Thứ năm 14/05/2026 23:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số nội dung về văn bản pháp luật triều hậu lê và đối chiếu với văn bản quy phạm pháp luật hiện hành

Trong lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử Việt Nam thời trung đại nói riêng thì triều Hậu Lê được đánh giá là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất. Đây là giai đoạn lịch sử để lại nhiều dấu ấn,

Trong lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử Việt Nam thời trung đại nói riêng thì triều Hậu Lê được đánh giá là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất. Đây là giai đoạn lịch sử để lại nhiều dấu ấn, trong đó, đặc biệt lưu ý là về phương diện pháp luật và không thể không nhắc đến một số văn bản quan trọng và ý nghĩa như Quốc triều hình luật (hay Bộ luật Hồng Đức) Quốc triều khám tụng điều lệ, Lê triều quan chế, Luật Thư Một trong những giá trị được kế thừa đến nay đó là về sự phân loại, thể thức và kỹ thuật xây dựng pháp luật, qua việc tìm hiểu một số nội dung về văn bản pháp luật triều Hậu Lê, có thể nhận thấy, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có nhiều điểm tương đồng.

1. Hệ thống văn bản pháp luật

1.1. Pháp luật thời Hậu Lê

Nhà nước phong kiến Việt Nam đã xây dựng nhiều bộ luật như Hình thư (thời nhà Lý), Quốc triều hình luật (thời nhà Trần), Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức - thời nhà Lê)… Các bộ luật thời kỳ phong kiến được biên soạn dưới sự chỉ đạo của nhà Vua và do nhà Vua ban hành thông thường là những bộ tổng luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực như dân sự, hình sự, đất đai, lao động… Do các văn bản đó được ban hành có tính hệ thống hóa cao nên thường được các nhà sử học, luật học gọi là bộ luật, nhưng bản thân các văn bản đó có chứa tên gọi là bộ luật[6]. Nằm trong dòng chảy đó, triều Hậu Lê đã để lại cho thế hệ sau một hệ thống pháp luật đồ sộ, trong đó, không thể không nhắc đến Quốc triều hình luật và Quốc triều khám tụng điều lệ. Nếu như Quốc triều hình luật được đánh giá là “đỉnh cao của thành tựu pháp luật Việt Nam thời phong kiến”[7] thì Quốc triều khám tụng điều lệ là bộ luật riêng về tố tụng duy nhất trong lịch sử pháp luật ở Đại Việt và có lẽ ở cả phương Đông phong kiến[8]. Mặc dù Quốc triều hình luật là luật nội dung còn Quốc triều khám tụng điều lệ là luật hình thức, tuy nhiên, điểm giống nhau giữa hai văn bản này là quy định những vấn đề chung và bao quát các vấn đề, lĩnh vực pháp luật nhất định.

Ngoài Quốc triều hình luật và Quốc triều khám tụng điều lệ nêu trên, còn các văn bản pháp luật khác được ban hành để điều chỉnh những mối quan hệ xác định. Nói cách khác, đây là những văn bản đơn hành, cụ thể:

- Chiếu: Thường là văn bản dùng để công bố hoặc khuyến cáo về một chính sách, một định hướng hoặc thể hiện những quan điểm, tư tưởng của nhà Vua về một vấn đề nào đó mang tính vĩ mô để quản lý đất nước hoặc để thực hiện các công việc quan trọng khác liên quan mang tầm quốc gia. Tuy nhiên, đôi khi chiếu cũng là văn bản được nhà Vua ban hành trong những trường hợp cụ thể để điều chỉnh các quan hệ cụ thể, ví dụ như ban chiếu để xử phạt các quan đại thần.

- Lệ: Là loại văn bản thường chứa đựng các quy định mang tính quy tắc bắt buộc thi hành về một lĩnh vực nào đó của đời sống đất nước, nhằm tạo ra một chuẩn mực ứng xử nhất định trong xã hội. Lệ thường dùng để điều chỉnh, quy định những vấn đề chung, có hiệu lực khá lâu dài và có mức độ chi phối lớn trong đời sống xã hội, trong ý thức của người dân. Có thể kể đến một số lệ điển hình như: Lệ về chia mở chợ mới[9], lệ về tư cách của tiến sỹ[10]… Tuy nhiên, việc ban hành các lệ chủ yếu ở triều Vua Lê Thánh Tông, Vua Lê Hiến Tông và Vua Lê Tương Dực, ở các triều vua còn lại, lệ rất ít hoặc hầu như không được ban hành[11].

- Lệnh: Là văn bản được ban hành để thể hiện ý chí của nhà Vua, nhà nước về các vấn đề liên quan đến quản lý đất nước hoặc thực hiện pháp luật hoặc về các vấn đề mang tính thời sự liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc. Tuy nhiên, lệnh khác với lệ ở chỗ “những quy định này thường thiên về việc nghiêm cấm những hành vi, những việc không được làm, còn trong lệ thì có thể vừa có quy định những điều không được làm, vừa có cả những điều bắt buộc phải làm”[12]. Có thể nêu một số lệnh như: Lệnh đắp bờ ruộng để chứa nước[13], lệnh đặt xã trưởng[14]

- Chỉ: Là một loại văn bản thể hiện ý chí của nhà Vua về một vấn đề cụ thể nào đó của quản lý nhà nước hoặc để giải quyết những công việc nhất định, thường có liên quan đến những chủ thể cụ thể. Một số chỉ được ban hành như: Chỉ quy định quan viên có tội thì về làm dân[15], Chỉ cho phép tù nhân kêu oan nhân ngày “tể thần xét tù”[16]

- Dụ: Là một loại văn bản do nhà Vua ban hành, mang tính định hướng khá rõ, thường thể hiện sự khuyên bảo, khuyến khích, khen thưởng đối với các chủ thể được đề cập ở Dụ, chủ thể thường là cá nhân cụ thể. Dụ tuy mang tính khuyên bảo, khuyến khích, tuy nhiên vẫn có hiệu lực bắt buộc thi hành. Có thể nhắc đến một số Dụ như: Dụ không nên thù oán người Minh[17], Dụ về trách nhiệm khi xét xử đối với các đại thần, thái giám và hình quan[18]

- Sắc: Là văn bản thường “thể hiện quyết định của nhà Vua trong việc tuyên bố, điều động, thăng chức, giáng chức hoặc chứng nhận chức vụ cho quan” hoặc “dùng để phong thần, thánh cho những người có công lao với đất nước và cho phép dân chúng được thờ cúng, phong tê thụy cho quan hoặc phong phẩm hàm cho bố mẹ các quan”[19]. Ví dụ một số Sắc như: Sắc cho Lê Xí về việc tâu phong quốc tính cho các quan[20].

Tóm lại, hệ thống pháp luật triều Hậu Lê vừa kế thừa giá trị lịch sử của các triều đại phong kiến của Nhà nước Đại Việt cũng như tiếp thu tinh hoa pháp lý nhà Đường - Trung Quốc, vừa có những điểm tiến bộ, mang dấu ấn sâu sắc, qua đó, thể hiện rõ tinh thần “thượng tôn pháp luật” trong triều Hậu Lê.

1.2. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Ngày 22/6/2015, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016. Nếu như trước đây, việc ban hành văn bản pháp luật được quy định tại hai luật là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 thì từ năm 2015, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở kế thừa và phát triển hai luật nêu trên, hợp nhất thành một luật áp dụng thống nhất cho việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ trung ương đến địa phương. Với chủ trương tiếp tục tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm 26 hình thức do 18 chủ thể có thẩm quyền ban hành. Ngoài ra, Luật cũng xác định cụ thể nội dung ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật[21].

Như vậy, có thể nhận thấy, việc xác định cụ thể các hình thức văn bản quy phạm pháp luật và chủ thể ban hành như quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã được cha ông ta ghi nhận từ thời phong kiến xa xưa. Mặc dù chưa rõ ràng về hình thức và chủ thể ban hành, tuy nhiên, bóng dáng của việc phân định các hình thức văn bản dù là bộ luật hay văn bản đơn hành thời phong kiến là không thể phủ nhận được và không khó khăn gì để tìm được minh chứng trong hệ thống các văn bản pháp luật đồ sộ thời Hậu Lê.

2. Về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản pháp luật

2.1. Pháp luật thời Hậu Lê

Nhằm đề cao tính chịu trách nhiệm trực tiếp của chủ thể ban hành văn bản, thời Vua Lê Thánh Tông đã ghi nhận “các bản tâu và đề của nha môn trong ngoài thì chính viên quan phụ trách phải ký tên, không được sai lại viên thư tả viết tên hộ”[22]. Theo đó, ngoại trừ Quốc triều hình luật không ghi chính xác tác giả, niên đại[23], còn lại tất cả các văn bản pháp luật nêu trên đều xác định rõ chủ thể, thời gian ban hành. Thể thức văn bản triều Hậu Lê gồm các yếu tố cơ bản như: Quốc hiệu; niên hiệu; ngày, tháng ban hành; tên chủ thể có thẩm quyền, dấu đóng trên văn bản, họ tên chức vụ và chữ ký của người soạn thảo…

2.2. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Trước khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 được thông qua, vấn đề về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật đã được quan tâm và thể chế hóa. Điều này được thể hiện thông qua việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết số 1139/2007/UBTVQH11 ngày 03/7/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quy chế về kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Thông tư số 25/2011/TT-BTP ngày 27/12/2011 của Bộ Tư pháp quy định về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và văn bản quy phạm pháp luật liên tịch… Không chỉ đối với các văn bản quy phạm pháp luật mà kể cả đối với văn bản hành chính, các cơ quan nhà nước cũng đã ban hành các văn bản về thể thức và kỹ thuật như Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính… Sau khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 được thông qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày như Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14 ngày 14/3/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước; Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật…

Tóm lại, trong thời kỳ phong kiến ở nước ta với 04 bộ luật thành văn gồm Hình thư của nhà Lý, Hình luật của nhà Trần, Quốc triều hình luật của nhà Lê và Hoàng Việt luật lệ của nhà Nguyễn đã để lại cho thế hệ sau nguồn tư liệu tham khảo về pháp luật. Có thể khẳng định rằng, tuy được ban hành cách đây hơn 500 năm nhưng quy định của triều Hậu Lê về phân loại, thể thức và kỹ thuật xây dựng văn bản pháp luật mang nhiều đặc điểm của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện nay. Thay cho lời kết, tác giả hoàn toàn đồng ý với nhận định của GS.TS. Trần Ngọc Đường, Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội rằng “Quốc triều hình luật là niềm tự hào về một trong những thành tựu đặc sắc nhất của nền văn hóa pháp lý Việt Nam trong thời kỳ phong kiến”.

Trần Thị Thu Hằng

Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp


[1] Triều Hậu Lê (1428 - 1788) trị vì 360 năm, gồm 27 đời vua.

[2] Quốc triều hình luật gồm 06 quyển, 13 chương, 722 điều, do Vua Lê Thánh Tông ban hành năm 1483.

[3] Quốc triều khám tụng điều lệ gồm 31 lệ (điều), do Vua Lê Hiển Tông ban hành năm 1777.

[4] Lê triều quan chế do Vua Lê Thánh Tông ban hành năm 1471.

[5] Luật Thư gồm 06 quyển, do Nguyễn Trãi biên soạn từ năm 1440 - 1442.

[6] Bộ Tư pháp, Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa và Nxb. Tư pháp, năm 2006, tr. 73.

[7] Lê Thị Khánh Ly, Nghiên cứu văn hóa, Số 01/2010, http://csnd.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/733/Quoc-trieu-Hinh-luat-dinh-cao-cua-thanh-tuu-luat-phap-Viet-Nam-thoi-phong-kien.

[8] Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, năm 2015, tr. 247.

[9] Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Văn học, Hà Nội, năm 2009, tr. 678.

[10] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 668.

[11] Nguyễn Minh Tuấn & Mai Văn Thắng, Nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, tr. 93.

[12] Vũ Thị Phụng, Văn bản quản lý nhà nước thời Nguyễn (1082 - 1884), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 84.

[13] Đại Việt sử ký toàn thư, TLđd, tr. 699.

[14] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 722.

[15] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 650.

[16] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 645.

[17] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 514.

[18] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 570.

[19] Vũ Thị Phụng, Tlđd, tr. 112.

[20] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 614.

[21] Điều 15 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[22] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 695.

[23] Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Tlđd, tr. 196.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: