Thứ ba 17/03/2026 16:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số nội dung về văn bản pháp luật triều hậu lê và đối chiếu với văn bản quy phạm pháp luật hiện hành

Trong lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử Việt Nam thời trung đại nói riêng thì triều Hậu Lê được đánh giá là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất. Đây là giai đoạn lịch sử để lại nhiều dấu ấn,

Trong lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử Việt Nam thời trung đại nói riêng thì triều Hậu Lê được đánh giá là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất. Đây là giai đoạn lịch sử để lại nhiều dấu ấn, trong đó, đặc biệt lưu ý là về phương diện pháp luật và không thể không nhắc đến một số văn bản quan trọng và ý nghĩa như Quốc triều hình luật (hay Bộ luật Hồng Đức) Quốc triều khám tụng điều lệ, Lê triều quan chế, Luật Thư Một trong những giá trị được kế thừa đến nay đó là về sự phân loại, thể thức và kỹ thuật xây dựng pháp luật, qua việc tìm hiểu một số nội dung về văn bản pháp luật triều Hậu Lê, có thể nhận thấy, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có nhiều điểm tương đồng.

1. Hệ thống văn bản pháp luật

1.1. Pháp luật thời Hậu Lê

Nhà nước phong kiến Việt Nam đã xây dựng nhiều bộ luật như Hình thư (thời nhà Lý), Quốc triều hình luật (thời nhà Trần), Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức - thời nhà Lê)… Các bộ luật thời kỳ phong kiến được biên soạn dưới sự chỉ đạo của nhà Vua và do nhà Vua ban hành thông thường là những bộ tổng luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực như dân sự, hình sự, đất đai, lao động… Do các văn bản đó được ban hành có tính hệ thống hóa cao nên thường được các nhà sử học, luật học gọi là bộ luật, nhưng bản thân các văn bản đó có chứa tên gọi là bộ luật[6]. Nằm trong dòng chảy đó, triều Hậu Lê đã để lại cho thế hệ sau một hệ thống pháp luật đồ sộ, trong đó, không thể không nhắc đến Quốc triều hình luật và Quốc triều khám tụng điều lệ. Nếu như Quốc triều hình luật được đánh giá là “đỉnh cao của thành tựu pháp luật Việt Nam thời phong kiến”[7] thì Quốc triều khám tụng điều lệ là bộ luật riêng về tố tụng duy nhất trong lịch sử pháp luật ở Đại Việt và có lẽ ở cả phương Đông phong kiến[8]. Mặc dù Quốc triều hình luật là luật nội dung còn Quốc triều khám tụng điều lệ là luật hình thức, tuy nhiên, điểm giống nhau giữa hai văn bản này là quy định những vấn đề chung và bao quát các vấn đề, lĩnh vực pháp luật nhất định.

Ngoài Quốc triều hình luật và Quốc triều khám tụng điều lệ nêu trên, còn các văn bản pháp luật khác được ban hành để điều chỉnh những mối quan hệ xác định. Nói cách khác, đây là những văn bản đơn hành, cụ thể:

- Chiếu: Thường là văn bản dùng để công bố hoặc khuyến cáo về một chính sách, một định hướng hoặc thể hiện những quan điểm, tư tưởng của nhà Vua về một vấn đề nào đó mang tính vĩ mô để quản lý đất nước hoặc để thực hiện các công việc quan trọng khác liên quan mang tầm quốc gia. Tuy nhiên, đôi khi chiếu cũng là văn bản được nhà Vua ban hành trong những trường hợp cụ thể để điều chỉnh các quan hệ cụ thể, ví dụ như ban chiếu để xử phạt các quan đại thần.

- Lệ: Là loại văn bản thường chứa đựng các quy định mang tính quy tắc bắt buộc thi hành về một lĩnh vực nào đó của đời sống đất nước, nhằm tạo ra một chuẩn mực ứng xử nhất định trong xã hội. Lệ thường dùng để điều chỉnh, quy định những vấn đề chung, có hiệu lực khá lâu dài và có mức độ chi phối lớn trong đời sống xã hội, trong ý thức của người dân. Có thể kể đến một số lệ điển hình như: Lệ về chia mở chợ mới[9], lệ về tư cách của tiến sỹ[10]… Tuy nhiên, việc ban hành các lệ chủ yếu ở triều Vua Lê Thánh Tông, Vua Lê Hiến Tông và Vua Lê Tương Dực, ở các triều vua còn lại, lệ rất ít hoặc hầu như không được ban hành[11].

- Lệnh: Là văn bản được ban hành để thể hiện ý chí của nhà Vua, nhà nước về các vấn đề liên quan đến quản lý đất nước hoặc thực hiện pháp luật hoặc về các vấn đề mang tính thời sự liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc. Tuy nhiên, lệnh khác với lệ ở chỗ “những quy định này thường thiên về việc nghiêm cấm những hành vi, những việc không được làm, còn trong lệ thì có thể vừa có quy định những điều không được làm, vừa có cả những điều bắt buộc phải làm”[12]. Có thể nêu một số lệnh như: Lệnh đắp bờ ruộng để chứa nước[13], lệnh đặt xã trưởng[14]

- Chỉ: Là một loại văn bản thể hiện ý chí của nhà Vua về một vấn đề cụ thể nào đó của quản lý nhà nước hoặc để giải quyết những công việc nhất định, thường có liên quan đến những chủ thể cụ thể. Một số chỉ được ban hành như: Chỉ quy định quan viên có tội thì về làm dân[15], Chỉ cho phép tù nhân kêu oan nhân ngày “tể thần xét tù”[16]

- Dụ: Là một loại văn bản do nhà Vua ban hành, mang tính định hướng khá rõ, thường thể hiện sự khuyên bảo, khuyến khích, khen thưởng đối với các chủ thể được đề cập ở Dụ, chủ thể thường là cá nhân cụ thể. Dụ tuy mang tính khuyên bảo, khuyến khích, tuy nhiên vẫn có hiệu lực bắt buộc thi hành. Có thể nhắc đến một số Dụ như: Dụ không nên thù oán người Minh[17], Dụ về trách nhiệm khi xét xử đối với các đại thần, thái giám và hình quan[18]

- Sắc: Là văn bản thường “thể hiện quyết định của nhà Vua trong việc tuyên bố, điều động, thăng chức, giáng chức hoặc chứng nhận chức vụ cho quan” hoặc “dùng để phong thần, thánh cho những người có công lao với đất nước và cho phép dân chúng được thờ cúng, phong tê thụy cho quan hoặc phong phẩm hàm cho bố mẹ các quan”[19]. Ví dụ một số Sắc như: Sắc cho Lê Xí về việc tâu phong quốc tính cho các quan[20].

Tóm lại, hệ thống pháp luật triều Hậu Lê vừa kế thừa giá trị lịch sử của các triều đại phong kiến của Nhà nước Đại Việt cũng như tiếp thu tinh hoa pháp lý nhà Đường - Trung Quốc, vừa có những điểm tiến bộ, mang dấu ấn sâu sắc, qua đó, thể hiện rõ tinh thần “thượng tôn pháp luật” trong triều Hậu Lê.

1.2. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Ngày 22/6/2015, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016. Nếu như trước đây, việc ban hành văn bản pháp luật được quy định tại hai luật là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 thì từ năm 2015, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở kế thừa và phát triển hai luật nêu trên, hợp nhất thành một luật áp dụng thống nhất cho việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ trung ương đến địa phương. Với chủ trương tiếp tục tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm 26 hình thức do 18 chủ thể có thẩm quyền ban hành. Ngoài ra, Luật cũng xác định cụ thể nội dung ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật[21].

Như vậy, có thể nhận thấy, việc xác định cụ thể các hình thức văn bản quy phạm pháp luật và chủ thể ban hành như quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã được cha ông ta ghi nhận từ thời phong kiến xa xưa. Mặc dù chưa rõ ràng về hình thức và chủ thể ban hành, tuy nhiên, bóng dáng của việc phân định các hình thức văn bản dù là bộ luật hay văn bản đơn hành thời phong kiến là không thể phủ nhận được và không khó khăn gì để tìm được minh chứng trong hệ thống các văn bản pháp luật đồ sộ thời Hậu Lê.

2. Về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản pháp luật

2.1. Pháp luật thời Hậu Lê

Nhằm đề cao tính chịu trách nhiệm trực tiếp của chủ thể ban hành văn bản, thời Vua Lê Thánh Tông đã ghi nhận “các bản tâu và đề của nha môn trong ngoài thì chính viên quan phụ trách phải ký tên, không được sai lại viên thư tả viết tên hộ”[22]. Theo đó, ngoại trừ Quốc triều hình luật không ghi chính xác tác giả, niên đại[23], còn lại tất cả các văn bản pháp luật nêu trên đều xác định rõ chủ thể, thời gian ban hành. Thể thức văn bản triều Hậu Lê gồm các yếu tố cơ bản như: Quốc hiệu; niên hiệu; ngày, tháng ban hành; tên chủ thể có thẩm quyền, dấu đóng trên văn bản, họ tên chức vụ và chữ ký của người soạn thảo…

2.2. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Trước khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 được thông qua, vấn đề về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật đã được quan tâm và thể chế hóa. Điều này được thể hiện thông qua việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết số 1139/2007/UBTVQH11 ngày 03/7/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quy chế về kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Thông tư số 25/2011/TT-BTP ngày 27/12/2011 của Bộ Tư pháp quy định về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và văn bản quy phạm pháp luật liên tịch… Không chỉ đối với các văn bản quy phạm pháp luật mà kể cả đối với văn bản hành chính, các cơ quan nhà nước cũng đã ban hành các văn bản về thể thức và kỹ thuật như Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính… Sau khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 được thông qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày như Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14 ngày 14/3/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước; Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật…

Tóm lại, trong thời kỳ phong kiến ở nước ta với 04 bộ luật thành văn gồm Hình thư của nhà Lý, Hình luật của nhà Trần, Quốc triều hình luật của nhà Lê và Hoàng Việt luật lệ của nhà Nguyễn đã để lại cho thế hệ sau nguồn tư liệu tham khảo về pháp luật. Có thể khẳng định rằng, tuy được ban hành cách đây hơn 500 năm nhưng quy định của triều Hậu Lê về phân loại, thể thức và kỹ thuật xây dựng văn bản pháp luật mang nhiều đặc điểm của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện nay. Thay cho lời kết, tác giả hoàn toàn đồng ý với nhận định của GS.TS. Trần Ngọc Đường, Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội rằng “Quốc triều hình luật là niềm tự hào về một trong những thành tựu đặc sắc nhất của nền văn hóa pháp lý Việt Nam trong thời kỳ phong kiến”.

Trần Thị Thu Hằng

Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp


[1] Triều Hậu Lê (1428 - 1788) trị vì 360 năm, gồm 27 đời vua.

[2] Quốc triều hình luật gồm 06 quyển, 13 chương, 722 điều, do Vua Lê Thánh Tông ban hành năm 1483.

[3] Quốc triều khám tụng điều lệ gồm 31 lệ (điều), do Vua Lê Hiển Tông ban hành năm 1777.

[4] Lê triều quan chế do Vua Lê Thánh Tông ban hành năm 1471.

[5] Luật Thư gồm 06 quyển, do Nguyễn Trãi biên soạn từ năm 1440 - 1442.

[6] Bộ Tư pháp, Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa và Nxb. Tư pháp, năm 2006, tr. 73.

[7] Lê Thị Khánh Ly, Nghiên cứu văn hóa, Số 01/2010, http://csnd.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/733/Quoc-trieu-Hinh-luat-dinh-cao-cua-thanh-tuu-luat-phap-Viet-Nam-thoi-phong-kien.

[8] Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, năm 2015, tr. 247.

[9] Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Văn học, Hà Nội, năm 2009, tr. 678.

[10] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 668.

[11] Nguyễn Minh Tuấn & Mai Văn Thắng, Nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, tr. 93.

[12] Vũ Thị Phụng, Văn bản quản lý nhà nước thời Nguyễn (1082 - 1884), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 84.

[13] Đại Việt sử ký toàn thư, TLđd, tr. 699.

[14] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 722.

[15] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 650.

[16] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 645.

[17] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 514.

[18] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 570.

[19] Vũ Thị Phụng, Tlđd, tr. 112.

[20] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 614.

[21] Điều 15 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[22] Đại Việt sử ký toàn thư, Tlđd, tr. 695.

[23] Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Tlđd, tr. 196.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: