Thứ năm 22/01/2026 18:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp ở thành phố Hà Nội

Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp cũng như lộ trình nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.


Abstract: This article examines and makes some solutions as well as itinerary for strengthening socialization of judicial expertise operation in the Hanoi City in the coming time.

Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, hoạt động giám định tư pháp ngày càng đi vào nền nếp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động tố tụng. Đối với công tác quản lý, nhiều sở, ngành đã quan tâm hơn đến việc triển khai, thực hiện Luật Giám định tư pháp năm 2012, Đề án 258. Ngay sau khi Luật Giám định tư pháp có hiệu lực, Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội ban hành Kế hoạch số 67/KH-UBND ngày 22/4/2013 về việc triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp trên địa bàn. Sở Tư pháp - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Đề án 258 của thành phố chủ trì, phối hợp với các sở, ngành có liên quan xây dựng, trình Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội ban hành Quyết định số 111/QĐ-UBND ngày 12/01/2015 về Quy chế phối hợp trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp trên địa bàn. Ngày 01/8/2016, Hội đồng nhân dân TP. Hà Nộ đã thông qua Nghị quyết về hỗ trợ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, người giúp việc cho giám định viên tư pháp. Chế độ hỗ trợ được thực hiện sẽ góp phần động viên, khích lệ người làm công tác giám định trên địa bàn thành phố, tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp.

Tuy nhiên, để việc xã hội hóa giám định tư pháp được đẩy mạnh hơn nữa, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình hội nhập và phù hợp với thông lệ quốc tế, cần thiết phải có những giải pháp tháo gỡ khó khăn, hạn chế trong quá trình xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội.

1. Những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế

Đối với các cơ quan Trung ương, để bảo đảm thực hiện chủ trương xã hội hóa giám định tư pháp, về mặt thể chế, cần giải quyết một số vấn đề sau đây:

- Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị quyết số 49-NQ/TW về giám định tư pháp nói chung, xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp nói riêng cho phù hợp với yêu cầu thực tế theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa hơn nữa, xã hội hóa tất cả những gì mà dân làm được, Nhà nước chỉ làm những gì mà dân không làm hoặc Nhà nước phải làm, đồng thời tăng cường việc cung cấp dịch vụ cho xã hội.

- Sửa đổi Luật Giám định tư pháp và các văn bản có liên quan bảo đảm việc mở rộng phạm vi thành lập tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập.

- Sửa đổi pháp luật tố tụng theo hướng mở rộng hơn nữa quyền tự mình yêu cầu giám định của người tham gia tố tụng.

- Ban hành các quy trình, quy chuẩn giám định tư pháp hoặc áp dụng quy chuẩn chuyên môn ở các lĩnh vực để bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện giám định khoa học, chính xác trong phạm vi toàn quốc.

- Ban hành hướng dẫn cụ thể về định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức tính chi phí giám định tư pháp ở các lĩnh vực để bảo đảm cơ sở cho việc tính, thu và chi trả chi phí giám định cho các tổ chức, cá nhân thực hiện giám định tư pháp.

Bên cạnh đó, cần tạo cơ chế thuận lợi hơn cho việc xã hội hóa giám định tư pháp. Thực tế hiện nay, chưa thực sự có cơ chế mạnh mẽ, rõ ràng bảo đảm cho việc thực hiện chính sách xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp như thiếu các chính sách cụ thể để huy động, thu hút các cơ quan, tổ chức chuyên môn và chuyên gia giỏi ở các lĩnh vực và thuộc các khu vực nhà nước và ngoài nhà nước vào hoạt động giám định tư pháp, thiếu chính sách cụ thể nhằm khuyến khích thành lập các Văn phòng giám định tư pháp. Thực tế cho thấy, mặc dù Luật Giám định tư pháp có quy định về nguyên tắc việc Nhà nước có chính sách hỗ trợ thành lập Văn phòng giám định tư pháp nhưng khi xây dựng chính sách cụ thể thì gặp rất nhiều khó khăn, nên chưa khuyến khích được việc thành lập Văn phòng giám định tư pháp.

Về phía địa phương, Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội cần xem xét, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn thực hiện các vấn đề về giám định tư pháp đã được Luật Giám định tư pháp hoặc các văn bản của các Bộ, ngành cấp Trung ương đã giao quy định cụ thể để bảo đảm thực hiện ở địa phương, như vấn đề chính sách thu hút cá nhân, tổ chức chuyên môn thực hiện giám định theo quy định của Điều 38 Luật Giám định tư pháp hoặc Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 của liên ngành Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Tư pháp về trường hợp bắt buộc trưng cầu giám định.

Thứ hai, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về giám định tư pháp có tính chất rất đặc thù, mang tính chuyên môn khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ, ở rất nhiều lĩnh vực chuyên môn, con người, cơ sở vật chất, kinh phí… Việc tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với xã hội hóa giám định tư pháp ở Hà Nội cần được chú trọng hơn về các nội dung cụ thể như sau: (i) Đổi mới nhận thức, tư duy về nội dung, cách thức quản lý giám định tư pháp khi đẩy mạnh xã hội hóa như cần tạo cơ chế huy động, tạo điều kiện cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn tham gia vào hoạt động giám định tư pháp; có chính sách ưu đãi, thu hút cá nhân, tổ chức làm giám định tư pháp trên địa bàn thủ đô; (ii) Đẩy mạnh việc khuyến khích, hỗ trợ thành lập, hoạt động của Văn phòng giám định tư pháp ở các lĩnh vực theo quy định của pháp luật; (iii) Tăng cường phổ biến, quán triệt về chủ trương xã hội hóa giám định tư pháp, nhất là cần xóa bỏ tư duy coi trọng và chỉ tin tưởng vào các cơ quan chuyên môn của Nhà nước trong trưng cầu và đánh giá, sử dụng kết luận giám định; (iv) Tạo điều kiện và bảo đảm cho các tổ chức giám định tư pháp công lập được cung cấp dịch vụ giám định cho người dân, tổ chức, cơ quan quản lý, bên cạnh việc phục vụ tố tụng; (v) Phân định rõ hơn nữa nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý, cơ quan tố tụng đối với công tác giám định tư pháp, đối với việc thực hiện xã hội hóa giám định tư pháp trên địa bàn; (vi) Thiết lập và tăng cường cơ chế thông tin, phối hợp giữa các cơ quan quản lý và các cơ quan tiến hành tố tụng để bảo đảm điều kiện về giám định tư pháp; (vii) Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động giám định tư pháp của các tổ chức giám định tư pháp công lập, theo vụ việc và ngoài công lập; (viii) Tăng cường tính chủ động, phản ứng chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước về giám định tư, kịp thời tham mưu, có giải pháp khắc phục các vướng mắc, khó khăn trên thực tế; (ix) Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, giám định tư pháp ở các lĩnh vực để hỗ trợ cho quản lý nhà nước trong việc giám sát, đánh giá, phản biện hiệu quả và chất lượng của hoạt động giám định tư pháp được xã hội hóa.

Thứ ba, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Xã hội hóa giám định tư pháp là một nội dung của cải cách hành chính, cải cách tư pháp, vì vậy phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết nhằm định hướng đảm bảo sự ổn định chính trị, giữ vững bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân trong quá trình thực hiện xã hội hóa giám định tư pháp. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và vai trò tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp thuộc các lĩnh vực giám định tư pháp là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự thành công của quá trình xã hội hóa giám định tư pháp ở nước ta.

Thứ tư, tăng cường đội ngũ cán bộ giám định tư pháp đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, trình độ chuyên môn cao

Để có đội ngũ cán bộ giám định tư pháp đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, trình độ chuyên môn cao; có nghiệp vụ giám định và kiến thức pháp lý cần thiết để phục vụ đắc lực hoạt động tố tụng, cần xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống tổ chức giám định tư pháp, tổ chức chuyên môn có khả năng tham gia giám định tư pháp trên phạm vi cả nước đến năm 2025 và các năm tiếp theo; hình thành và phát triển mạng lưới các tổ chức chuyên môn trong các lĩnh vực giám định: Văn hoá, kế toán - tài chính, xây dựng, môi trường và các lĩnh vực khác đáp ứng kịp thời yêu cầu giám định tư pháp của hoạt động tố tụng. Đồng thời, cần thống kê, rà soát, đánh giá nguồn nhân lực trong đội ngũ người giám định tư pháp làm cơ sở cho việc quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực.

Thứ năm, chú trọng công tác bồi dưỡng nghiệp vụ giám định tư pháp

Thời gian qua, Sở Tư pháp đã tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội tổ chức một số buổi tập huấn bồi dưỡng kiến thức pháp lý cần thiết cho đội ngũ người làm giám định trong lĩnh vực xây dựng, tài chính, pháp y, kỹ thuật hình sự, thông tin và truyền thông, văn hóa. Tuy nhiên, thời lượng còn rất ngắn, gói gọn trong một buổi sáng nên chưa đủ thời gian vật chất để truyền đạt đầy đủ, kỹ lưỡng những kiến thức, kỹ năng cần thiết. Vì vậy, cần quan tâm tăng cường tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu ở các lĩnh vực giám định theo hướng tổ chức hoặc cử người tham dự các khóa tập huấn, bồi dưỡng mà các Bộ, ngành ở Trung ương tổ chức theo chuyên đề của từng lĩnh vực để giúp đội ngũ làm giám định được trang bị, cập nhật đầy đủ, kịp thời các kiến thức mới, kỹ năng mới, công nghệ khoa học mới trong hoạt động giám định ở từng lĩnh vực.

Thứ sáu, chú trọng hỗ trợ cho hoạt động giám định tư pháp ngoài nhà nước

Hoạt động giám định có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau (tài chính, xây dựng, kỹ thuật chuyên ngành...), cần phải có sự phối hợp của nhiều ngành khác nhau, tuy nhiên, thực tế cho thấy, công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa hiệu quả. Mặc dù các sở, ngành chuyên môn đã quan tâm hơn đến công tác giám định thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý, nhưng vẫn chưa thật sự tạo điều kiện tốt nhất cho giám định viên tư pháp. Đặc biệt, đội ngũ giám định viên tư pháp ở một số nơi không được bổ nhiệm mới, độ tuổi trung bình đều đã ngoài 50 tuổi. Để đáp ứng nhu cầu và nâng cao chất lượng giám định tư pháp, cần nghiên cứu, xây dựng cơ chế riêng để thu hút nguồn lực theo hướng xã hội hóa giám định tư pháp, xây dựng cơ chế ưu đãi riêng đối với các tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập (ngoài việc miễn thuế của Trung ương thì có thể ưu đãi thêm các vấn đề khác như miễn thuế đất đai, tạo điều kiện vay tiền mua trang thiết bị...).

Thứ bảy, bảo đảm nguồn kinh phí hợp lý cho việc xã hội hóa giám định tư pháp

Kinh phí cũng là một nguyên nhân ngăn cản tiến trình xã hội hóa giám định tư pháp, vì các cơ quan tiến hành tố tụng không đủ khả năng chi trả trưng cầu giám định ngoài Nhà nước vì ngân sách dành cho giám định tư pháp thường được dự toán chung với kinh phí điều tra, nên gần như không tận dụng nguồn xã hội hóa này. Giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong xã hội hóa giám định tư pháp là có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các văn phòng giám định tư pháp nhất là trong thời gian đầu mới thành lập.

Thứ tám, tăng cường sự quan tâm, chỉ đạo về công tác giám định tư pháp của một số sở, ngành có liên quan

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, xã hội hóa giám định tư pháp ở Hà Nội cũng còn một số hạn chế như cơ chế thu hút đội ngũ chuyên gia giỏi tham gia hoạt động giám định tư pháp chậm được ban hành; sự quan tâm, chỉ đạo về công tác giám định tư pháp của một số sở, ngành có liên quan còn hạn chế; cán bộ thực hiện nhiệm vụ này còn thiếu; việc củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức, bảo đảm cơ sở vật chất cho các tổ chức giám định tư pháp thực hiện chậm, chưa đáp ứng tốt nhu cầu đặt ra, nhất là tổ chức giám định pháp y... Do vậy, cần tăng cường hơn nữa sự quan tâm của các sở, ngành có liên quan đối với công tác giám định

2. Về lộ trình xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp

Để đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp trong thời gian tới, cần có những bước đi, lộ trình phù hợp với tính chất, đặc thù trên cơ sở quy định của pháp luật và yêu cầu thực tế. Theo quan điểm của chúng tôi, lộ trình xã hội hóa giám định tư pháp nên được chia ra làm hai giai đoạn gồm:

Một là, giai đoạn từ nay cho đến khi Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp và Luật Giám định tư pháp được sửa đổi, bổ sung

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Giám định tư pháp, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt động giám định tư pháp;

- Tổng kết, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém trong quá trình tổ chức thực hiện Luật Giám định tư pháp kể từ khi ban hành để có cơ sở thực tiễn sửa đổi, bổ sung Luật này nhằm tạo cở sở pháp lý đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp;

- Hình thành mạng lưới các tổ chức chuyên môn có đủ điều kiện, năng lực thực hiện giám định tư pháp ở tất cả các lĩnh vực ngành, nghề, trong đó, chú trọng đến các lĩnh vực: Văn hóa, môi trường, xây dựng, khoa học - công nghệ, nông, lâm nghiệp, truyền thông…;

- Ban hành chính sách ưu đãi để khuyến khích, thu hút sự tham gia của các tổ chức chuyên môn, đội ngũ chuyên gia ở các lĩnh vực tham gia vào hoạt động giám định tư pháp;

- Có kế hoạch đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giám định chuyên nghiệp ở các tổ chức giám định chuyên trách và tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, kiến thức pháp luật thường xuyên cho đội ngũ người giám định tư pháp.

Hai là, giai đoạn sau khi Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp và Luật Giám định tư pháp được sửa đổi, bổ sung

- Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến giám tư pháp của pháp luật tố tụng.

- Thí điểm thực hiện tự trang trải về mặt tài chính đối với các tổ chức pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự; mở rộng việc thực hiện chức năng giám định phục vụ nhu cầu dân sự của tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật. Nhà nước có cơ chế hỗ trợ để các tổ chức này thực hiện chức năng nghiên cứu, ứng dụng, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công tác giám định tư pháp.

Đối với các lĩnh vực giám định khác, trên cơ sở quy hoạch phát triển đội ngũ giám định viên và hệ thống mạng lưới các tổ chức chuyên môn thực hiện giám định tư pháp, hoàn thiện quy chuẩn chuyên môn, quy trình giám định, chính sách khuyến khích thu hút… nhằm huy động rộng rãi các chuyên gia có uy tín, các tổ chức chuyên môn có thương hiệu nghề nghiệp tham gia vào hoạt động giám định tư pháp.

Định hướng phát triển những năm tiếp theo, sau khi định hình mô hình tổ chức các cơ quan tư pháp tương thích với khu vực và quốc tế, có thể nghiên cứu để thực hiện xã hội hoá giám định tư pháp ở phạm vi rộng hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Trần Đông Tùng

Phó Viện trưởng Viện Khoa học Chính sách và Pháp luật



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: