Thứ năm 12/03/2026 01:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp ở thành phố Hà Nội

Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp cũng như lộ trình nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.


Abstract: This article examines and makes some solutions as well as itinerary for strengthening socialization of judicial expertise operation in the Hanoi City in the coming time.

Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, hoạt động giám định tư pháp ngày càng đi vào nền nếp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động tố tụng. Đối với công tác quản lý, nhiều sở, ngành đã quan tâm hơn đến việc triển khai, thực hiện Luật Giám định tư pháp năm 2012, Đề án 258. Ngay sau khi Luật Giám định tư pháp có hiệu lực, Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội ban hành Kế hoạch số 67/KH-UBND ngày 22/4/2013 về việc triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp trên địa bàn. Sở Tư pháp - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Đề án 258 của thành phố chủ trì, phối hợp với các sở, ngành có liên quan xây dựng, trình Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội ban hành Quyết định số 111/QĐ-UBND ngày 12/01/2015 về Quy chế phối hợp trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp trên địa bàn. Ngày 01/8/2016, Hội đồng nhân dân TP. Hà Nộ đã thông qua Nghị quyết về hỗ trợ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, người giúp việc cho giám định viên tư pháp. Chế độ hỗ trợ được thực hiện sẽ góp phần động viên, khích lệ người làm công tác giám định trên địa bàn thành phố, tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp.

Tuy nhiên, để việc xã hội hóa giám định tư pháp được đẩy mạnh hơn nữa, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình hội nhập và phù hợp với thông lệ quốc tế, cần thiết phải có những giải pháp tháo gỡ khó khăn, hạn chế trong quá trình xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội.

1. Những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế

Đối với các cơ quan Trung ương, để bảo đảm thực hiện chủ trương xã hội hóa giám định tư pháp, về mặt thể chế, cần giải quyết một số vấn đề sau đây:

- Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị quyết số 49-NQ/TW về giám định tư pháp nói chung, xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp nói riêng cho phù hợp với yêu cầu thực tế theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa hơn nữa, xã hội hóa tất cả những gì mà dân làm được, Nhà nước chỉ làm những gì mà dân không làm hoặc Nhà nước phải làm, đồng thời tăng cường việc cung cấp dịch vụ cho xã hội.

- Sửa đổi Luật Giám định tư pháp và các văn bản có liên quan bảo đảm việc mở rộng phạm vi thành lập tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập.

- Sửa đổi pháp luật tố tụng theo hướng mở rộng hơn nữa quyền tự mình yêu cầu giám định của người tham gia tố tụng.

- Ban hành các quy trình, quy chuẩn giám định tư pháp hoặc áp dụng quy chuẩn chuyên môn ở các lĩnh vực để bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện giám định khoa học, chính xác trong phạm vi toàn quốc.

- Ban hành hướng dẫn cụ thể về định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức tính chi phí giám định tư pháp ở các lĩnh vực để bảo đảm cơ sở cho việc tính, thu và chi trả chi phí giám định cho các tổ chức, cá nhân thực hiện giám định tư pháp.

Bên cạnh đó, cần tạo cơ chế thuận lợi hơn cho việc xã hội hóa giám định tư pháp. Thực tế hiện nay, chưa thực sự có cơ chế mạnh mẽ, rõ ràng bảo đảm cho việc thực hiện chính sách xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp như thiếu các chính sách cụ thể để huy động, thu hút các cơ quan, tổ chức chuyên môn và chuyên gia giỏi ở các lĩnh vực và thuộc các khu vực nhà nước và ngoài nhà nước vào hoạt động giám định tư pháp, thiếu chính sách cụ thể nhằm khuyến khích thành lập các Văn phòng giám định tư pháp. Thực tế cho thấy, mặc dù Luật Giám định tư pháp có quy định về nguyên tắc việc Nhà nước có chính sách hỗ trợ thành lập Văn phòng giám định tư pháp nhưng khi xây dựng chính sách cụ thể thì gặp rất nhiều khó khăn, nên chưa khuyến khích được việc thành lập Văn phòng giám định tư pháp.

Về phía địa phương, Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội cần xem xét, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn thực hiện các vấn đề về giám định tư pháp đã được Luật Giám định tư pháp hoặc các văn bản của các Bộ, ngành cấp Trung ương đã giao quy định cụ thể để bảo đảm thực hiện ở địa phương, như vấn đề chính sách thu hút cá nhân, tổ chức chuyên môn thực hiện giám định theo quy định của Điều 38 Luật Giám định tư pháp hoặc Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 của liên ngành Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Tư pháp về trường hợp bắt buộc trưng cầu giám định.

Thứ hai, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về giám định tư pháp có tính chất rất đặc thù, mang tính chuyên môn khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ, ở rất nhiều lĩnh vực chuyên môn, con người, cơ sở vật chất, kinh phí… Việc tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với xã hội hóa giám định tư pháp ở Hà Nội cần được chú trọng hơn về các nội dung cụ thể như sau: (i) Đổi mới nhận thức, tư duy về nội dung, cách thức quản lý giám định tư pháp khi đẩy mạnh xã hội hóa như cần tạo cơ chế huy động, tạo điều kiện cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn tham gia vào hoạt động giám định tư pháp; có chính sách ưu đãi, thu hút cá nhân, tổ chức làm giám định tư pháp trên địa bàn thủ đô; (ii) Đẩy mạnh việc khuyến khích, hỗ trợ thành lập, hoạt động của Văn phòng giám định tư pháp ở các lĩnh vực theo quy định của pháp luật; (iii) Tăng cường phổ biến, quán triệt về chủ trương xã hội hóa giám định tư pháp, nhất là cần xóa bỏ tư duy coi trọng và chỉ tin tưởng vào các cơ quan chuyên môn của Nhà nước trong trưng cầu và đánh giá, sử dụng kết luận giám định; (iv) Tạo điều kiện và bảo đảm cho các tổ chức giám định tư pháp công lập được cung cấp dịch vụ giám định cho người dân, tổ chức, cơ quan quản lý, bên cạnh việc phục vụ tố tụng; (v) Phân định rõ hơn nữa nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý, cơ quan tố tụng đối với công tác giám định tư pháp, đối với việc thực hiện xã hội hóa giám định tư pháp trên địa bàn; (vi) Thiết lập và tăng cường cơ chế thông tin, phối hợp giữa các cơ quan quản lý và các cơ quan tiến hành tố tụng để bảo đảm điều kiện về giám định tư pháp; (vii) Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động giám định tư pháp của các tổ chức giám định tư pháp công lập, theo vụ việc và ngoài công lập; (viii) Tăng cường tính chủ động, phản ứng chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước về giám định tư, kịp thời tham mưu, có giải pháp khắc phục các vướng mắc, khó khăn trên thực tế; (ix) Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, giám định tư pháp ở các lĩnh vực để hỗ trợ cho quản lý nhà nước trong việc giám sát, đánh giá, phản biện hiệu quả và chất lượng của hoạt động giám định tư pháp được xã hội hóa.

Thứ ba, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Xã hội hóa giám định tư pháp là một nội dung của cải cách hành chính, cải cách tư pháp, vì vậy phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết nhằm định hướng đảm bảo sự ổn định chính trị, giữ vững bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân trong quá trình thực hiện xã hội hóa giám định tư pháp. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và vai trò tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp thuộc các lĩnh vực giám định tư pháp là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự thành công của quá trình xã hội hóa giám định tư pháp ở nước ta.

Thứ tư, tăng cường đội ngũ cán bộ giám định tư pháp đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, trình độ chuyên môn cao

Để có đội ngũ cán bộ giám định tư pháp đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, trình độ chuyên môn cao; có nghiệp vụ giám định và kiến thức pháp lý cần thiết để phục vụ đắc lực hoạt động tố tụng, cần xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống tổ chức giám định tư pháp, tổ chức chuyên môn có khả năng tham gia giám định tư pháp trên phạm vi cả nước đến năm 2025 và các năm tiếp theo; hình thành và phát triển mạng lưới các tổ chức chuyên môn trong các lĩnh vực giám định: Văn hoá, kế toán - tài chính, xây dựng, môi trường và các lĩnh vực khác đáp ứng kịp thời yêu cầu giám định tư pháp của hoạt động tố tụng. Đồng thời, cần thống kê, rà soát, đánh giá nguồn nhân lực trong đội ngũ người giám định tư pháp làm cơ sở cho việc quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực.

Thứ năm, chú trọng công tác bồi dưỡng nghiệp vụ giám định tư pháp

Thời gian qua, Sở Tư pháp đã tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội tổ chức một số buổi tập huấn bồi dưỡng kiến thức pháp lý cần thiết cho đội ngũ người làm giám định trong lĩnh vực xây dựng, tài chính, pháp y, kỹ thuật hình sự, thông tin và truyền thông, văn hóa. Tuy nhiên, thời lượng còn rất ngắn, gói gọn trong một buổi sáng nên chưa đủ thời gian vật chất để truyền đạt đầy đủ, kỹ lưỡng những kiến thức, kỹ năng cần thiết. Vì vậy, cần quan tâm tăng cường tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu ở các lĩnh vực giám định theo hướng tổ chức hoặc cử người tham dự các khóa tập huấn, bồi dưỡng mà các Bộ, ngành ở Trung ương tổ chức theo chuyên đề của từng lĩnh vực để giúp đội ngũ làm giám định được trang bị, cập nhật đầy đủ, kịp thời các kiến thức mới, kỹ năng mới, công nghệ khoa học mới trong hoạt động giám định ở từng lĩnh vực.

Thứ sáu, chú trọng hỗ trợ cho hoạt động giám định tư pháp ngoài nhà nước

Hoạt động giám định có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau (tài chính, xây dựng, kỹ thuật chuyên ngành...), cần phải có sự phối hợp của nhiều ngành khác nhau, tuy nhiên, thực tế cho thấy, công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa hiệu quả. Mặc dù các sở, ngành chuyên môn đã quan tâm hơn đến công tác giám định thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý, nhưng vẫn chưa thật sự tạo điều kiện tốt nhất cho giám định viên tư pháp. Đặc biệt, đội ngũ giám định viên tư pháp ở một số nơi không được bổ nhiệm mới, độ tuổi trung bình đều đã ngoài 50 tuổi. Để đáp ứng nhu cầu và nâng cao chất lượng giám định tư pháp, cần nghiên cứu, xây dựng cơ chế riêng để thu hút nguồn lực theo hướng xã hội hóa giám định tư pháp, xây dựng cơ chế ưu đãi riêng đối với các tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập (ngoài việc miễn thuế của Trung ương thì có thể ưu đãi thêm các vấn đề khác như miễn thuế đất đai, tạo điều kiện vay tiền mua trang thiết bị...).

Thứ bảy, bảo đảm nguồn kinh phí hợp lý cho việc xã hội hóa giám định tư pháp

Kinh phí cũng là một nguyên nhân ngăn cản tiến trình xã hội hóa giám định tư pháp, vì các cơ quan tiến hành tố tụng không đủ khả năng chi trả trưng cầu giám định ngoài Nhà nước vì ngân sách dành cho giám định tư pháp thường được dự toán chung với kinh phí điều tra, nên gần như không tận dụng nguồn xã hội hóa này. Giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong xã hội hóa giám định tư pháp là có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các văn phòng giám định tư pháp nhất là trong thời gian đầu mới thành lập.

Thứ tám, tăng cường sự quan tâm, chỉ đạo về công tác giám định tư pháp của một số sở, ngành có liên quan

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, xã hội hóa giám định tư pháp ở Hà Nội cũng còn một số hạn chế như cơ chế thu hút đội ngũ chuyên gia giỏi tham gia hoạt động giám định tư pháp chậm được ban hành; sự quan tâm, chỉ đạo về công tác giám định tư pháp của một số sở, ngành có liên quan còn hạn chế; cán bộ thực hiện nhiệm vụ này còn thiếu; việc củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức, bảo đảm cơ sở vật chất cho các tổ chức giám định tư pháp thực hiện chậm, chưa đáp ứng tốt nhu cầu đặt ra, nhất là tổ chức giám định pháp y... Do vậy, cần tăng cường hơn nữa sự quan tâm của các sở, ngành có liên quan đối với công tác giám định

2. Về lộ trình xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp

Để đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp trong thời gian tới, cần có những bước đi, lộ trình phù hợp với tính chất, đặc thù trên cơ sở quy định của pháp luật và yêu cầu thực tế. Theo quan điểm của chúng tôi, lộ trình xã hội hóa giám định tư pháp nên được chia ra làm hai giai đoạn gồm:

Một là, giai đoạn từ nay cho đến khi Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp và Luật Giám định tư pháp được sửa đổi, bổ sung

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Giám định tư pháp, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt động giám định tư pháp;

- Tổng kết, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém trong quá trình tổ chức thực hiện Luật Giám định tư pháp kể từ khi ban hành để có cơ sở thực tiễn sửa đổi, bổ sung Luật này nhằm tạo cở sở pháp lý đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp;

- Hình thành mạng lưới các tổ chức chuyên môn có đủ điều kiện, năng lực thực hiện giám định tư pháp ở tất cả các lĩnh vực ngành, nghề, trong đó, chú trọng đến các lĩnh vực: Văn hóa, môi trường, xây dựng, khoa học - công nghệ, nông, lâm nghiệp, truyền thông…;

- Ban hành chính sách ưu đãi để khuyến khích, thu hút sự tham gia của các tổ chức chuyên môn, đội ngũ chuyên gia ở các lĩnh vực tham gia vào hoạt động giám định tư pháp;

- Có kế hoạch đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giám định chuyên nghiệp ở các tổ chức giám định chuyên trách và tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, kiến thức pháp luật thường xuyên cho đội ngũ người giám định tư pháp.

Hai là, giai đoạn sau khi Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp và Luật Giám định tư pháp được sửa đổi, bổ sung

- Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến giám tư pháp của pháp luật tố tụng.

- Thí điểm thực hiện tự trang trải về mặt tài chính đối với các tổ chức pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự; mở rộng việc thực hiện chức năng giám định phục vụ nhu cầu dân sự của tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật. Nhà nước có cơ chế hỗ trợ để các tổ chức này thực hiện chức năng nghiên cứu, ứng dụng, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công tác giám định tư pháp.

Đối với các lĩnh vực giám định khác, trên cơ sở quy hoạch phát triển đội ngũ giám định viên và hệ thống mạng lưới các tổ chức chuyên môn thực hiện giám định tư pháp, hoàn thiện quy chuẩn chuyên môn, quy trình giám định, chính sách khuyến khích thu hút… nhằm huy động rộng rãi các chuyên gia có uy tín, các tổ chức chuyên môn có thương hiệu nghề nghiệp tham gia vào hoạt động giám định tư pháp.

Định hướng phát triển những năm tiếp theo, sau khi định hình mô hình tổ chức các cơ quan tư pháp tương thích với khu vực và quốc tế, có thể nghiên cứu để thực hiện xã hội hoá giám định tư pháp ở phạm vi rộng hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Trần Đông Tùng

Phó Viện trưởng Viện Khoa học Chính sách và Pháp luật



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: