Thứ năm 22/01/2026 11:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số nội dung về thừa phát lại

Thuật ngữ Thừa phát lại có lẽ xuất hiện ở Việt Nam song hành với việc Vua Tự Đức ký Hòa ước ngày 05/6/1862 nhượng cho Pháp 06 tỉnh Nam kỳ. Chế định Thừa phát lại ở Việt Nam đã tồn tại trong suốt thời kỳ Pháp thuộc và thời gian đầu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa mới giành được chính quyền (cho đến ngày 22/5/1950, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL).

Ở miền Nam, chế định Thừa phát lại tiếp tục tồn tại đến năm 1975, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam thành công, đất nước thống nhất. Từ năm 2010, nghề Thừa phát lại được hình thành trở lại ở nước ta với định hướng xã hội hóa các hoạt động thi hành án và bổ trợ tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và định hướng phát triển nghề Thừa phát lại trong thời gian tới. Bài viết đã giới thiệu và cung cấp cho bạn đọc về một số nội dung cơ bản của nghề Thừa pháp lại ở Việt Nam, như: (i) Thừa phát lại là gì?; (ii) Nghề này có ở nước ta từ bao giờ và vì sao lại gọi là “Thừa phát lại”?; (iii) Những bước khởi động lại cho chế định Thừa phát lại; (iv) Thừa phát lại được Nhà nước giao cho làm những công việc gì?.

Thừa phát lại là gì?

Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ quy định: Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm một số công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Như vậy, Thừa phát lại không phải là công chức nhà nước, nhưng được tuyển chọn theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt và bổ nhiệm để làm những công việc thuộc thẩm quyền của Nhà nước. Khi thực hiện những công việc này, Thừa phát lại được sử dụng quyền lực nhà nước.

Nghề này có ở nước ta từ bao giờ và vì sao lại gọi là “Thừa phát lại”?

Có thể nói, thuật ngữ Thừa phát lại xuất hiện ở Việt Nam song hành với việc Thực dân Pháp áp đặt chế độ cai trị và quy chế thuộc địa lãnh thổ. Các tỉnh Nam kỳ lúc này, về phương diện pháp lý, được coi như bất cứ miền nào trong nước Pháp.

Ngày 04/02/1950, Tổng trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 111 quy định chi tiết tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại. Sau này, nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại cũng đã được ghi nhận cụ thể thêm ở Bộ luật Dân sự và Thương sự tố tụng, Bộ luật Hình sự tố tụng năm 1972.

Việc hình thành tổ chức Thừa phát lại ở Việt Nam bắt nguồn từ tổ chức Thừa phát lại ở Pháp. Do đó, về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại ở Việt Nam hầu hết đều rập khuôn theo mô hình Thừa phát lại của Pháp. Về tổ chức, chức vụ Thừa phát lại do Tổng trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm bằng nghị định, có định rõ trụ sở của Thừa phát lại và Thừa phát lại chỉ được thi hành chức vụ trong phạm vi quản hạt của Tòa sơ thẩm Dân sự mà trụ sở của họ phụ thuộc. Về nhiệm vụ, tại phiên tòa, Thừa phát lại là Hiệu dịch viên, Thừa tác viên làm công việc báo tin Tòa đăng đường, Tòa bế mạc, hay trong lúc xét xử, gọi các đương sự, người làm chứng, đồng thời chấp hành các mệnh lệnh của Chánh thẩm trong việc giữ trật tự và sự uy nghiêm của phiên tòa. Ngoài pháp đình, Thừa phát lại có bổn phận tống đạt và thi hành mọi giấy tờ về tư pháp; tống đạt giấy tờ hoặc triệu hoán trạng (tương đương giấy mời, giấy triệu tập hiện nay) ra trước Tòa để dự phiên xét xử; tống đạt giấy đòi nợ; giấy đuổi nhà; lập các tờ công chứng thư để thi hành các nội dung của bản án đã tuyên về trục xuất, phát mãi động sản hoặc bất động sản…

Thời kỳ đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chế định Thừa phát lại vẫn được công nhận và được Nhà nước giao quyền cho thực hiện nhiệm vụ của mình. Tại Sắc lệnh số 130/SL ngày 19/7/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy định: Các bản toàn sao hoặc trích sao bản án hoặc mệnh lệnh do các phòng lục sự phát cho các người đương sự để thi hành các án hoặc mệnh lệnh của Tòa án hộ đều phải có thể thức thi hành, ấn định như sau: “Vậy, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truyền cho các Thừa phát lại theo yêu cầu của đương sự thi hành bản án này, các ông Chưởng lý và Biện lý kiểm sát việc thi hành án, cai thị chỉ huy binh lực giúp đỡ mỗi khi đương sự chiếu luật yêu cầu...” .

Cho đến năm 1950 ở miền Bắc mới chấm dứt sự tồn tại của chế định Thừa phát lại. Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL về “Cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng”, theo đó, Điều 19 của Sắc lệnh này quy định: “Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của Biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án hộ, mà chính Tòa án huyện hay Tòa án trên đã tuyên”. Đồng nghĩa với việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện trước đây được thay thế bằng thẩm phán huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chánh án.

Như vậy, chế định Thừa phát lại ở Việt Nam đã tồn tại trong suốt thời kỳ Pháp thuộc và thời gian đầu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới giành được chính quyền (cho đến ngày 22/5/1950, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL). Ở miền Nam, chế định Thừa phát lại tiếp tục tồn tại đến năm 1975, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam thành công, đất nước thống nhất.

Những bước khởi động lại cho chế định Thừa phát lại

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định rõ: “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía Nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình… từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án”; “nghiên cứu chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên); trước mắt có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”.

Thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 05-KH/CCTP ngày 22/02/2006, trong đó tại Điểm 4c Mục C Phần II có nêu rõ: “Nghiên cứu mô hình tổ chức Thừa phát lại, trước mắt tổ chức thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành việc nghiên cứu trong năm 2006 để có thể tổ chức thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2007)”. Tháng 11/2008, Quốc hội thông qua Luật Thi hành án dân sự. Lần đầu tiên kể từ khi đất nước hoàn toàn giải phóng, việc tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương từ ngày Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2009) đến ngày 01/7/2012 được Nghị quyết số 24/2008/QH12 của Quốc hội về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự quy định. Triển khai Nghị quyết số 24/2008/QH12 của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP.

Tháng 11/2012, báo cáo trước Quốc hội về kết quả thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho biết, mặc dù thời gian thí điểm chưa dài (thực tế triển khai mới được khoảng 02 năm), nhưng qua tổng kết cho thấy hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được kết quả khả quan, được xã hội, người dân đón nhận tích cực.

Ngày 23/11/2012, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, giao Chính phủ tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 18/10/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP. Đồng thời đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục triển khai thí điểm chế định Thừa phát lại tại 13 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tổ chức tổng kết, xây dựng báo cáo tổng kết theo quy định. Ngày 26/11/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 107/2015/QH13 cho chính thức thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi toàn quốc.

Việc triển khai nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ với những kết quả đạt được về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thời gian qua đã khẳng định việc thực hiện chế định Thừa phát lại là một hướng đi đúng về cải cách tư pháp, phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội và hoạt động tư pháp nước ta cũng như xu thế hội nhập quốc tế. Chế định Thừa phát lại không cản trở mà còn góp phần bổ trợ, giúp cho hoạt động tư pháp hiệu quả, đúng pháp luật hơn; đồng thời góp phần thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bổ trợ tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra. Bên cạnh đó, việc thực hiện chế định Thừa phát lại tạo cơ chế để người dân, xã hội tham gia sâu hơn, tích cực hơn vào quá trình quản lý xã hội, chủ động trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, góp phần vào tiến trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tư pháp hiệu quả, trong sạch. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại trong hoạt động này như đội ngũ Thừa phát lại còn hạn chế về năng lực, kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp; các Văn phòng Thừa phát lại chưa thực sự chủ động liên hệ và quảng bá hình ảnh... Đặc biệt, tâm lý e ngại và thiếu sự tin tưởng của người dân là một vấn đề rất quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động Thừa phát lại. Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật theo Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện nhiệm vụ của Thừa phát lại, tiến tới xây dựng Luật Thừa phát lại là hợp lý và cần thiết, bảo đảm cơ sở pháp lý cho sự tồn tại lâu dài của chế định Thừa phát lại, từ đó tạo được niềm tin vủa người dân đối với chế định này.

Thừa phát lại được Nhà nước giao cho làm những công việc gì?

Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP quy định có bốn công việc Thừa phát lại được làm:

Thứ nhất, Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt các văn bản theo yêu cầu của Tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự, bao gồm: Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án trong trường hợp xử vắng mặt đương sự của Tòa án; các quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập của cơ quan thi hành án dân sự. Ngoài ra, Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự có thể thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại để tống đạt các loại văn bản, giấy tờ khác.

Thứ hai, lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo quy định của pháp luật, vi bằng có hai giá trị pháp lý cụ thể:

- Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án.

- Vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Ví dụ như:

(i) Nhà cho thuê, sợ thất thoát, hư hỏng tài sản cho thuê, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng hiện trạng nhà trước khi bên thuê dọn vào.

(ii) Nhà bán đã thoả thuận xong, 03 tháng sau mới giao nhà, sợ nhà bị hư hỏng, không còn như hiện trạng ban đầu thỏa thuận, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận hiện trạng nhà mua bán tại thời điểm các bên đã thống nhất được giá.

(iii) Nhà hàng xóm trổ cửa sổ nhìn thẳng vào cửa nhà mình, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận việc trổ cửa trái quy định.

(iv) Chủ thầu thi công nhà mình chậm trễ, ảnh hưởng đến quyền lợi của mình, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận sự chậm trễ trong thi công so với tiến độ thi công được các bên thỏa thuận ban đầu.

(v) Nhà hàng xóm xây nhà lấn sang đất nhà mình, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận có sự lấn chiếm.

(vi) Đường ống dẫn nước nhà hàng xóm bị vỡ, làm ẩm, thấm sang tường nhà mình, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận tình trạng ẩm thấm của tường nhà.

(vii) Cho thuê nhà để ở, có điều khoản không cho người thứ ba thuê lại, nhưng bên thuê vẫn vi phạm , có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận sự vi phạm điều khoản hợp đồng thuê.

(viii) Cho thuê nhà để ở, có điều khoản không được sử dụng sản xuất, kinh doanh nhưng bên thuê vẫn vi phạm, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận sự vi phạm điều khoản hợp đồng thuê.

(ix) Nhà hàng xóm xây nhà, gạch đá rơi vào mái nhà mình làm hỏng mái, vữa rơi vào tường làm bức tường bị hỏng màu sơn, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận tình trạng mái nhà bị hỏng, tường nhà bị hỏng màu sơn do vữa rơi vào...

(x) Thời hạn bên bán nhà giao nhà cho mình đã đến nhưng bên bán nhất quyết không giao, cố tình trì hoãn kéo dài, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận bên mua đến nhận bàn giao nhà nhưng bên bán không bàn giao và vẫn ở trong nhà cùng đồ đạc của họ (trường hợp này rất phổ biến trong mua bán nhà chung cư hiện nay).

(xi) Mua nhà chung cư của công ty bất động sản nhưng đến ngày bàn giao, các hạng mục trang thiết bị không đúng với thỏa thuận trong hợp đồng (trường hợp này khá phổ biến), có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng hiện trạng khi bàn giao nhà.

Thứ ba, thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự: Theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự. Tại Hà Nội, người dân có thể nhờ Thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án liên quan đến việc thi hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Hà Nội. Khi thực hiện việc xác minh, Thừa phát lại có quyền xác minh ngoài địa bàn thành phố Hà Nội trong trường hợp đương sự cư trú, có tài sản tại địa phương đó. Việc xác minh bao gồm: Truy tìm tài sản của người phải thi hành án, bao gồm cả bất động sản, tài sản đang do người thứ ba giữ; xác minh tài khoản tiền gửi tại kho bạc, ngân hàng, các tổ chức tín dụng; tìm các nguồn thu khác của người phải thi hành án… Người được thi hành án có quyền dùng kết quả xác minh điều kiện thi hành án mà Thừa phát lại cung cấp để yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoặc Văn phòng Thừa phát lại có thẩm quyền để được thi hành.

Thứ tư, Thừa phát lại được quyền trực tiếp tổ chức thi hành án theo đơn yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP quy định: Khi thực hiện công việc về thi hành án dân sự, Thừa phát lại có quyền như chấp hành viên quy định tại Điều 20 của Luật Thi hành án Dân sự, trừ khoản 9, khoản 10 và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Riêng việc cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng bảo vệ, áp dụng quy định tại Điều 40 của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP.

Theo Điều 38 Nghị định số 61/2009//NĐ-CP thì Thừa phát lại có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại khoản 3 Điều 66 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, trong quá trình thi hành án, Thừa phát lại có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay các biện pháp bảo đảm thi hành án, nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án, bao gồm: Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, kho bạc, các tổ chức tín dụng; tạm giữ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ để tạm giữ tài sản, giấy tờ mà đương sự đang quản lý, sử dụng; ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyển sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.

Theo Điều 39 Nghị định số 61/2009//NĐ-CP thì hết thời gian tự nguyện đã được ấn định trong quyết định thi hành án, đương sự có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành, Thừa phát lại có quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự, bao gồm: Khấu trừ tiền trong tài khoản tại ngân hàng, kho bạc, tổ chức tín dụng; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người khác giữ để thi hành nghĩa vụ trả tiền; buộc khai thác tài sản của người phải thi hành án; buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; buộc phải thực hiện, hoặc không được thực hiện công việc nhất định. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, Thừa phát lại có quyền, nghĩa vụ như chấp hành viên và thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Riêng trường hợp cưỡng chế cần huy động lực lượng bảo vệ, Văn phòng Thừa phát lại phải báo cáo xin ý kiến của Trưởng ban chỉ đạo thi hành án dân sự cấp huyện nơi đặt Văn phòng. Trên cơ sở ý kiến của Trưởng ban chỉ đạo thi hành án, Văn phòng Thừa phát lại lập kế hoạch cưỡng chế, báo cáo để Cục trưởng Cục thi hành án dân sự xem xét phê duyệt kế hoạch cưỡng chế và ra quyết định cưỡng chế. Trên cơ sở đó, Thừa phát lại thực hiện việc cưỡng chế theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự về cưỡng chế thi hành án.

Nguyễn Văn Lạng

Văn phòng Thừa phát lại quận Ba Đình, TP. Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: