Chủ nhật 31/05/2026 09:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp ở thành phố Hà Nội

Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp cũng như lộ trình nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.


Abstract: This article examines and makes some solutions as well as itinerary for strengthening socialization of judicial expertise operation in the Hanoi City in the coming time.

Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, hoạt động giám định tư pháp ngày càng đi vào nền nếp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động tố tụng. Đối với công tác quản lý, nhiều sở, ngành đã quan tâm hơn đến việc triển khai, thực hiện Luật Giám định tư pháp năm 2012, Đề án 258. Ngay sau khi Luật Giám định tư pháp có hiệu lực, Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội ban hành Kế hoạch số 67/KH-UBND ngày 22/4/2013 về việc triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp trên địa bàn. Sở Tư pháp - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Đề án 258 của thành phố chủ trì, phối hợp với các sở, ngành có liên quan xây dựng, trình Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội ban hành Quyết định số 111/QĐ-UBND ngày 12/01/2015 về Quy chế phối hợp trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp trên địa bàn. Ngày 01/8/2016, Hội đồng nhân dân TP. Hà Nộ đã thông qua Nghị quyết về hỗ trợ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, người giúp việc cho giám định viên tư pháp. Chế độ hỗ trợ được thực hiện sẽ góp phần động viên, khích lệ người làm công tác giám định trên địa bàn thành phố, tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp.

Tuy nhiên, để việc xã hội hóa giám định tư pháp được đẩy mạnh hơn nữa, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình hội nhập và phù hợp với thông lệ quốc tế, cần thiết phải có những giải pháp tháo gỡ khó khăn, hạn chế trong quá trình xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội.

1. Những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế

Đối với các cơ quan Trung ương, để bảo đảm thực hiện chủ trương xã hội hóa giám định tư pháp, về mặt thể chế, cần giải quyết một số vấn đề sau đây:

- Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị quyết số 49-NQ/TW về giám định tư pháp nói chung, xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp nói riêng cho phù hợp với yêu cầu thực tế theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa hơn nữa, xã hội hóa tất cả những gì mà dân làm được, Nhà nước chỉ làm những gì mà dân không làm hoặc Nhà nước phải làm, đồng thời tăng cường việc cung cấp dịch vụ cho xã hội.

- Sửa đổi Luật Giám định tư pháp và các văn bản có liên quan bảo đảm việc mở rộng phạm vi thành lập tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập.

- Sửa đổi pháp luật tố tụng theo hướng mở rộng hơn nữa quyền tự mình yêu cầu giám định của người tham gia tố tụng.

- Ban hành các quy trình, quy chuẩn giám định tư pháp hoặc áp dụng quy chuẩn chuyên môn ở các lĩnh vực để bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện giám định khoa học, chính xác trong phạm vi toàn quốc.

- Ban hành hướng dẫn cụ thể về định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức tính chi phí giám định tư pháp ở các lĩnh vực để bảo đảm cơ sở cho việc tính, thu và chi trả chi phí giám định cho các tổ chức, cá nhân thực hiện giám định tư pháp.

Bên cạnh đó, cần tạo cơ chế thuận lợi hơn cho việc xã hội hóa giám định tư pháp. Thực tế hiện nay, chưa thực sự có cơ chế mạnh mẽ, rõ ràng bảo đảm cho việc thực hiện chính sách xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp như thiếu các chính sách cụ thể để huy động, thu hút các cơ quan, tổ chức chuyên môn và chuyên gia giỏi ở các lĩnh vực và thuộc các khu vực nhà nước và ngoài nhà nước vào hoạt động giám định tư pháp, thiếu chính sách cụ thể nhằm khuyến khích thành lập các Văn phòng giám định tư pháp. Thực tế cho thấy, mặc dù Luật Giám định tư pháp có quy định về nguyên tắc việc Nhà nước có chính sách hỗ trợ thành lập Văn phòng giám định tư pháp nhưng khi xây dựng chính sách cụ thể thì gặp rất nhiều khó khăn, nên chưa khuyến khích được việc thành lập Văn phòng giám định tư pháp.

Về phía địa phương, Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội cần xem xét, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn thực hiện các vấn đề về giám định tư pháp đã được Luật Giám định tư pháp hoặc các văn bản của các Bộ, ngành cấp Trung ương đã giao quy định cụ thể để bảo đảm thực hiện ở địa phương, như vấn đề chính sách thu hút cá nhân, tổ chức chuyên môn thực hiện giám định theo quy định của Điều 38 Luật Giám định tư pháp hoặc Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 của liên ngành Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Tư pháp về trường hợp bắt buộc trưng cầu giám định.

Thứ hai, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về giám định tư pháp có tính chất rất đặc thù, mang tính chuyên môn khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ, ở rất nhiều lĩnh vực chuyên môn, con người, cơ sở vật chất, kinh phí… Việc tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với xã hội hóa giám định tư pháp ở Hà Nội cần được chú trọng hơn về các nội dung cụ thể như sau: (i) Đổi mới nhận thức, tư duy về nội dung, cách thức quản lý giám định tư pháp khi đẩy mạnh xã hội hóa như cần tạo cơ chế huy động, tạo điều kiện cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn tham gia vào hoạt động giám định tư pháp; có chính sách ưu đãi, thu hút cá nhân, tổ chức làm giám định tư pháp trên địa bàn thủ đô; (ii) Đẩy mạnh việc khuyến khích, hỗ trợ thành lập, hoạt động của Văn phòng giám định tư pháp ở các lĩnh vực theo quy định của pháp luật; (iii) Tăng cường phổ biến, quán triệt về chủ trương xã hội hóa giám định tư pháp, nhất là cần xóa bỏ tư duy coi trọng và chỉ tin tưởng vào các cơ quan chuyên môn của Nhà nước trong trưng cầu và đánh giá, sử dụng kết luận giám định; (iv) Tạo điều kiện và bảo đảm cho các tổ chức giám định tư pháp công lập được cung cấp dịch vụ giám định cho người dân, tổ chức, cơ quan quản lý, bên cạnh việc phục vụ tố tụng; (v) Phân định rõ hơn nữa nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý, cơ quan tố tụng đối với công tác giám định tư pháp, đối với việc thực hiện xã hội hóa giám định tư pháp trên địa bàn; (vi) Thiết lập và tăng cường cơ chế thông tin, phối hợp giữa các cơ quan quản lý và các cơ quan tiến hành tố tụng để bảo đảm điều kiện về giám định tư pháp; (vii) Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động giám định tư pháp của các tổ chức giám định tư pháp công lập, theo vụ việc và ngoài công lập; (viii) Tăng cường tính chủ động, phản ứng chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước về giám định tư, kịp thời tham mưu, có giải pháp khắc phục các vướng mắc, khó khăn trên thực tế; (ix) Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, giám định tư pháp ở các lĩnh vực để hỗ trợ cho quản lý nhà nước trong việc giám sát, đánh giá, phản biện hiệu quả và chất lượng của hoạt động giám định tư pháp được xã hội hóa.

Thứ ba, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Xã hội hóa giám định tư pháp là một nội dung của cải cách hành chính, cải cách tư pháp, vì vậy phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết nhằm định hướng đảm bảo sự ổn định chính trị, giữ vững bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân trong quá trình thực hiện xã hội hóa giám định tư pháp. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và vai trò tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp thuộc các lĩnh vực giám định tư pháp là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự thành công của quá trình xã hội hóa giám định tư pháp ở nước ta.

Thứ tư, tăng cường đội ngũ cán bộ giám định tư pháp đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, trình độ chuyên môn cao

Để có đội ngũ cán bộ giám định tư pháp đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, trình độ chuyên môn cao; có nghiệp vụ giám định và kiến thức pháp lý cần thiết để phục vụ đắc lực hoạt động tố tụng, cần xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống tổ chức giám định tư pháp, tổ chức chuyên môn có khả năng tham gia giám định tư pháp trên phạm vi cả nước đến năm 2025 và các năm tiếp theo; hình thành và phát triển mạng lưới các tổ chức chuyên môn trong các lĩnh vực giám định: Văn hoá, kế toán - tài chính, xây dựng, môi trường và các lĩnh vực khác đáp ứng kịp thời yêu cầu giám định tư pháp của hoạt động tố tụng. Đồng thời, cần thống kê, rà soát, đánh giá nguồn nhân lực trong đội ngũ người giám định tư pháp làm cơ sở cho việc quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực.

Thứ năm, chú trọng công tác bồi dưỡng nghiệp vụ giám định tư pháp

Thời gian qua, Sở Tư pháp đã tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội tổ chức một số buổi tập huấn bồi dưỡng kiến thức pháp lý cần thiết cho đội ngũ người làm giám định trong lĩnh vực xây dựng, tài chính, pháp y, kỹ thuật hình sự, thông tin và truyền thông, văn hóa. Tuy nhiên, thời lượng còn rất ngắn, gói gọn trong một buổi sáng nên chưa đủ thời gian vật chất để truyền đạt đầy đủ, kỹ lưỡng những kiến thức, kỹ năng cần thiết. Vì vậy, cần quan tâm tăng cường tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu ở các lĩnh vực giám định theo hướng tổ chức hoặc cử người tham dự các khóa tập huấn, bồi dưỡng mà các Bộ, ngành ở Trung ương tổ chức theo chuyên đề của từng lĩnh vực để giúp đội ngũ làm giám định được trang bị, cập nhật đầy đủ, kịp thời các kiến thức mới, kỹ năng mới, công nghệ khoa học mới trong hoạt động giám định ở từng lĩnh vực.

Thứ sáu, chú trọng hỗ trợ cho hoạt động giám định tư pháp ngoài nhà nước

Hoạt động giám định có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau (tài chính, xây dựng, kỹ thuật chuyên ngành...), cần phải có sự phối hợp của nhiều ngành khác nhau, tuy nhiên, thực tế cho thấy, công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa hiệu quả. Mặc dù các sở, ngành chuyên môn đã quan tâm hơn đến công tác giám định thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý, nhưng vẫn chưa thật sự tạo điều kiện tốt nhất cho giám định viên tư pháp. Đặc biệt, đội ngũ giám định viên tư pháp ở một số nơi không được bổ nhiệm mới, độ tuổi trung bình đều đã ngoài 50 tuổi. Để đáp ứng nhu cầu và nâng cao chất lượng giám định tư pháp, cần nghiên cứu, xây dựng cơ chế riêng để thu hút nguồn lực theo hướng xã hội hóa giám định tư pháp, xây dựng cơ chế ưu đãi riêng đối với các tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập (ngoài việc miễn thuế của Trung ương thì có thể ưu đãi thêm các vấn đề khác như miễn thuế đất đai, tạo điều kiện vay tiền mua trang thiết bị...).

Thứ bảy, bảo đảm nguồn kinh phí hợp lý cho việc xã hội hóa giám định tư pháp

Kinh phí cũng là một nguyên nhân ngăn cản tiến trình xã hội hóa giám định tư pháp, vì các cơ quan tiến hành tố tụng không đủ khả năng chi trả trưng cầu giám định ngoài Nhà nước vì ngân sách dành cho giám định tư pháp thường được dự toán chung với kinh phí điều tra, nên gần như không tận dụng nguồn xã hội hóa này. Giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong xã hội hóa giám định tư pháp là có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các văn phòng giám định tư pháp nhất là trong thời gian đầu mới thành lập.

Thứ tám, tăng cường sự quan tâm, chỉ đạo về công tác giám định tư pháp của một số sở, ngành có liên quan

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, xã hội hóa giám định tư pháp ở Hà Nội cũng còn một số hạn chế như cơ chế thu hút đội ngũ chuyên gia giỏi tham gia hoạt động giám định tư pháp chậm được ban hành; sự quan tâm, chỉ đạo về công tác giám định tư pháp của một số sở, ngành có liên quan còn hạn chế; cán bộ thực hiện nhiệm vụ này còn thiếu; việc củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức, bảo đảm cơ sở vật chất cho các tổ chức giám định tư pháp thực hiện chậm, chưa đáp ứng tốt nhu cầu đặt ra, nhất là tổ chức giám định pháp y... Do vậy, cần tăng cường hơn nữa sự quan tâm của các sở, ngành có liên quan đối với công tác giám định

2. Về lộ trình xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp

Để đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp trong thời gian tới, cần có những bước đi, lộ trình phù hợp với tính chất, đặc thù trên cơ sở quy định của pháp luật và yêu cầu thực tế. Theo quan điểm của chúng tôi, lộ trình xã hội hóa giám định tư pháp nên được chia ra làm hai giai đoạn gồm:

Một là, giai đoạn từ nay cho đến khi Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp và Luật Giám định tư pháp được sửa đổi, bổ sung

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Giám định tư pháp, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt động giám định tư pháp;

- Tổng kết, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém trong quá trình tổ chức thực hiện Luật Giám định tư pháp kể từ khi ban hành để có cơ sở thực tiễn sửa đổi, bổ sung Luật này nhằm tạo cở sở pháp lý đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp;

- Hình thành mạng lưới các tổ chức chuyên môn có đủ điều kiện, năng lực thực hiện giám định tư pháp ở tất cả các lĩnh vực ngành, nghề, trong đó, chú trọng đến các lĩnh vực: Văn hóa, môi trường, xây dựng, khoa học - công nghệ, nông, lâm nghiệp, truyền thông…;

- Ban hành chính sách ưu đãi để khuyến khích, thu hút sự tham gia của các tổ chức chuyên môn, đội ngũ chuyên gia ở các lĩnh vực tham gia vào hoạt động giám định tư pháp;

- Có kế hoạch đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giám định chuyên nghiệp ở các tổ chức giám định chuyên trách và tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, kiến thức pháp luật thường xuyên cho đội ngũ người giám định tư pháp.

Hai là, giai đoạn sau khi Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp và Luật Giám định tư pháp được sửa đổi, bổ sung

- Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến giám tư pháp của pháp luật tố tụng.

- Thí điểm thực hiện tự trang trải về mặt tài chính đối với các tổ chức pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự; mở rộng việc thực hiện chức năng giám định phục vụ nhu cầu dân sự của tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật. Nhà nước có cơ chế hỗ trợ để các tổ chức này thực hiện chức năng nghiên cứu, ứng dụng, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công tác giám định tư pháp.

Đối với các lĩnh vực giám định khác, trên cơ sở quy hoạch phát triển đội ngũ giám định viên và hệ thống mạng lưới các tổ chức chuyên môn thực hiện giám định tư pháp, hoàn thiện quy chuẩn chuyên môn, quy trình giám định, chính sách khuyến khích thu hút… nhằm huy động rộng rãi các chuyên gia có uy tín, các tổ chức chuyên môn có thương hiệu nghề nghiệp tham gia vào hoạt động giám định tư pháp.

Định hướng phát triển những năm tiếp theo, sau khi định hình mô hình tổ chức các cơ quan tư pháp tương thích với khu vực và quốc tế, có thể nghiên cứu để thực hiện xã hội hoá giám định tư pháp ở phạm vi rộng hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Trần Đông Tùng

Phó Viện trưởng Viện Khoa học Chính sách và Pháp luật



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: