Thứ sáu 16/01/2026 10:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014

Luật Công chứng năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật) được Quốc hội khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ 7, đã chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015. Việc thông qua Luật này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc tiếp tục khẳng định, nâng cao vai trò, vị trí của hoạt động công chứng, chức năng xã hội của công chứng viên trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, thực hiện nghĩa vụ với Liên minh Công chứng Quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập.Việc triển khai thi hành Luật kịp thời, đồng bộ, đúng quy định là yếu tố quyết định nhằm đưa các quy định của Luật đi vào cuộc sống.

Bên cạnh các công việc thường xuyên, các cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền vàliên quan khi triển khai thi hành Luật, cần nhận diện và xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, lâu dài để có giải pháp đáp ứng được yêu cầu triển khai thi hành một đạo luật lớn có tác động trực tiếp đến nhiều chủ thể chịu sự điều chỉnh của Luật, trong đó phải kể đến cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, đội ngũ công chứng viên hành nghề, cơ quan có thẩm quyền quản lý về tổ chức và hoạt động công chứng...

1. Một số công việc đã thực hiện trong quá trình triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014

Sau khi Luật Công chứng năm 2014 được Quốc hội thông qua, chỉ trong thời gian ngắn, các cơ quan, tổ chức, đơn vị đã triển khai đồng thời nhiều nội dung công việc trong điều kiện có thể bao gồm: (1) Xây dựng Kế hoạch triển khai thi hành Luật; (2) Tuyên truyền, phổ biến Luật; (3) Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động công chứng để sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung; (4) Xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật; (5) Thành lập tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên; (6) Xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng và ban hành quy chế khai thác, sử dụng và (7) Thanh tra, kiểm tra thực hiện Luật. Một số kết quả đạt được như:

Ngày 01/10/2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 2250/QĐ-BTP về Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công chứng số 53/2014/QH13 ngày 20/6/2014, xác định rõ nội dung công việc cần thực hiện, thời gian thực hiện và phân công trách nhiệm cụ thể cho các bộ, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan có liên quan nhằm đảm bảo triển khai thi hành Luật đồng bộ, thống nhất và hiệu quả trong phạm vi cả nước.

Ngày 15/3/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng năm 2014 (Nghị định số 29/2015/NĐ-CP).

Ngày 15/4/2015, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 04/2015/TT-BTP hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng và hiện nay Dự thảo Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng cũng đang được Bộ Tư pháp hoàn thiện để ban hành trong thời gian tới.

Ngày 21/4/2015, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 54/2015/TT-BTC quy định thu phí sát hạch bổ nhiệm công chứng viên; lệ phí cấp thẻ công chứng viên, cấp giấy đăng ký hoạt động. Thông tư liên tịch Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp quy định về phí, lệ phí trong hoạt động công chứng cũng đang trong quá trình xem xét, ban hành.

Tính đến hết ngày 30/12/2014, trong phạm vi cả nước đã có 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành được Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công chứng chiếm gần 1/2 số địa phương ban hành Kế hoạch theo đúng tiến độ yêu cầu. Kế hoạch triển khai của các địa phương đều bám sát Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công chứng ban hành kèm theo Quyết định số 2250/QĐ-BTP ngày 01/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về cả nhiệm vụ và tiến độ thực hiện, tập trung vào những nhiệm vụ được giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp chủ trì thực hiện. Các nhiệm vụ quan trọng như: Xây dựng Quyết định quy định mức trần thù lao công chứng áp dụng đối với các tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương và Quyết định quy định tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng, thành lập Hội công chứng được đa số địa phương xác định thời hạn thực hiện là năm 2015 hoặc triển khai thực hiện từ năm 2015.

Bên cạnh những nhiệm vụ, công việc được phân công theo Kế hoạch do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, một số địa phương đã xác định được những nhiệm vụ, công việc phù hợp với tình hình tổ chức, hoạt động công chứng tại địa phương mình như: Xác định nhiệm vụ lập và công bố danh sách tổ chức hành nghề công chứng; đánh giá về tổ chức, chất lượng hoạt động công chứng ở địa phương (tỉnh Cà Mau); xác định thêmnhiệm vụ phát triển các tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương theo định hướng xã hội hóa (tỉnh Quảng Bình); xác định nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng mô hình liên thông trong hoạt động công chứng - thuế - đăng ký, tổ chức hội thảo, hội nghị hàng năm để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đăng ký, giao dịch bảo đảm (tỉnh Sơn La)…Song song với việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014, một số địa phương đã khẩn trương chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ được đặt ra trong Kế hoạch như: Tỉnh Kon Tum đã thực hiện rà soát văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh; TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức các buổi tuyên truyền, tập huấn những quy định mới về công chứng; hướng dẫn các tổ chức hành nghề công chứng công tác chuẩn bị và thực hiện quy định mới của Luật về dịch thuật, chứng thực, chuyển đổi mô hình hoạt động, kịp thời báo cáo xin ý kiến vướng mắc liên quan đến công tác chuyển giao…

2. Một số nhiệm vụ trọng tâm cần triển khai trong năm 2015 và những năm tiếp theo

Bên cạnh việc hoàn thiện, ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Công chứng năm 2014, thì trong năm 2015 và các năm tiếp theo cũng là thời điểm quan trọng quyết định chất lượng triển khai thi hành Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, tác động trực tiếp đến số lượng, chất lượng đội ngũ công chứng viên, quy mô và tính chuyên nghiệp của các tổ chức hành nghề công chứng cũng như hiệu quả hoạt động hành nghề công chứng. Do vậy, các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan cần xác định một số nhiệm vụ trọng tâm cần được ưu tiên thực hiện, cụ thể:

Thứ nhất, việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014 là cơ sở để xác định rõ các nội dung hoạt động, cơ quan chịu trách nhiệm, thời gian thực hiện... nhằm bảo đảm Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành được triển khai hiệu quả và thống nhất trong phạm vi cả nước. Đối với các bộ, ngành, địa phương chưa ban hành được Kế hoạch triển khai, thì những tháng còn lại của năm 2015 phải khẩn trương ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch này. Nội dung Kế hoạch cần căn cứ theo Quyết định số 2250/QĐ-BTP ngày 01/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư phápvà phù hợp với tình hình thực tiễn, quản lý của mình. Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương còn chưa ban hành các văn bản hướng dẫn trên cơ sở các quy định của Luật như: Quy định mức trần thù lao công chứng; tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập; xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng, phải ban hành sớm, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thi hành Luật tại địa phương. Riêng việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng đây là công việc lớn, phức tạp, đòi hỏi phải có thời gian và sự phối hợp của các sở, ban, ngành… do vậy, các địa phương phải đưa ra lộ trình cụ thể để hoàn thành công việc này.

Về phía trung ương, ngoài việc ban hành Thông tư số 54/2015/TT-BTC ngày 21/4/2015 của Bộ Tài chính quy định thu phí sát hạch bổ nhiệm công chứng viên; lệ phí cấp thẻ công chứng viên, cấp giấy đăng ký hoạt động, còn một số văn bản khác liên quan trực tiếp đến quá trình triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014 cũng cần được các cơ quan, tổ chức, đơn vị quan tâm tiếp tục hoàn chỉnh để sớm ban hành như: Thông tư của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng năm 2014; Thông tư liên tịch Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp sửa đổi Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 19/01/2012 hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng; Quyết định quy định chương trình khung đào tạo, khóa bồi dưỡng nghề công chứng...

Tiếp tục phổ biến, tuyên truyền, tập huấn các quy định của Luật Công chứng năm 2014, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành bằng các hình thức phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế của địa phương và từng đối tượng, địa bàn, đổi mới, đa dạng cách thức phổ biến, tuyên truyền, tập huấn để đạt hiệu quả cao như: Tập huấn, biên soạn, phát hành các tài liệu phổ biến, giới thiệu Luật; phối hợp với các cơ quan báo chí tổ chức thực hiện các chuyên mục, chương trình, tin, bài phổ biến Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ưu tiên nhấn mạnh tuyên truyền, phổ biến, tập huấn những nội dung mới, phức tạp của Luật như: Thẩm quyền thực hiện các việc mới được giao cho công chứng viên; chuyển đổi Phòng công chứng; tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên... - nhiệm vụ này được thực hiện cả ở trung ương và địa phương.

Thứ hai, thành lập tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên

Luật Công chứng năm 2014, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP đã quy định tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên là tổ chức tự quản được thành lập ở cấp trung ương và cấp tỉnh để đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các công chứng viên; ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng, quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; tham gia cùng cơ quan nhà nước trong việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập sự hành nghề công chứng; tham gia ý kiến với cơ quan có thẩm quyền trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng, chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng và thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến hoạt động công chứng theo quy định của Chính phủ.

Trong năm 2015 và những năm tiếp theo việc đẩy mạnh thành lập Hội công chứng viên ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải được coi trọng1. Ngay trong năm 2015, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải quan tâm, chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với Sở Nội vụ và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tạo điều kiện cho các công chứng viên ở địa phương mình thực hiện một số quy trình cần thiết theo quy định để thành lập Hội công chứng viên cấp tỉnh, phấn đấu trong năm 2015 sẽ có khoảng 1/2 số địa phương trong cả nước thành lập được Hội công chứng viên hoặc xây dựng được Đề án thành lập Hội công chứng viên. Đây cũng là một trong các tiêu chí chấm điểm xếp hạng các Sở Tư pháp năm 2015. Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có Hội công chứng viên cần chủ động trong việc củng cố, kiện toàn tổ chức của Hội, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để có thể thực hiện tốt những nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của Luật,Nghị định số 29/2015/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn. Hội công chứng viên cần hướng dẫn, tạo điều kiện để cho các công chứng viên hành nghề tại địa phương chưa tham gia Hội nhanh chóng trở thành hội viên và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của hội viên.Cùng với việc đẩy nhanh tiến độ thành lập Hội công chứng viên tại các địa phương, việc xây dựng Đề án thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam tiếp tục được Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với Bộ Nội vụ và các bộ, ngành có liên quan hoàn chỉnh để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt. Nội dung của Đề án một mặt phải phù hợp với các quy định của Luật Công chứng năm 2014, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP, đồng thời cũng phải phù hợp với tình hình thực tiễn, có tính khả thi cao để Hiệp hội có thể được thành lập ngay sau khi Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Thứ ba, cần tăng cường công tác quản lý nhà nước, thanh tra kiểm tra về tổ chức và hoạt động công chứng

Bên cạnh những nhiệm vụ cần được ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2014 - 2016, các nhiệm vụ quản lý thường xuyên khác cũng cần được các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc theo quy định của Luật, như: Công tác quản lý thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động công chứng theo thẩm quyền… Các địa phương cũng cần quan tâm chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, con người để thực hiện tốt nhiệm vụ mới theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 như: Việc đăng ký hành nghề và cấp thẻ cho công chứng viên; việc công chứng bản dịch và chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thựcchữ ký trong giấy tờ, văn bản... Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Luật Công chứng năm 2014 không chỉ được thực hiện ở trong nước mà còn cả với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ tư, cần đánh giá hoạt động các Phòng công chứng tại địa phương để xây dựng Kế hoạch chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứngChuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng là quy định mới, chưa có tiền lệ trong quản lý hoạt động công chứng, có liên quan đến quyền lợi của công chứng viên, viên chức, người lao động và nhiều sở, ban, ngành trong phạm vi địa phương. Do vậy, trên cơ sở quy định của Luật và Nghị định số 29/2015/NĐ-CP, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần tiến hành đánh giá toàn diện về tổ chức và hoạt động của các Phòng công chứng trong phạm vi địa phương để có tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chuyển đổi được chính xác, khách quan, đúng quy định, phù hợp với nguyện vọng của công chứng viên, viên chức, người lao động, do vậy, cần phải thực hiện chặt chẽ từ khâu khảo sát, đánh giá mức độ phát triển, sự cần thiết chuyển đổi... các Phòng công chứng tại địa phương. Trên cơ sở đó, Sở Tư pháp chủ trì và phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan xây dựng Kế hoạch chuyển đổi, Đề án chuyển đổi Phòng công chứng đúng với tiêu chí, bảo đảm việc chuyển đổi đúng các nguyên tắc, yêu cầu, trình tự, điều kiện của địa phương

ThS. Đỗ Hoàng Yến

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: