Thứ tư 26/08/2026 01:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số kiến nghị sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Trong bài viết này, tác giả phân tích một số hạn chế của các quy định pháp luật liên quan đến đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện.


1. Một số hạn chế của các quy định pháp luật liên quan đến đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hộ tịch là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, pháp luật hộ tịch đã bộc lộ một số hạn chế, cụ thể:

1.1. Chưa rõ ràng trong việc quy định hình thức cư trú của người chết khi thực hiện đăng ký khai tử cho người nước ngoài tại khu vực biên giới

Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 7 Luật Hộ tịch, Ủy ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới có thẩm quyền đăng ký “khai tử cho người nước ngoài cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt Nam”.

Quy định nêu trên chưa rõ ràng, không thể xác định sự khác biệt giữa “cư trú ổn định lâu dài” và “cư trú không ổn định lâu dài”. Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hộ tịch và pháp luật cư trú không quy định khái niệm “cư trú ổn định lâu dài”. Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 cũng chỉ nêu khái niệm “cư trú”, chứ không nêu khái niệm “cư trú ổn định lâu dài”[1].

Để khắc phục hạn chế nêu trên, khoản 1 Điều 20 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (Nghị định số 123/2015/NĐ-CP) quy định như sau: “Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký khai tử cho người chết là người nước ngoài cư trú tại xã đó”. Quy định này rõ ràng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới trong đăng ký khai tử cho người nước ngoài tại khu vực biên giới.

Tuy nhiên, khi so sánh hai quy định nêu trên, chúng ta nhận thấy quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP không thống nhất với quy định tại điểm d khoản 1 Điều 7 Luật Hộ tịch. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 7 Luật Hộ tịch, người chết được đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã nơi họ cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt Nam. Còn theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, người chết được đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã nơi họ cư trú (không cần phải ổn định lâu dài).

1.2. Có sự khác biệt khá lớn trong hồ sơ đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới

Theo quy định tại Điều 30 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và khoản 1 Điều 38 Luật Hộ tịch, hồ sơ đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Ủy ban nhân dân cấp huyện bao gồm:

- Tờ khai đăng ký kết hôn;

- Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài;

- Bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu;

- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đăng ký kết hôn không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cho cơ quan đăng ký hộ tịch;

- Nếu bên kết hôn là công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì còn phải nộp bản sao trích lục hộ tịch về việc đã ghi vào sổ việc ly hôn hoặc hủy việc kết hôn; nếu là công chức, viên chức hoặc đang phục vụ trong lực lượng vũ trang thì phải nộp văn bản của cơ quan, đơn vị quản lý xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không trái với quy định của ngành đó.

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, hồ sơ đăng ký kết hôn của công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Ủy ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới chỉ bao gồm:

- Tờ khai đăng ký kết hôn;

- Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài;

- Bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của công dân nước láng giềng.

So sánh hai loại hồ sơ nêu trên, thì hồ sơ đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Ủy ban nhân dân cấp huyện đầy đủ hơn, dự tính trước nhiều tình huống có thể xảy ra liên quan đến người đăng ký kết hôn như: Năng lực hành vi dân sự của người đăng ký kết hôn; bên kết hôn là công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài; bên kết hôn là công dân Việt Nam là công chức, viên chức hoặc đang phục vụ trong lực lượng vũ trang của Việt Nam. Hồ sơ đăng ký kết hôn của công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Ủy ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới còn khá sơ sài, không dự tính trước các tình huống có thể xảy ra liên quan đến người đăng ký kết hôn như đã nêu ở trên.

1.3. Không quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện cấp

Điều 76 Luật Hộ tịch quy định Chính phủ có thẩm quyền quy định việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam. Để cụ thể hóa Điều 76 Luật Hộ tịch, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP đã quy định cụ thể việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam tại các điều 10, 21, 22 và 23.

Điều 10 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định người yêu cầu đăng ký kết hôn nộp bản chính giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định sau:

“1. Trường hợp đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà người yêu cầu đăng ký kết hôn không thường trú tại xã, phường, thị trấn nơi đăng ký kết hôn thì phải nộp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền cấp theo quy định tại các điều 21, 22 và 23 của Nghị định này.

Trường hợp đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp huyện thì người yêu cầu đăng ký kết hôn đang cư trú ở trong nước phải nộp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền cấp theo quy định tại các điều 21, 22 và 23 của Nghị định này.

2. Trường hợp người yêu cầu đăng ký kết hôn đang công tác, học tập, lao động có thời hạn ở nước ngoài thì phải nộp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là Cơ quan đại diện) cấp”.

Từ những quy định trên cho thấy, các Điều 21, 22 và 23 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP chỉ quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp như: Thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; giá trị pháp lý của giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hộ tịch đã không quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện cấp. Chính vì vậy, việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho những người yêu cầu đăng ký kết hôn đang công tác, học tập, lao động có thời hạn ở nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn và vướng mắc.

1.4. Không hợp lý trong việc phân định thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch giữa Ủy ban nhân dân cấp huyện và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

Theo các quy định tại Chương 3 và Chương 4 Luật Hộ tịch, Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch cho “công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài”, còn Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài chỉ có thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch cho “công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 02/2016/TTLT-BNG-BTP ngày 30/6/2016 của Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thì “công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài là người đang có quốc tịch Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài”; còn theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 thì “người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

Như vậy, mặc dù có khác nhau về thời hạn cư trú, nhưng cả hai đối tượng này đều là những công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài và nhiều người trong số họ thường xuyên đi về Việt Nam và ra nước ngoài. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Hộ tịch thì “công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài” chỉ được đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, “công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài” chỉ được đăng ký hộ tịch tại Cơ quan đại diện Việt Nam là không hợp lý. Sự không hợp lý đó được thể hiện như sau:

- Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài có thời gian cư trú lâu dài ở nước ngoài (phần lớn những người này ở nước ngoài nhiều hơn ở Việt Nam), nhưng chỉ được đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp huyện mà không được đăng ký hộ tịch tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

- Có nhiều công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài là người tạm trú ở nước ngoài (phần lớn những người này có thời gian ở nước ngoài không nhiều), nhưng chỉ được đăng ký hộ tịch tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài mà không được đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp huyện.

2. Một số kiến nghị sửa đổi các quy định của pháp luật liên quan đến đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

2.1. Cần quy định rõ ràng hình thức cư trú của người chết khi thực hiện đăng ký khai tử cho người nước ngoài tại khu vực biên giới

Các quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP rõ ràng, cụ thể hơn, tuy nhiên lại chưa thực sự phù hợp với quy định tại đoạn thứ ba của điểm d khoản 1 Điều 7 Luật Hộ tịch trong việc quy định việc đăng ký khai tử cho người nước ngoài chết tại khu vực biên giới. Về nguyên tắc, khi có sự mâu thuẫn giữa nghị định và luật thì cần áp dụng luật, tuy nhiên trên thực tế, các cơ quan nhà nước thường áp dụng nghị định, điều này đã làm ảnh hưởng đến tính tối cao của Hiến pháp và luật - một đặc điểm quan trọng của Nhà nước pháp quyền.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện trên thực tế, trong trường hợp này, trước tiên, Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới tạm thời áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP để thực hiện đăng ký khai tử cho người nước ngoài chết tại khu vực biên giới. Tuy nhiên, trong thời gian tới, cần sửa đổi đoạn thứ ba của điểm d khoản 1 Điều 7 Luật Hộ tịch, theo đó “Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký khai tử cho người chết là người nước ngoài cư trú tại xã đó”.

2.2. Cần bổ sung một số giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn của công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Ủy ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới

So với hồ sơ đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Ủy ban nhân dân cấp huyện thì hồ sơ đăng ký kết hôn của công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Ủy ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới còn quá sơ sài, không dự tính trước các tình huống có thể xảy ra liên quan đến người đăng ký kết hôn. Do đó, cần quy định bổ sung hồ sơ đăng ký kết hôn của công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Ủy ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới. Theo đó, ngoài những giấy tờ đã được quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, người đăng ký kết hôn phải nộp thêm các giấy tờ sau:

- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đăng ký kết hôn không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

- Nếu bên kết hôn là công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì còn phải nộp bản sao trích lục hộ tịch về việc đã ghi vào sổ việc ly hôn hoặc hủy việc kết hôn; nếu là công chức, viên chức hoặc đang phục vụ trong lực lượng vũ trang thì phải nộp văn bản của cơ quan, đơn vị quản lý xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không trái với quy định của ngành đó.

2.3. Cần quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện cấp

Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hộ tịch đã không quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện cấp. Để tạo điều kiện dễ dàng cho Cơ quan đại diện trong việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, cần sửa đổi Nghị định số 123/2015/NĐ-CP theo hướng quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện cấp như: Thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; giá trị pháp lý của giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện cấp.

2.4. Cần bổ sung thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc đăng ký hộ tịch cho “công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài” và “công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài”

Để giải quyết sự bất hợp lý trong việc phân định thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch giữa Ủy ban nhân dân cấp huyện và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cần bổ sung thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Cơ quan đại diện, theo đó, cả hai cơ quan này đều có thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch cho “công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài” và “công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài”. Làm được như vậy sẽ thực sự tạo điều kiện cho cả hai đối tượng nêu trên trong việc đăng ký hộ tịch, khi ở nước ngoài “công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài” và “công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài” đều được đăng ký hộ tịch tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, khi ở Việt Nam họ đều được đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp huyện.

ThS. Trần Việt Dũng

Đại học Luật thuộc Đại học Huế





[1]. Theo các quy định tại Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014, thì “cư trú là việc người nước ngoài thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: