Thứ ba 22/09/2026 02:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014

Luật Công chứng năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật) được Quốc hội khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ 7, đã chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015. Việc thông qua Luật này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc tiếp tục khẳng định, nâng cao vai trò, vị trí của hoạt động công chứng, chức năng xã hội của công chứng viên trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, thực hiện nghĩa vụ với Liên minh Công chứng Quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập.Việc triển khai thi hành Luật kịp thời, đồng bộ, đúng quy định là yếu tố quyết định nhằm đưa các quy định của Luật đi vào cuộc sống.

Bên cạnh các công việc thường xuyên, các cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền vàliên quan khi triển khai thi hành Luật, cần nhận diện và xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, lâu dài để có giải pháp đáp ứng được yêu cầu triển khai thi hành một đạo luật lớn có tác động trực tiếp đến nhiều chủ thể chịu sự điều chỉnh của Luật, trong đó phải kể đến cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, đội ngũ công chứng viên hành nghề, cơ quan có thẩm quyền quản lý về tổ chức và hoạt động công chứng...

1. Một số công việc đã thực hiện trong quá trình triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014

Sau khi Luật Công chứng năm 2014 được Quốc hội thông qua, chỉ trong thời gian ngắn, các cơ quan, tổ chức, đơn vị đã triển khai đồng thời nhiều nội dung công việc trong điều kiện có thể bao gồm: (1) Xây dựng Kế hoạch triển khai thi hành Luật; (2) Tuyên truyền, phổ biến Luật; (3) Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động công chứng để sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung; (4) Xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật; (5) Thành lập tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên; (6) Xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng và ban hành quy chế khai thác, sử dụng và (7) Thanh tra, kiểm tra thực hiện Luật. Một số kết quả đạt được như:

Ngày 01/10/2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 2250/QĐ-BTP về Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công chứng số 53/2014/QH13 ngày 20/6/2014, xác định rõ nội dung công việc cần thực hiện, thời gian thực hiện và phân công trách nhiệm cụ thể cho các bộ, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan có liên quan nhằm đảm bảo triển khai thi hành Luật đồng bộ, thống nhất và hiệu quả trong phạm vi cả nước.

Ngày 15/3/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng năm 2014 (Nghị định số 29/2015/NĐ-CP).

Ngày 15/4/2015, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 04/2015/TT-BTP hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng và hiện nay Dự thảo Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng cũng đang được Bộ Tư pháp hoàn thiện để ban hành trong thời gian tới.

Ngày 21/4/2015, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 54/2015/TT-BTC quy định thu phí sát hạch bổ nhiệm công chứng viên; lệ phí cấp thẻ công chứng viên, cấp giấy đăng ký hoạt động. Thông tư liên tịch Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp quy định về phí, lệ phí trong hoạt động công chứng cũng đang trong quá trình xem xét, ban hành.

Tính đến hết ngày 30/12/2014, trong phạm vi cả nước đã có 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành được Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công chứng chiếm gần 1/2 số địa phương ban hành Kế hoạch theo đúng tiến độ yêu cầu. Kế hoạch triển khai của các địa phương đều bám sát Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công chứng ban hành kèm theo Quyết định số 2250/QĐ-BTP ngày 01/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về cả nhiệm vụ và tiến độ thực hiện, tập trung vào những nhiệm vụ được giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp chủ trì thực hiện. Các nhiệm vụ quan trọng như: Xây dựng Quyết định quy định mức trần thù lao công chứng áp dụng đối với các tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương và Quyết định quy định tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng, thành lập Hội công chứng được đa số địa phương xác định thời hạn thực hiện là năm 2015 hoặc triển khai thực hiện từ năm 2015.

Bên cạnh những nhiệm vụ, công việc được phân công theo Kế hoạch do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, một số địa phương đã xác định được những nhiệm vụ, công việc phù hợp với tình hình tổ chức, hoạt động công chứng tại địa phương mình như: Xác định nhiệm vụ lập và công bố danh sách tổ chức hành nghề công chứng; đánh giá về tổ chức, chất lượng hoạt động công chứng ở địa phương (tỉnh Cà Mau); xác định thêmnhiệm vụ phát triển các tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương theo định hướng xã hội hóa (tỉnh Quảng Bình); xác định nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng mô hình liên thông trong hoạt động công chứng - thuế - đăng ký, tổ chức hội thảo, hội nghị hàng năm để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đăng ký, giao dịch bảo đảm (tỉnh Sơn La)…Song song với việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014, một số địa phương đã khẩn trương chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ được đặt ra trong Kế hoạch như: Tỉnh Kon Tum đã thực hiện rà soát văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh; TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức các buổi tuyên truyền, tập huấn những quy định mới về công chứng; hướng dẫn các tổ chức hành nghề công chứng công tác chuẩn bị và thực hiện quy định mới của Luật về dịch thuật, chứng thực, chuyển đổi mô hình hoạt động, kịp thời báo cáo xin ý kiến vướng mắc liên quan đến công tác chuyển giao…

2. Một số nhiệm vụ trọng tâm cần triển khai trong năm 2015 và những năm tiếp theo

Bên cạnh việc hoàn thiện, ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Công chứng năm 2014, thì trong năm 2015 và các năm tiếp theo cũng là thời điểm quan trọng quyết định chất lượng triển khai thi hành Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, tác động trực tiếp đến số lượng, chất lượng đội ngũ công chứng viên, quy mô và tính chuyên nghiệp của các tổ chức hành nghề công chứng cũng như hiệu quả hoạt động hành nghề công chứng. Do vậy, các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan cần xác định một số nhiệm vụ trọng tâm cần được ưu tiên thực hiện, cụ thể:

Thứ nhất, việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014 là cơ sở để xác định rõ các nội dung hoạt động, cơ quan chịu trách nhiệm, thời gian thực hiện... nhằm bảo đảm Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành được triển khai hiệu quả và thống nhất trong phạm vi cả nước. Đối với các bộ, ngành, địa phương chưa ban hành được Kế hoạch triển khai, thì những tháng còn lại của năm 2015 phải khẩn trương ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch này. Nội dung Kế hoạch cần căn cứ theo Quyết định số 2250/QĐ-BTP ngày 01/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư phápvà phù hợp với tình hình thực tiễn, quản lý của mình. Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương còn chưa ban hành các văn bản hướng dẫn trên cơ sở các quy định của Luật như: Quy định mức trần thù lao công chứng; tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập; xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng, phải ban hành sớm, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thi hành Luật tại địa phương. Riêng việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng đây là công việc lớn, phức tạp, đòi hỏi phải có thời gian và sự phối hợp của các sở, ban, ngành… do vậy, các địa phương phải đưa ra lộ trình cụ thể để hoàn thành công việc này.

Về phía trung ương, ngoài việc ban hành Thông tư số 54/2015/TT-BTC ngày 21/4/2015 của Bộ Tài chính quy định thu phí sát hạch bổ nhiệm công chứng viên; lệ phí cấp thẻ công chứng viên, cấp giấy đăng ký hoạt động, còn một số văn bản khác liên quan trực tiếp đến quá trình triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014 cũng cần được các cơ quan, tổ chức, đơn vị quan tâm tiếp tục hoàn chỉnh để sớm ban hành như: Thông tư của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng năm 2014; Thông tư liên tịch Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp sửa đổi Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 19/01/2012 hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng; Quyết định quy định chương trình khung đào tạo, khóa bồi dưỡng nghề công chứng...

Tiếp tục phổ biến, tuyên truyền, tập huấn các quy định của Luật Công chứng năm 2014, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành bằng các hình thức phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế của địa phương và từng đối tượng, địa bàn, đổi mới, đa dạng cách thức phổ biến, tuyên truyền, tập huấn để đạt hiệu quả cao như: Tập huấn, biên soạn, phát hành các tài liệu phổ biến, giới thiệu Luật; phối hợp với các cơ quan báo chí tổ chức thực hiện các chuyên mục, chương trình, tin, bài phổ biến Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ưu tiên nhấn mạnh tuyên truyền, phổ biến, tập huấn những nội dung mới, phức tạp của Luật như: Thẩm quyền thực hiện các việc mới được giao cho công chứng viên; chuyển đổi Phòng công chứng; tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên... - nhiệm vụ này được thực hiện cả ở trung ương và địa phương.

Thứ hai, thành lập tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên

Luật Công chứng năm 2014, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP đã quy định tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên là tổ chức tự quản được thành lập ở cấp trung ương và cấp tỉnh để đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các công chứng viên; ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng, quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; tham gia cùng cơ quan nhà nước trong việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập sự hành nghề công chứng; tham gia ý kiến với cơ quan có thẩm quyền trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng, chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng và thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến hoạt động công chứng theo quy định của Chính phủ.

Trong năm 2015 và những năm tiếp theo việc đẩy mạnh thành lập Hội công chứng viên ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải được coi trọng1. Ngay trong năm 2015, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải quan tâm, chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với Sở Nội vụ và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tạo điều kiện cho các công chứng viên ở địa phương mình thực hiện một số quy trình cần thiết theo quy định để thành lập Hội công chứng viên cấp tỉnh, phấn đấu trong năm 2015 sẽ có khoảng 1/2 số địa phương trong cả nước thành lập được Hội công chứng viên hoặc xây dựng được Đề án thành lập Hội công chứng viên. Đây cũng là một trong các tiêu chí chấm điểm xếp hạng các Sở Tư pháp năm 2015. Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có Hội công chứng viên cần chủ động trong việc củng cố, kiện toàn tổ chức của Hội, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để có thể thực hiện tốt những nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của Luật,Nghị định số 29/2015/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn. Hội công chứng viên cần hướng dẫn, tạo điều kiện để cho các công chứng viên hành nghề tại địa phương chưa tham gia Hội nhanh chóng trở thành hội viên và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của hội viên.Cùng với việc đẩy nhanh tiến độ thành lập Hội công chứng viên tại các địa phương, việc xây dựng Đề án thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam tiếp tục được Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với Bộ Nội vụ và các bộ, ngành có liên quan hoàn chỉnh để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt. Nội dung của Đề án một mặt phải phù hợp với các quy định của Luật Công chứng năm 2014, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP, đồng thời cũng phải phù hợp với tình hình thực tiễn, có tính khả thi cao để Hiệp hội có thể được thành lập ngay sau khi Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Thứ ba, cần tăng cường công tác quản lý nhà nước, thanh tra kiểm tra về tổ chức và hoạt động công chứng

Bên cạnh những nhiệm vụ cần được ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2014 - 2016, các nhiệm vụ quản lý thường xuyên khác cũng cần được các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc theo quy định của Luật, như: Công tác quản lý thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động công chứng theo thẩm quyền… Các địa phương cũng cần quan tâm chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, con người để thực hiện tốt nhiệm vụ mới theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 như: Việc đăng ký hành nghề và cấp thẻ cho công chứng viên; việc công chứng bản dịch và chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thựcchữ ký trong giấy tờ, văn bản... Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Luật Công chứng năm 2014 không chỉ được thực hiện ở trong nước mà còn cả với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ tư, cần đánh giá hoạt động các Phòng công chứng tại địa phương để xây dựng Kế hoạch chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứngChuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng là quy định mới, chưa có tiền lệ trong quản lý hoạt động công chứng, có liên quan đến quyền lợi của công chứng viên, viên chức, người lao động và nhiều sở, ban, ngành trong phạm vi địa phương. Do vậy, trên cơ sở quy định của Luật và Nghị định số 29/2015/NĐ-CP, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần tiến hành đánh giá toàn diện về tổ chức và hoạt động của các Phòng công chứng trong phạm vi địa phương để có tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chuyển đổi được chính xác, khách quan, đúng quy định, phù hợp với nguyện vọng của công chứng viên, viên chức, người lao động, do vậy, cần phải thực hiện chặt chẽ từ khâu khảo sát, đánh giá mức độ phát triển, sự cần thiết chuyển đổi... các Phòng công chứng tại địa phương. Trên cơ sở đó, Sở Tư pháp chủ trì và phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan xây dựng Kế hoạch chuyển đổi, Đề án chuyển đổi Phòng công chứng đúng với tiêu chí, bảo đảm việc chuyển đổi đúng các nguyên tắc, yêu cầu, trình tự, điều kiện của địa phương

ThS. Đỗ Hoàng Yến

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: