Thứ sáu 07/08/2026 18:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số nội dung về thừa phát lại

Thuật ngữ Thừa phát lại có lẽ xuất hiện ở Việt Nam song hành với việc Vua Tự Đức ký Hòa ước ngày 05/6/1862 nhượng cho Pháp 06 tỉnh Nam kỳ. Chế định Thừa phát lại ở Việt Nam đã tồn tại trong suốt thời kỳ Pháp thuộc và thời gian đầu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa mới giành được chính quyền (cho đến ngày 22/5/1950, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL).

Ở miền Nam, chế định Thừa phát lại tiếp tục tồn tại đến năm 1975, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam thành công, đất nước thống nhất. Từ năm 2010, nghề Thừa phát lại được hình thành trở lại ở nước ta với định hướng xã hội hóa các hoạt động thi hành án và bổ trợ tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và định hướng phát triển nghề Thừa phát lại trong thời gian tới. Bài viết đã giới thiệu và cung cấp cho bạn đọc về một số nội dung cơ bản của nghề Thừa pháp lại ở Việt Nam, như: (i) Thừa phát lại là gì?; (ii) Nghề này có ở nước ta từ bao giờ và vì sao lại gọi là “Thừa phát lại”?; (iii) Những bước khởi động lại cho chế định Thừa phát lại; (iv) Thừa phát lại được Nhà nước giao cho làm những công việc gì?.

Thừa phát lại là gì?

Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ quy định: Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm một số công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Như vậy, Thừa phát lại không phải là công chức nhà nước, nhưng được tuyển chọn theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt và bổ nhiệm để làm những công việc thuộc thẩm quyền của Nhà nước. Khi thực hiện những công việc này, Thừa phát lại được sử dụng quyền lực nhà nước.

Nghề này có ở nước ta từ bao giờ và vì sao lại gọi là “Thừa phát lại”?

Có thể nói, thuật ngữ Thừa phát lại xuất hiện ở Việt Nam song hành với việc Thực dân Pháp áp đặt chế độ cai trị và quy chế thuộc địa lãnh thổ. Các tỉnh Nam kỳ lúc này, về phương diện pháp lý, được coi như bất cứ miền nào trong nước Pháp.

Ngày 04/02/1950, Tổng trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 111 quy định chi tiết tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại. Sau này, nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại cũng đã được ghi nhận cụ thể thêm ở Bộ luật Dân sự và Thương sự tố tụng, Bộ luật Hình sự tố tụng năm 1972.

Việc hình thành tổ chức Thừa phát lại ở Việt Nam bắt nguồn từ tổ chức Thừa phát lại ở Pháp. Do đó, về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại ở Việt Nam hầu hết đều rập khuôn theo mô hình Thừa phát lại của Pháp. Về tổ chức, chức vụ Thừa phát lại do Tổng trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm bằng nghị định, có định rõ trụ sở của Thừa phát lại và Thừa phát lại chỉ được thi hành chức vụ trong phạm vi quản hạt của Tòa sơ thẩm Dân sự mà trụ sở của họ phụ thuộc. Về nhiệm vụ, tại phiên tòa, Thừa phát lại là Hiệu dịch viên, Thừa tác viên làm công việc báo tin Tòa đăng đường, Tòa bế mạc, hay trong lúc xét xử, gọi các đương sự, người làm chứng, đồng thời chấp hành các mệnh lệnh của Chánh thẩm trong việc giữ trật tự và sự uy nghiêm của phiên tòa. Ngoài pháp đình, Thừa phát lại có bổn phận tống đạt và thi hành mọi giấy tờ về tư pháp; tống đạt giấy tờ hoặc triệu hoán trạng (tương đương giấy mời, giấy triệu tập hiện nay) ra trước Tòa để dự phiên xét xử; tống đạt giấy đòi nợ; giấy đuổi nhà; lập các tờ công chứng thư để thi hành các nội dung của bản án đã tuyên về trục xuất, phát mãi động sản hoặc bất động sản…

Thời kỳ đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chế định Thừa phát lại vẫn được công nhận và được Nhà nước giao quyền cho thực hiện nhiệm vụ của mình. Tại Sắc lệnh số 130/SL ngày 19/7/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy định: Các bản toàn sao hoặc trích sao bản án hoặc mệnh lệnh do các phòng lục sự phát cho các người đương sự để thi hành các án hoặc mệnh lệnh của Tòa án hộ đều phải có thể thức thi hành, ấn định như sau: “Vậy, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truyền cho các Thừa phát lại theo yêu cầu của đương sự thi hành bản án này, các ông Chưởng lý và Biện lý kiểm sát việc thi hành án, cai thị chỉ huy binh lực giúp đỡ mỗi khi đương sự chiếu luật yêu cầu...” .

Cho đến năm 1950 ở miền Bắc mới chấm dứt sự tồn tại của chế định Thừa phát lại. Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL về “Cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng”, theo đó, Điều 19 của Sắc lệnh này quy định: “Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của Biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án hộ, mà chính Tòa án huyện hay Tòa án trên đã tuyên”. Đồng nghĩa với việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện trước đây được thay thế bằng thẩm phán huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chánh án.

Như vậy, chế định Thừa phát lại ở Việt Nam đã tồn tại trong suốt thời kỳ Pháp thuộc và thời gian đầu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới giành được chính quyền (cho đến ngày 22/5/1950, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL). Ở miền Nam, chế định Thừa phát lại tiếp tục tồn tại đến năm 1975, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam thành công, đất nước thống nhất.

Những bước khởi động lại cho chế định Thừa phát lại

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định rõ: “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía Nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình… từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án”; “nghiên cứu chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên); trước mắt có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”.

Thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 05-KH/CCTP ngày 22/02/2006, trong đó tại Điểm 4c Mục C Phần II có nêu rõ: “Nghiên cứu mô hình tổ chức Thừa phát lại, trước mắt tổ chức thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành việc nghiên cứu trong năm 2006 để có thể tổ chức thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2007)”. Tháng 11/2008, Quốc hội thông qua Luật Thi hành án dân sự. Lần đầu tiên kể từ khi đất nước hoàn toàn giải phóng, việc tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương từ ngày Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2009) đến ngày 01/7/2012 được Nghị quyết số 24/2008/QH12 của Quốc hội về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự quy định. Triển khai Nghị quyết số 24/2008/QH12 của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP.

Tháng 11/2012, báo cáo trước Quốc hội về kết quả thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho biết, mặc dù thời gian thí điểm chưa dài (thực tế triển khai mới được khoảng 02 năm), nhưng qua tổng kết cho thấy hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được kết quả khả quan, được xã hội, người dân đón nhận tích cực.

Ngày 23/11/2012, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, giao Chính phủ tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 18/10/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP. Đồng thời đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục triển khai thí điểm chế định Thừa phát lại tại 13 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tổ chức tổng kết, xây dựng báo cáo tổng kết theo quy định. Ngày 26/11/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 107/2015/QH13 cho chính thức thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi toàn quốc.

Việc triển khai nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ với những kết quả đạt được về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thời gian qua đã khẳng định việc thực hiện chế định Thừa phát lại là một hướng đi đúng về cải cách tư pháp, phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội và hoạt động tư pháp nước ta cũng như xu thế hội nhập quốc tế. Chế định Thừa phát lại không cản trở mà còn góp phần bổ trợ, giúp cho hoạt động tư pháp hiệu quả, đúng pháp luật hơn; đồng thời góp phần thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bổ trợ tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra. Bên cạnh đó, việc thực hiện chế định Thừa phát lại tạo cơ chế để người dân, xã hội tham gia sâu hơn, tích cực hơn vào quá trình quản lý xã hội, chủ động trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, góp phần vào tiến trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tư pháp hiệu quả, trong sạch. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại trong hoạt động này như đội ngũ Thừa phát lại còn hạn chế về năng lực, kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp; các Văn phòng Thừa phát lại chưa thực sự chủ động liên hệ và quảng bá hình ảnh... Đặc biệt, tâm lý e ngại và thiếu sự tin tưởng của người dân là một vấn đề rất quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động Thừa phát lại. Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật theo Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện nhiệm vụ của Thừa phát lại, tiến tới xây dựng Luật Thừa phát lại là hợp lý và cần thiết, bảo đảm cơ sở pháp lý cho sự tồn tại lâu dài của chế định Thừa phát lại, từ đó tạo được niềm tin vủa người dân đối với chế định này.

Thừa phát lại được Nhà nước giao cho làm những công việc gì?

Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP quy định có bốn công việc Thừa phát lại được làm:

Thứ nhất, Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt các văn bản theo yêu cầu của Tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự, bao gồm: Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án trong trường hợp xử vắng mặt đương sự của Tòa án; các quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập của cơ quan thi hành án dân sự. Ngoài ra, Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự có thể thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại để tống đạt các loại văn bản, giấy tờ khác.

Thứ hai, lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo quy định của pháp luật, vi bằng có hai giá trị pháp lý cụ thể:

- Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án.

- Vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Ví dụ như:

(i) Nhà cho thuê, sợ thất thoát, hư hỏng tài sản cho thuê, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng hiện trạng nhà trước khi bên thuê dọn vào.

(ii) Nhà bán đã thoả thuận xong, 03 tháng sau mới giao nhà, sợ nhà bị hư hỏng, không còn như hiện trạng ban đầu thỏa thuận, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận hiện trạng nhà mua bán tại thời điểm các bên đã thống nhất được giá.

(iii) Nhà hàng xóm trổ cửa sổ nhìn thẳng vào cửa nhà mình, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận việc trổ cửa trái quy định.

(iv) Chủ thầu thi công nhà mình chậm trễ, ảnh hưởng đến quyền lợi của mình, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận sự chậm trễ trong thi công so với tiến độ thi công được các bên thỏa thuận ban đầu.

(v) Nhà hàng xóm xây nhà lấn sang đất nhà mình, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận có sự lấn chiếm.

(vi) Đường ống dẫn nước nhà hàng xóm bị vỡ, làm ẩm, thấm sang tường nhà mình, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận tình trạng ẩm thấm của tường nhà.

(vii) Cho thuê nhà để ở, có điều khoản không cho người thứ ba thuê lại, nhưng bên thuê vẫn vi phạm , có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận sự vi phạm điều khoản hợp đồng thuê.

(viii) Cho thuê nhà để ở, có điều khoản không được sử dụng sản xuất, kinh doanh nhưng bên thuê vẫn vi phạm, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận sự vi phạm điều khoản hợp đồng thuê.

(ix) Nhà hàng xóm xây nhà, gạch đá rơi vào mái nhà mình làm hỏng mái, vữa rơi vào tường làm bức tường bị hỏng màu sơn, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận tình trạng mái nhà bị hỏng, tường nhà bị hỏng màu sơn do vữa rơi vào...

(x) Thời hạn bên bán nhà giao nhà cho mình đã đến nhưng bên bán nhất quyết không giao, cố tình trì hoãn kéo dài, có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận bên mua đến nhận bàn giao nhà nhưng bên bán không bàn giao và vẫn ở trong nhà cùng đồ đạc của họ (trường hợp này rất phổ biến trong mua bán nhà chung cư hiện nay).

(xi) Mua nhà chung cư của công ty bất động sản nhưng đến ngày bàn giao, các hạng mục trang thiết bị không đúng với thỏa thuận trong hợp đồng (trường hợp này khá phổ biến), có thể nhờ Thừa phát lại lập vi bằng hiện trạng khi bàn giao nhà.

Thứ ba, thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự: Theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự. Tại Hà Nội, người dân có thể nhờ Thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án liên quan đến việc thi hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Hà Nội. Khi thực hiện việc xác minh, Thừa phát lại có quyền xác minh ngoài địa bàn thành phố Hà Nội trong trường hợp đương sự cư trú, có tài sản tại địa phương đó. Việc xác minh bao gồm: Truy tìm tài sản của người phải thi hành án, bao gồm cả bất động sản, tài sản đang do người thứ ba giữ; xác minh tài khoản tiền gửi tại kho bạc, ngân hàng, các tổ chức tín dụng; tìm các nguồn thu khác của người phải thi hành án… Người được thi hành án có quyền dùng kết quả xác minh điều kiện thi hành án mà Thừa phát lại cung cấp để yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoặc Văn phòng Thừa phát lại có thẩm quyền để được thi hành.

Thứ tư, Thừa phát lại được quyền trực tiếp tổ chức thi hành án theo đơn yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP quy định: Khi thực hiện công việc về thi hành án dân sự, Thừa phát lại có quyền như chấp hành viên quy định tại Điều 20 của Luật Thi hành án Dân sự, trừ khoản 9, khoản 10 và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Riêng việc cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng bảo vệ, áp dụng quy định tại Điều 40 của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP.

Theo Điều 38 Nghị định số 61/2009//NĐ-CP thì Thừa phát lại có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại khoản 3 Điều 66 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, trong quá trình thi hành án, Thừa phát lại có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay các biện pháp bảo đảm thi hành án, nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án, bao gồm: Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, kho bạc, các tổ chức tín dụng; tạm giữ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ để tạm giữ tài sản, giấy tờ mà đương sự đang quản lý, sử dụng; ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyển sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.

Theo Điều 39 Nghị định số 61/2009//NĐ-CP thì hết thời gian tự nguyện đã được ấn định trong quyết định thi hành án, đương sự có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành, Thừa phát lại có quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự, bao gồm: Khấu trừ tiền trong tài khoản tại ngân hàng, kho bạc, tổ chức tín dụng; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người khác giữ để thi hành nghĩa vụ trả tiền; buộc khai thác tài sản của người phải thi hành án; buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; buộc phải thực hiện, hoặc không được thực hiện công việc nhất định. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, Thừa phát lại có quyền, nghĩa vụ như chấp hành viên và thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Riêng trường hợp cưỡng chế cần huy động lực lượng bảo vệ, Văn phòng Thừa phát lại phải báo cáo xin ý kiến của Trưởng ban chỉ đạo thi hành án dân sự cấp huyện nơi đặt Văn phòng. Trên cơ sở ý kiến của Trưởng ban chỉ đạo thi hành án, Văn phòng Thừa phát lại lập kế hoạch cưỡng chế, báo cáo để Cục trưởng Cục thi hành án dân sự xem xét phê duyệt kế hoạch cưỡng chế và ra quyết định cưỡng chế. Trên cơ sở đó, Thừa phát lại thực hiện việc cưỡng chế theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự về cưỡng chế thi hành án.

Nguyễn Văn Lạng

Văn phòng Thừa phát lại quận Ba Đình, TP. Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.

Theo dõi chúng tôi trên: