Ban kiểm soát chỉ có 01 kiểm soát viên thì kiểm soát viên đó đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát”. Như vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã quy định bắt buộc phải thành lập Ban kiểm soát và Ban này có thể có từ 01 đến 05 kiểm soát viên và không còn áp dụng cơ chế như Luật Doanh nghiệp năm 2014 đưa ra đó là có thể bổ nhiệm 01 kiểm soát viên hoặc thành lập Ban kiểm soát từ 03 đến 05 kiểm soát viên.

Đặc biệt, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có sự quy định cụ thể, rõ ràng hơn về vấn đề thành lập Ban kiểm soát đối với các loại hình DNNN. Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật Doanh nghiệp năm 2020, đối với DNNN tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thì bắt buộc phải thành lập Ban kiểm soát[14]. Ban kiểm soát có từ 01 đến 05 kiểm soát viên, nhiệm kỳ kiểm soát viên không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại. Trường hợp Ban kiểm soát chỉ có 01 kiểm soát viên thì kiểm soát viên đó đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát. Bên cạnh đó, đối với DNNN tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cũng bắt buộc phải thành lập Ban kiểm soát. Cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc, tiêu chuẩn, điều kiện, miễn nhiệm, bãi nhiệm, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Ban kiểm soát trong mô hình DNNN này sẽ được thực hiện tương ứng theo quy định tại Điều 65 Luật Doanh nghiệp năm 2020[15]. Đây là những quy định mới so với Luật Doanh nghiệp năm 2014 và phù hợp với yêu cầu đổi mới tổ chức quản trị, kiểm soát DNNN. Quy định này đã khẳng định vai trò của Ban kiểm soát trong quá trình kiểm tra, giám sát hoạt động của DNNN, từ đó góp phần bảo đảm yêu cầu quản trị chặt chẽ nhằm kiểm soát được các vấn đề rủi ro có thể xảy ra tại các doanh nghiệp này. Tương tự, đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và công ty con của DNNN tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần cũng phải thành lập Ban kiểm soát theo như quy định tại Chương V của Luật Doanh nghiệp năm 2020. Tuy nhiên, so với Luật Doanh nghiệp năm 2014, đối với kiểm soát viên trong công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, Luật Doanh nghiệp năm 2020 không yêu cầu bắt buộc phải là kiểm toán viên hoặc kế toán viên. Điều này là hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ, nếu yêu cầu kiểm soát viên trong công ty do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ phải là kiểm toán viên hoặc kế toán viên sẽ không phù hợp vì thực tế, để tìm được đủ số lượng thành viên Ban kiểm soát là kiểm toán viên hoặc kế toán viên là điều không hề dễ dàng đối với doanh nghiệp. Hơn nữa, hiện nay, hầu hết những người có trình độ chuyên môn về kế toán viên hoặc kiểm toán viên thường hướng đến việc lựa chọn hành nghề trong các đơn vị kiểm toán hơn là làm kiểm soát viên, do đó, đã gây ra rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thành lập Ban kiểm soát trên cơ sở đáp ứng được yêu cầu của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Chính vì vậy, việc Luật Doanh nghiệp năm 2020 sửa đổi lại điều kiện này theo hướng chỉ yêu cầu về điều kiện chuyên môn tương đương với kiểm toán viên hoặc kế toán viên, mà không đòi hỏi là người đã có chứng chỉ hành nghề là điều cần thiết, vừa giúp doanh nghiệp giải quyết khó khăn nêu trên, lại không làm giảm hiệu lực của quy định do vẫn phải đáp ứng yêu cầu về chuyên môn.

ThS. Đỗ Thị Lan Anh

Trường Đại học Hùng Vương, TP. Hồ Chí Minh;

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết;

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

[1]. Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[2]. Khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[3]. Nguyễn Diệp, “Sở hữu 50% vốn điều lệ, nhà nước sẽ mất quyết chi phối trong doanh nghiệp”, https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/so-huu-50-von-dieu-le-nha-nuoc-se-mat-quyen-chi-phoi-trong-dnnn-d13226.html, truy cập ngày 28/02/2023.

[4]. Điều 89 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[5]. Khoản 2 Điều 90 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[6]. Khoản 5 Điều 93 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[7]. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, “Bản thuyết minh chi tiết về dự án Luật Doanh nghiệp sửa đổi ban hành kèm theo Báo cáo số 7900/BC-BKHĐT ngày 25/10/2019”, tr. 28.

[8]. Điểm b khoản 2 Điều 94 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[9]. Điểm b khoản 2 Điều 93 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[10]. Khoản 1 Điều 99 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[11]. Khoản 4 Điều 83 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[12]. Điều 100 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[13]. Điểm d khoản 1 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[14]. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 54 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 của Luật này và công ty con của doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Luật này phải thành lập Ban kiểm soát; các trường hợp khác do công ty quyết định”.

[15]. Khoản 2 Điều 79 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: