Chủ nhật 13/09/2026 00:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp ở thành phố Hà Nội

Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp cũng như lộ trình nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.


Abstract: This article examines and makes some solutions as well as itinerary for strengthening socialization of judicial expertise operation in the Hanoi City in the coming time.

Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, hoạt động giám định tư pháp ngày càng đi vào nền nếp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động tố tụng. Đối với công tác quản lý, nhiều sở, ngành đã quan tâm hơn đến việc triển khai, thực hiện Luật Giám định tư pháp năm 2012, Đề án 258. Ngay sau khi Luật Giám định tư pháp có hiệu lực, Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội ban hành Kế hoạch số 67/KH-UBND ngày 22/4/2013 về việc triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp trên địa bàn. Sở Tư pháp - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Đề án 258 của thành phố chủ trì, phối hợp với các sở, ngành có liên quan xây dựng, trình Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội ban hành Quyết định số 111/QĐ-UBND ngày 12/01/2015 về Quy chế phối hợp trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp trên địa bàn. Ngày 01/8/2016, Hội đồng nhân dân TP. Hà Nộ đã thông qua Nghị quyết về hỗ trợ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, người giúp việc cho giám định viên tư pháp. Chế độ hỗ trợ được thực hiện sẽ góp phần động viên, khích lệ người làm công tác giám định trên địa bàn thành phố, tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp.

Tuy nhiên, để việc xã hội hóa giám định tư pháp được đẩy mạnh hơn nữa, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình hội nhập và phù hợp với thông lệ quốc tế, cần thiết phải có những giải pháp tháo gỡ khó khăn, hạn chế trong quá trình xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội.

1. Những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế

Đối với các cơ quan Trung ương, để bảo đảm thực hiện chủ trương xã hội hóa giám định tư pháp, về mặt thể chế, cần giải quyết một số vấn đề sau đây:

- Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị quyết số 49-NQ/TW về giám định tư pháp nói chung, xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp nói riêng cho phù hợp với yêu cầu thực tế theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa hơn nữa, xã hội hóa tất cả những gì mà dân làm được, Nhà nước chỉ làm những gì mà dân không làm hoặc Nhà nước phải làm, đồng thời tăng cường việc cung cấp dịch vụ cho xã hội.

- Sửa đổi Luật Giám định tư pháp và các văn bản có liên quan bảo đảm việc mở rộng phạm vi thành lập tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập.

- Sửa đổi pháp luật tố tụng theo hướng mở rộng hơn nữa quyền tự mình yêu cầu giám định của người tham gia tố tụng.

- Ban hành các quy trình, quy chuẩn giám định tư pháp hoặc áp dụng quy chuẩn chuyên môn ở các lĩnh vực để bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện giám định khoa học, chính xác trong phạm vi toàn quốc.

- Ban hành hướng dẫn cụ thể về định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức tính chi phí giám định tư pháp ở các lĩnh vực để bảo đảm cơ sở cho việc tính, thu và chi trả chi phí giám định cho các tổ chức, cá nhân thực hiện giám định tư pháp.

Bên cạnh đó, cần tạo cơ chế thuận lợi hơn cho việc xã hội hóa giám định tư pháp. Thực tế hiện nay, chưa thực sự có cơ chế mạnh mẽ, rõ ràng bảo đảm cho việc thực hiện chính sách xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp như thiếu các chính sách cụ thể để huy động, thu hút các cơ quan, tổ chức chuyên môn và chuyên gia giỏi ở các lĩnh vực và thuộc các khu vực nhà nước và ngoài nhà nước vào hoạt động giám định tư pháp, thiếu chính sách cụ thể nhằm khuyến khích thành lập các Văn phòng giám định tư pháp. Thực tế cho thấy, mặc dù Luật Giám định tư pháp có quy định về nguyên tắc việc Nhà nước có chính sách hỗ trợ thành lập Văn phòng giám định tư pháp nhưng khi xây dựng chính sách cụ thể thì gặp rất nhiều khó khăn, nên chưa khuyến khích được việc thành lập Văn phòng giám định tư pháp.

Về phía địa phương, Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội cần xem xét, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn thực hiện các vấn đề về giám định tư pháp đã được Luật Giám định tư pháp hoặc các văn bản của các Bộ, ngành cấp Trung ương đã giao quy định cụ thể để bảo đảm thực hiện ở địa phương, như vấn đề chính sách thu hút cá nhân, tổ chức chuyên môn thực hiện giám định theo quy định của Điều 38 Luật Giám định tư pháp hoặc Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 của liên ngành Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Tư pháp về trường hợp bắt buộc trưng cầu giám định.

Thứ hai, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về giám định tư pháp có tính chất rất đặc thù, mang tính chuyên môn khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ, ở rất nhiều lĩnh vực chuyên môn, con người, cơ sở vật chất, kinh phí… Việc tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với xã hội hóa giám định tư pháp ở Hà Nội cần được chú trọng hơn về các nội dung cụ thể như sau: (i) Đổi mới nhận thức, tư duy về nội dung, cách thức quản lý giám định tư pháp khi đẩy mạnh xã hội hóa như cần tạo cơ chế huy động, tạo điều kiện cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn tham gia vào hoạt động giám định tư pháp; có chính sách ưu đãi, thu hút cá nhân, tổ chức làm giám định tư pháp trên địa bàn thủ đô; (ii) Đẩy mạnh việc khuyến khích, hỗ trợ thành lập, hoạt động của Văn phòng giám định tư pháp ở các lĩnh vực theo quy định của pháp luật; (iii) Tăng cường phổ biến, quán triệt về chủ trương xã hội hóa giám định tư pháp, nhất là cần xóa bỏ tư duy coi trọng và chỉ tin tưởng vào các cơ quan chuyên môn của Nhà nước trong trưng cầu và đánh giá, sử dụng kết luận giám định; (iv) Tạo điều kiện và bảo đảm cho các tổ chức giám định tư pháp công lập được cung cấp dịch vụ giám định cho người dân, tổ chức, cơ quan quản lý, bên cạnh việc phục vụ tố tụng; (v) Phân định rõ hơn nữa nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý, cơ quan tố tụng đối với công tác giám định tư pháp, đối với việc thực hiện xã hội hóa giám định tư pháp trên địa bàn; (vi) Thiết lập và tăng cường cơ chế thông tin, phối hợp giữa các cơ quan quản lý và các cơ quan tiến hành tố tụng để bảo đảm điều kiện về giám định tư pháp; (vii) Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động giám định tư pháp của các tổ chức giám định tư pháp công lập, theo vụ việc và ngoài công lập; (viii) Tăng cường tính chủ động, phản ứng chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước về giám định tư, kịp thời tham mưu, có giải pháp khắc phục các vướng mắc, khó khăn trên thực tế; (ix) Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, giám định tư pháp ở các lĩnh vực để hỗ trợ cho quản lý nhà nước trong việc giám sát, đánh giá, phản biện hiệu quả và chất lượng của hoạt động giám định tư pháp được xã hội hóa.

Thứ ba, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Xã hội hóa giám định tư pháp là một nội dung của cải cách hành chính, cải cách tư pháp, vì vậy phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết nhằm định hướng đảm bảo sự ổn định chính trị, giữ vững bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân trong quá trình thực hiện xã hội hóa giám định tư pháp. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và vai trò tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp thuộc các lĩnh vực giám định tư pháp là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự thành công của quá trình xã hội hóa giám định tư pháp ở nước ta.

Thứ tư, tăng cường đội ngũ cán bộ giám định tư pháp đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, trình độ chuyên môn cao

Để có đội ngũ cán bộ giám định tư pháp đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, trình độ chuyên môn cao; có nghiệp vụ giám định và kiến thức pháp lý cần thiết để phục vụ đắc lực hoạt động tố tụng, cần xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống tổ chức giám định tư pháp, tổ chức chuyên môn có khả năng tham gia giám định tư pháp trên phạm vi cả nước đến năm 2025 và các năm tiếp theo; hình thành và phát triển mạng lưới các tổ chức chuyên môn trong các lĩnh vực giám định: Văn hoá, kế toán - tài chính, xây dựng, môi trường và các lĩnh vực khác đáp ứng kịp thời yêu cầu giám định tư pháp của hoạt động tố tụng. Đồng thời, cần thống kê, rà soát, đánh giá nguồn nhân lực trong đội ngũ người giám định tư pháp làm cơ sở cho việc quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực.

Thứ năm, chú trọng công tác bồi dưỡng nghiệp vụ giám định tư pháp

Thời gian qua, Sở Tư pháp đã tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội tổ chức một số buổi tập huấn bồi dưỡng kiến thức pháp lý cần thiết cho đội ngũ người làm giám định trong lĩnh vực xây dựng, tài chính, pháp y, kỹ thuật hình sự, thông tin và truyền thông, văn hóa. Tuy nhiên, thời lượng còn rất ngắn, gói gọn trong một buổi sáng nên chưa đủ thời gian vật chất để truyền đạt đầy đủ, kỹ lưỡng những kiến thức, kỹ năng cần thiết. Vì vậy, cần quan tâm tăng cường tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu ở các lĩnh vực giám định theo hướng tổ chức hoặc cử người tham dự các khóa tập huấn, bồi dưỡng mà các Bộ, ngành ở Trung ương tổ chức theo chuyên đề của từng lĩnh vực để giúp đội ngũ làm giám định được trang bị, cập nhật đầy đủ, kịp thời các kiến thức mới, kỹ năng mới, công nghệ khoa học mới trong hoạt động giám định ở từng lĩnh vực.

Thứ sáu, chú trọng hỗ trợ cho hoạt động giám định tư pháp ngoài nhà nước

Hoạt động giám định có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau (tài chính, xây dựng, kỹ thuật chuyên ngành...), cần phải có sự phối hợp của nhiều ngành khác nhau, tuy nhiên, thực tế cho thấy, công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa hiệu quả. Mặc dù các sở, ngành chuyên môn đã quan tâm hơn đến công tác giám định thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý, nhưng vẫn chưa thật sự tạo điều kiện tốt nhất cho giám định viên tư pháp. Đặc biệt, đội ngũ giám định viên tư pháp ở một số nơi không được bổ nhiệm mới, độ tuổi trung bình đều đã ngoài 50 tuổi. Để đáp ứng nhu cầu và nâng cao chất lượng giám định tư pháp, cần nghiên cứu, xây dựng cơ chế riêng để thu hút nguồn lực theo hướng xã hội hóa giám định tư pháp, xây dựng cơ chế ưu đãi riêng đối với các tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập (ngoài việc miễn thuế của Trung ương thì có thể ưu đãi thêm các vấn đề khác như miễn thuế đất đai, tạo điều kiện vay tiền mua trang thiết bị...).

Thứ bảy, bảo đảm nguồn kinh phí hợp lý cho việc xã hội hóa giám định tư pháp

Kinh phí cũng là một nguyên nhân ngăn cản tiến trình xã hội hóa giám định tư pháp, vì các cơ quan tiến hành tố tụng không đủ khả năng chi trả trưng cầu giám định ngoài Nhà nước vì ngân sách dành cho giám định tư pháp thường được dự toán chung với kinh phí điều tra, nên gần như không tận dụng nguồn xã hội hóa này. Giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong xã hội hóa giám định tư pháp là có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các văn phòng giám định tư pháp nhất là trong thời gian đầu mới thành lập.

Thứ tám, tăng cường sự quan tâm, chỉ đạo về công tác giám định tư pháp của một số sở, ngành có liên quan

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, xã hội hóa giám định tư pháp ở Hà Nội cũng còn một số hạn chế như cơ chế thu hút đội ngũ chuyên gia giỏi tham gia hoạt động giám định tư pháp chậm được ban hành; sự quan tâm, chỉ đạo về công tác giám định tư pháp của một số sở, ngành có liên quan còn hạn chế; cán bộ thực hiện nhiệm vụ này còn thiếu; việc củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức, bảo đảm cơ sở vật chất cho các tổ chức giám định tư pháp thực hiện chậm, chưa đáp ứng tốt nhu cầu đặt ra, nhất là tổ chức giám định pháp y... Do vậy, cần tăng cường hơn nữa sự quan tâm của các sở, ngành có liên quan đối với công tác giám định

2. Về lộ trình xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp

Để đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp trong thời gian tới, cần có những bước đi, lộ trình phù hợp với tính chất, đặc thù trên cơ sở quy định của pháp luật và yêu cầu thực tế. Theo quan điểm của chúng tôi, lộ trình xã hội hóa giám định tư pháp nên được chia ra làm hai giai đoạn gồm:

Một là, giai đoạn từ nay cho đến khi Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp và Luật Giám định tư pháp được sửa đổi, bổ sung

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Giám định tư pháp, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt động giám định tư pháp;

- Tổng kết, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém trong quá trình tổ chức thực hiện Luật Giám định tư pháp kể từ khi ban hành để có cơ sở thực tiễn sửa đổi, bổ sung Luật này nhằm tạo cở sở pháp lý đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp;

- Hình thành mạng lưới các tổ chức chuyên môn có đủ điều kiện, năng lực thực hiện giám định tư pháp ở tất cả các lĩnh vực ngành, nghề, trong đó, chú trọng đến các lĩnh vực: Văn hóa, môi trường, xây dựng, khoa học - công nghệ, nông, lâm nghiệp, truyền thông…;

- Ban hành chính sách ưu đãi để khuyến khích, thu hút sự tham gia của các tổ chức chuyên môn, đội ngũ chuyên gia ở các lĩnh vực tham gia vào hoạt động giám định tư pháp;

- Có kế hoạch đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giám định chuyên nghiệp ở các tổ chức giám định chuyên trách và tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, kiến thức pháp luật thường xuyên cho đội ngũ người giám định tư pháp.

Hai là, giai đoạn sau khi Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp và Luật Giám định tư pháp được sửa đổi, bổ sung

- Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến giám tư pháp của pháp luật tố tụng.

- Thí điểm thực hiện tự trang trải về mặt tài chính đối với các tổ chức pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự; mở rộng việc thực hiện chức năng giám định phục vụ nhu cầu dân sự của tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật. Nhà nước có cơ chế hỗ trợ để các tổ chức này thực hiện chức năng nghiên cứu, ứng dụng, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công tác giám định tư pháp.

Đối với các lĩnh vực giám định khác, trên cơ sở quy hoạch phát triển đội ngũ giám định viên và hệ thống mạng lưới các tổ chức chuyên môn thực hiện giám định tư pháp, hoàn thiện quy chuẩn chuyên môn, quy trình giám định, chính sách khuyến khích thu hút… nhằm huy động rộng rãi các chuyên gia có uy tín, các tổ chức chuyên môn có thương hiệu nghề nghiệp tham gia vào hoạt động giám định tư pháp.

Định hướng phát triển những năm tiếp theo, sau khi định hình mô hình tổ chức các cơ quan tư pháp tương thích với khu vực và quốc tế, có thể nghiên cứu để thực hiện xã hội hoá giám định tư pháp ở phạm vi rộng hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Trần Đông Tùng

Phó Viện trưởng Viện Khoa học Chính sách và Pháp luật



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: